0060.0020

24/12/15
0060.0020
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Quan thành [Gia Định] lại tâu : “Việc thanh tra ở cục Tạo tác thuộc thành ấy đã xong, xin chọn phái bát cửu phẩm thư lại ở Công phòng thay làm chức Chủ thủ”. Vua hạ sắc : “Từ nay về sau những người làm việc ở cục ấy, tự chức Tư vụ trở lên hễ ai đã mãn 3 năm, gặp khoá thanh tra, cũng theo lệ ấy mà thay đổi”.


    Cho biền binh cơ Tĩnh biên đồn Uy Viễn thành Gia Định, được cấp lương bổng (từ Phó quản cơ đến Suất đội, chiếu theo phẩm chi lương, binh lĩnh hiện đương tại ban, mỗi người mỗi tháng lương được 1 phương gạo).


    Trấn Bình Hoà bị phát bệnh dịch.


    Sai Hình bộ Thượng thư Hoàng Kim Xán kiêm quản Khâm thiên giám.


    Lại tuyển lính cơ Bắc Thành (Sơn Nam, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh và phủ Hoài Đức).


    Vua dụ Nội các : “Lính để giữ nước quý nhất là ở chỗ tinh nhuệ. Từ trước đến nay, việc kén chọn lính cơ có quy tắc sẵn. Nhưng từ lúc tuyển lính đến nay, gần 3 năm, dân số chỗ tăng nhiều, có chỗ giảm sút tình hình xưa nay khác nhau, cần phải chọn điểm lại, cho không có sự nặng nhẹ chênh lệch. Nay hộ khẩu lấy sổ làm bằng; binh lính có quan hệ với dân, một phen xếp đặt lại cho thoả đáng cốt là để dân tình được yên, không đến nỗi sinh tệ. Vậy hạ lệnh cho sáu bộ chọn trong số từ Lang trung đến Tư vụ, lấy một cán viên, một bát cửu phẩm thư lại và 4 người vị nhập lưu thư thủ ((1) Vị nhập lưu thư thủ : người viết chữ tốt nhưng chưa vào chính ngạch, chưa có phẩm.) cho chuyên làm việc này. Đường quan chia làm 2 ban, mỗi ban 3 người luân phiên đến nhà ở bên hữu triều đường căn cứ vào số đinh năm Minh Mệnh thứ 11 (1830) đối chiếu với ngạch lính năm nay theo lệ 7 người lấy một, hội đồng với nhau mà lựa chấm xem xã thôn nào phải lấy mấy lính để đương ban đều đề bằng chữ son và theo từng ngày, đăng ký vào sổ lưu chiểu. Đây là phép lớn xây dựng quân đội, cốt làm cho việc tuyển lính tuỳ theo chỗ đông người hoặc ít người mà tăng, giảm đều được thích đáng công bình. Đến như thừa hay thiếu, đáng phải san bổ như thế nào, cũng nên châm chước mà làm sao cho thoả đáng tốt đẹp. Công việc xong làm sổ sách tâu lên, đợi chỉ thi hành. Quan sáu bộ bèn châm chước nghĩ đặt ra các điều khoản nên làm, liệt kê đầy đủ tâu lên :


    (1. Xã, thôn nào nguyên số dân 7 người đã chịu một suất lính, bây giờ số dân chỉ còn 1, 2 người hoặc không còn người nào nữa, mà người lính của xã thôn ấy hiện còn tại ngũ, thì xin cho cứ lưu ngũ. Ngoài ra lấy đấy mà suy.


    2. Xã, thôn nào nguyên số dân 70 người chịu 10 suất lính, nay số lính thiếu mất 5 người : a/ Nếu thiếu vào mờ sáng ngày mồng một tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 1 [1820] về trước thì xin xét xem dân số hiện nay có 30 người trở xuống sẽ được miễn, không phải điền vào nữa. Quá số ấy từ 1 đến 6, 7 người đều phải điền 1 lính. Số trước còn thiếu bao nhiêu sẽ được miễn. b/ Nếu thiếu vào ngày mồng một tháng giêng năm Minh Mệnh thứ 1 [1820] về sau, cho đến ngày có chỉ dụ năm nay, đã có ơn trên chuẩn cho kỳ hạn điền vào, nay hoặc hết hạn hay chưa hết hạn, cũng xin cứ theo số dân hiện nay có 30 người trở xuống không phải điền thế, quá số ấy từ 1 đến 6, 7 người cũng phải chịu 1 tên lính. Còn số thiếu trước vẫn được miễn. Ngoài ra lấy đấy mà suy. Nếu xã thôn nào không có ơn trên chuẩn cho kỳ hạn, đều chiếu số thiếu, điền cho đủ.


    3. Xã, thôn nào nguyên số dân chỉ có 1, 2 người nay tăng lên 5, 6 người và xã thôn nào nguyên số dân có 5, 6 người nay cũng vẫn cứ 5, 6 người, tuy chưa đủ lệ 7 người, nhưng xưa nay chưa ra lính bao giờ thì nay mỗi xã thôn ấy xin chọn lấy một lính. Duy xã thôn nào số dân hiện nay chỉ có 4 người trở xuống thì miễn.


    4. Xã thôn nào nguyên số dân chỉ có 1, 2 người, nay tăng đến 7 người trở lên và những xã nguyên dân số cũ 7 người chịu một lính, nay hiện số cả binh cả dân cộng tăng đến 13 người trở lên, đều chiếu theo lệ 7 đinh 1 lính mà chọn lấy số lính, gián hoặc có số thừa 6 người xin lấy thêm 1 lính. Nếu chọn đã được đến 7 lính mà còn số thừa, đều chiểu theo lệ 7 đinh một lính mà chấm, không chọn lấy vào số thừa 6 người ấy nữa.


    5. Xã thôn nào nguyên đã có ngạch lính sau dân xiêu tán đã thành sự thực nay mới về làng chỉ còn được 6 người thì chọn lấy 1 lính ; 13 người thì chọn lấy 2 lính. Ngoài ra lấy đấy mà suy. Nếu đã đủ số lính khi trước rồi mà còn có số thừa thì nên chiểu lệ 7 đinh 1 lính mà làm không lấy lính vào số thừa 6 người nữa.


    6. Xã thôn nào đã phải gánh số giản binh rồi, lại phải chịu cảlính trạm hoặc lính lệ phủ huyện nếu còn thiếu cứ số dân trong sổ đinh trước hết chiếu lệ lấy đủ số giản binh rồi mới lấy đến lính trạm lính lệ. Nếu giản binh đã đủ, mà lính trạm, lính lệ còn thiếu, thì chiếu dân số trong sổ đinh, trừ số đã gánh về giản binh đi, còn thừa mới tính lấy lính trạm, lính lệ cho đủ lệ. Nếu lính trạm lính lệ đã đủ, mà số lính giản còn thiếu thì cứ số thiếu ở vào mờ sáng ngày nguyên đán trở về trước hoặc ngày nguyên đán trở về sau, y theo khoản [2] nói trên mà làm. Điền bổ đã xong mà dân số còn thừa, xin đều cứ chiếu lệ 7 đinh 1 lính mà tính. Xã thôn nào toàn số chỉ là lính trạm, lính lệ, mà không phải gánh số giản binh nếu thiếu, nên cứ số dân trong sổ đinh mà điền, còn thừa cũng chiểu lệ 7 đinh 1 lính.


    7. Xã thôn nào nguyên có cả giản binh và lính thợ (giản tượng) cứ dân số trong sổ đinh, lấy số 5 đinh, 7 đinh mà trừ, còn thừa 6 người, lấy 1 lính ; thừa 13 người lấy 2 lính. Ngoài ra lấy đấy mà suy. Nếu số lính đã được 7 người rồi mà số dân còn thừa thì lại chiếu lệ 7 đinh một lính mà chấm. Xã thôn nào chỉ gánh số lính thợ, vẫn cứ lấy lệ 5 đinh mà chiết trừ, số dân còn thừa, cũng chiểu lệ này mà chấm lấy giản binh.


    8. Xã thôn nào nguyên đã gánh số lính coi kho 10 người, mà đã rút về bổ làm lính cơ, số lính ấy còn đủ cả thì cứ cho tại ngũ, gián hoặc có thiếu từ 1 đến 3 người, tính ra chưa quá lệ 7 đinh, thì thôi không phải điền nữa. Nếu thiếu đến 4 người, thì phải điền 1 người ; thiếu 5 người, phải điền 2 người ; thiếu 6 người, phải điền 3 người cho đủ số 7 lính mới thôi. Ngoài ra lấy đấy mà suy. Như số lính vẫn đủ 10 tên, hoặc thiếu 1, 2 tên thì vẫn chiếu dân số ở sổ đinh, theo lệ 5 đinh mà chiết trừ. Nếu thiếu đến 3 tên, phải chiểu lệ 7 đinh mà trừ. Nếu còn thừa đến 7 người trở lên chiểu lệ 7 đinh 1 lính mà thêm. Xã thôn nào số lính nguyên rút về chưa đầy 7 tên, chiếu theo số dân trong sổ đinh nếu số lính đủ thì theo lệ 5 đinh, số lính thiếu thì theo lệ 7 đinh mà chiết trừ, số còn thừa, nếu 6 người thì lấy 1 lính, nếu 13 người thì lấy 2 lính. Khi số lính đã đủ 7 người thì lại theo lệ 7 đinh 1 lính mà làm.


    9. Các phường, vạn thuỷ cơ nộp thuế gọi là thuỷ sản, nhưng thực ra là nộp bằng tiền. Có chỗ đã không phải nộp thuế, lại cũng không ra lính. Đáng lẽ cũng phải nhất luật chấm lính cả. Nhưng bên trong hoặc có tình hình gì đặc biệt, khó phỏng đoán được. Vậy xin giao cho quan thành tào ((1) Nguyên văn là “Thành tào thần” tức là quan phụ trách từng tào (như Binh tào, Hình tào...) ở Bắc Thành.) sức hỏi quan địa phương sở tại xem nên xếp đặt thế nào, bàn định cho thoả đáng, tâu lên để sẽ làm sau).


    Lại phủ Hoài Đức thuộc Bắc Thành, trước đây chưa tuyển lính. Nay xin cũng làm theo lệ, và cho xin lệ thuộc về trấn Sơn Nam là nơi cận tiện để sung bổ vào sổ giản binh còn thiếu. Vua chuẩn y lời bàn, và thưởng bạc lạng cho đường quan cùng nhân viên chuyên trách việc này có thứ bậc khác nhau.


    Chuẩn định : từ nay, phàm những viên chức văn, võ bị lỗi, có chỉ cách hay truất làm lính để gắng sức làm việc chuộc tội đều được mỗi tháng cấp cho 1 phương gạo. Việc này đặt làm lệ mãi.


    Quản thị vệ Vũ Văn Giải và Nguyễn Trọng Tính đôn đốc thợ Vũ khố sửa chữa hơn 900 cây súng điểu thương máy đá cũ, phần nhiều làm lạo thảo, không kiên cố.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Vũ Văn Giải, Nguyễn Trọng Tính đều là cựu thần từ lúc Trẫm chưa lên ngôi, lần lượt cất nhắc đến chức ngày nay. Lúc mới còn siêng năng, gần đây trễ nải, không biết chỉnh đốn lại bọn lính thị vệ và không làm xong công việc đã giao cho. Phạt về tội “không làm nổi chức vụ” tưởng cũng là nhẹ. Vậy, Vũ Văn Giải thì cách chức, Nguyễn Trọng Tính thì giáng 4 cấp và đều lột mũ áo nhưng cho lưu lại để xem hiệu quả sau này. Nếu biết hối hận, cảm kích mà hăng hái làm việc sẽ liệu rộng ban ơn cho ; nếu cứ điềm nhiên như nước chảy xuôi, cam tâm làm cây gỗ mục, thì Trẫm chỉ biết phép công đâu còn nghĩ đến tình riêng được, không những bãi bỏ cho về, có khi còn đem giết đi nữa. Phải kính cẩn nghe lời”.


    Chẳng bao lâu, lại gia ân cho : Vũ Văn Giải đổi làm giáng 2 cấp, Nguyễn Trọng Tính đổi làm giáng 1 cấp, đều trả lại mũ áo.


    Dựng công sảnh ở kho gỗ.


    Tặng Quản cơ Lê Văn Phong làm Thần sách Phó vệ uý. Phong là bề tôi cũ từ khi vua chưa lên ngôi, trước đây vì già yếu về hưu, đến bây giờ chết, đặc cách phong tặng cho chức ấy và thưởng thêm 100 quan tiền, 2 cây gấm Tống.


    Tha thuế thân thuế dao năm nay cho lính đồn điền và lính Thanh Châu tam đội ở đồn điền Gia Định.


    Lệ trước, lính đồn điền mỗi năm mỗi người phải nộp 1 quan 5 tiền thuế thân, 2 hộc thóc thuế dao. Lính Thanh Châu tam đội mỗi người 10 quan tiền thuế dao. Tháng xuân thì đi điểm duyệt rồi lại cho về. Gần đây, nhân có việc ở ngoài biên mới gọi tập họp để thao diễn và phải lên núi đốn gỗ làm ván. Quan thành [Gia Định] nhân thế lấy cớ xin tha thuế cho họ nên vua cho.


    Hiệp trấn Quảng Nam Phan Thanh Giản từ đầu nguồn Chiên Đàn đi tiễu giặc Man, chia uỷ : Vệ uý Lê Văn Thuỵ cai quản hơn 100 tượng binh và 10 thớt voi đóng ở đồn Viên Thuỷ (thuộc đất man Tà Vang ; Phó vệ uý Phạm Văn Tường làm tiền đạo, Thanh Giản đi thứ hai ; Phó vệ uý Lê Văn Hiếu đi thứ ba ; mỗi người đem hơn 100 biền binh tiến đến xứ Xa Thuỷ đóng lại. Đạo quân Phạm Văn Tường đi trước lên núi Xả Bá (đường này thông thẳng với các sách Tụ Nặc, ác Man), gặp phục binh giặc vụt đến bao vây, Tường đánh thua, bị bắt. (Sau đại binh đến, sai người đi phủ dụ, người Man lại đưa Tường về trả). Quản cơ cơ Quảng Nam Trần Kiêm Lịch bị chúng giết chết. Chánh đội trưởng của trấn binh nhị đội Trần Văn Phú cố sức đánh đến chết. Biền binh bị chết trận hơn 40 người. Thanh Giản thấy khí thế quân mình đã bị nao núng lại lo núi, khe hiểm trở xa khơi đường vận lương không tiện, bèn rút quân về đóng ở đồn nguồn Chiên Đàn, dâng sớ xin chịu tội.


    Vua phê bảo : “Không ngờ lũ ngươi hèn nhát như thế đến nỗi làm nống cho giặc, nhụt mất uy thế của mình xem tờ tâu thật là giận đứng tóc gáy”.


    Vua lại bảo bộ Binh : “Quân Man ấy từ trước ở tản mác các thung lũng, nhân lúc sơ hở, chúng lại lén lút đến đánh cướp mà thôi. Nay chúng dám tụ họp kháng cự quan quân, thì đã là hung hăng không sợ hãi gì. Cần phải kịp thời dập tắt ngay. Khiến chúng biết sợ uy vũ nhà vua mới được”.


    Vua bèn sai Thống chế Thần sách Hữu dinh Đoàn Văn Trường tổng lĩnh đại binh kíp đi ngay. Lũ Vệ uý Bùi Công Huyên, Trương Văn Hậu, Phó vệ uý Mai Công Ngôn đều thuộc dưới quyền điều khiển của Trường. Vệ uý Hồ Văn Khuê là Nguyễn Văn Hùng tình nguyện theo đi đánh, vua cũng cho đi. Phan Thanh Giản và Lê Văn Hiếu đều bị cách chức cho sung vào tiền đội để ra sức làm việc chuộc tội. Lê Văn Thuỵ bị cách lưu, cũng cho theo đi thuộc quyền điều khiển.


    Vua dụ Đoàn Văn Trường rằng : “Biền binh cả kinh phái lẫn trấn phái trước sau có đến hàng nghìn hàng trăm. Nên chia làm 10 đội tiến lên. Mỗi đội hơn 100 người, đầu đuôi đội nọ cách đội kia một tầm lên bắn cốt có thể nghe thấy tiếng trống, trông thấy bóng cờ của nhau được, thì giặc không thể dở ngón chặn đường đánh úp được. Một khi gặp chỗ rừng rậm hiểm yếu, giặc có thể ẩn phục được, thì dùng gỗ thước nạp vào súng đại bác mà bắn, lại sai quân tinh nhuệ tiến thẳng đến nơi, lùng bắt thì giặc không dở được cái trò phục kích. Khi đến Xa Thuỷ, lập tức đặt đại đồn, tạm dựng trại quân, để đại binh đóng. Các vùng Viên Thuỷ, Luật Thuỷ cũng đều đặt đồn nhỏ, vận lương đến chứa, chia quân canh giữ, để cho hình thế được liên lạc, cùng viện trợ lẫn cho nhau. Lại đến các sách gần quanh chỗ Phạm Văn Tường thua trận là nơi thủ phạm của ác Man, lập tức đào hang đốt tổ, hết sức tiễu diệt. Lại châm chước định ra giải thưởng, như bắt sống được một thủ lĩnh ác Man, thưởng 20 lạng bạc ; chém được thưởng 10 lạng bạc ; bắt sống được 1 ác phạm thứ nhì thưởng 10 lạng bạc ; chém được thưởng 5 lạng. Bắt sống được 1 tên man, thưởng 3 lạng bạc ; chém được thưởng 2 lạng”. Vua bèn sai tải bạc kho ở trấn đến quân thứ để dự bị phát thưởng. Lại phát hơn 20 tấm gồm các thứ sa, the, đoạn, nhiễu để liệu thưởng cho những viên văn võ nào đánh trận có công. Người mán nào thực lòng đưa đường cũng thưởng ưu hậu.


    Lại dụ Quảng Ngãi chọn lấy một vài viên quản cơ trong cơ Tĩnh man đã am hiểu tính tình người Man và biết cơ nghi tiễu giặc, cho đem 100 lính tinh nhuệ đi theo làm việc quân.


    Sai Thống chế Thần sách Tả dinh Đỗ Quý, Hữu thị lang Hộ bộ Trần Chấn tạm quyền coi việc trấn Quảng Nam.


    Trước kia Phạm Văn Tường bị thua trận, viên quyền coi việc trấn là Hoàng Sĩ Quang được tin báo lập tức sai Phó vệ uý Phạm Hữu Tâm đem 100 biền binh đóng ở đài An Hải đi tiếp ứng, rồi phi tấu việc ấy vào Kinh, lời lẽ nhiều chỗ tỏ ra hoang mang.


    Vua quở rằng : “Ngươi chưa trông thấy mũi mác của giặc mà đã hoảng hốt như thế ; thân làm chức chăn nuôi dân, kiến thức để đâu ?”. Vua bèn sai lũ Quý đi, cho Quang đốc vận lương thực. Quang đến đồn nguồn Chiên Đàn bị ốm. Vua lại sai Chấn thay, kiêm làm cả việc giấy tờ trong quân và dùng Hữu thị lang bộ Hình Hoàng Công Tài quyền coi việc trấn Quảng Nam.


    Đại binh Đoàn Văn Trường tiến đến đồn nguồn Chiên Đàn. Đỗ Quý tâu lên. Vua dụ bộ Binh rằng : “Lũ người Dao ((1) Thực lục in là , đáng phải viết là hoặc .) sao ngu xuẩn kia dám kháng cự trước mặt ta ! Tội không thể tha được. Cũng bởi trước kia Phan Thanh Giản, Lê Văn Hiếu hèn nhát, vô mưu, để đến nỗi giặc hung hăng dòm ngó. Nay nghe thấy đại binh ta tiến đánh hoặc giả nó bỏ sào huyệt trốn tránh trước thì quân ta lại phải tốn công lùng tìm. Vậy hạ lệnh cho Đoàn Văn Trường : khi dụ này đến phải tề chỉnh ngay đội ngũ tiến thẳng đến vùng Xa Thuỷ. Còn những việc bố trí, phòng giữ, mưu cơ hành quân, đã có dụ trước nói kỹ, ngươi phải hết lòng hết sức, hăng hái tiến lên, lấy binh lực của ta mà dẹp, lũ người Lạo ngây ngô ấy có khác gì bóp cái trứng, đốt sợi lông, chớp mắt thành công được. Hơn nữa, trước kia loài Man có nhiều, chưa biết kẻ nào là thuận, kẻ nào là nghịch. Nay các sách Tu Nặc, Tu Trang, Mô Ô, Mường Tra kháng cự quan quân, thì đã rõ ràng chúng là thủ phạm rồi. Vậy quân ta cứ việc tiến theo đường ấy mà giết, không để sót một tên nào. Ngoài ra, có những Man Lạo nào theo giặc cũng cho tru diệt luôn thể.


    Đoàn Văn Trường từ đồn nguồn Chiên Đàn, chỉnh đốn binh và voi, chia làm 5 đồn, tiến phát. Khi qua xứ vùng Oa Thuỷ, giặc Man ẩn phục ở trên núi, ném đá, bắn tên xuống. Quân ta bắn súng lớn, giặc đều chạy trốn. Văn Trường bèn tiến đóng đồn Viên Thuỷ, dâng sớ nói : “Sách Man Tà Vinh ở vùng này vẫn cùng với Man Tu Nặc giúp nhau làm điều ác, kháng cự quan quân. Vậy xin trước hết diệt man Tà Vinh, rồi diệt đến Tu Nặc để cắt hết gốc rễ giặc”. Vua cho là phải. Rồi thấy Hoàng Sĩ Quang đã khỏi bệnh, vua dụ sai mau đến quân thứ Đoàn Văn Trường đốc thúc hộ tống, áp tải các thứ lương thực, quân nhu, gắng sức làm việc chuộc tội.


    Ban cho các trạm Thừa Thiên, Quảng Nam mỗi trạm 30 quan tiền. Vì biên thuỳ có việc, chạy trạm khó nhọc nên cho số tiền ấy (tự trạm Thừa Nông đến trạm Nam Kỳ cộng 10 trạm).


    Cao Bá Phấn người Sơn Tây thuộc Bắc Thành nhà có cái mâm đá ((2) Nguyên văn là “thạch bàn” .) của tổ bảy đời để lại, đem dâng vua, do bộ Lễ tiến lên. Vua xem rồi bảo : “Cái mâm này kiểu làm chất phác lại có khắc chữ và thơ là đồ cổ ; phải cái không đề niên hiệu, không biết là đồ vật thời nào. Ta nghĩ : Người dân không dám giấu làm của quý riêng mà đem dâng cũng là đáng khen. Vậy thưởng cho 5 lạng bạc”.


    Lại có Hoàng Xuân Khiêm, người Nam Định, đem dâng đồ sứ cổ từ năm đời để lại. Vua thưởng cho 3 lạng bạc.


    Nước Hoả Xá sai sứ đến cống (1 đôi ngà voi, 1 chiếc sừng tê). Vua ban vàng lụa, quần áo rồi cho sứ về. Bộ Lễ bàn xin chuẩn định số đồ cống (ngà voi 1 đôi, sừng tê 2 cái), kỳ tiến cống (cứ các năm tý, mão, ngọ, dậu) 3 năm 1 lần, bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 15 [1834]. Còn việc cung cấp ban yến và tặng thưởng thì hơi kém Nam Chưởng và Chân Lạp, nhưng hậu hơn Lạc Biên, Mục Đa Hán. Vua chuẩn y lời bàn.


    Dùng thự Lang trung Hình bộ Đoàn Bá Trinh là Tư nghiệp Quốc tử giám, thăng Giáo thụ Nam Sách là Phạm Gia Lâm lên thự Đốc học Phú Yên.


    Định lại quy thức thành xây gạch ở các phủ huyện. Hạ lệnh cho Giám thành cứ theo kiểu mẫu số trượng, số thước, vẽ thành bản đồ do bộ Công đóng ấn triện vào, rồi đưa đi các địa phương. Từ nay có nơi nào xây thành, đều cho làm theo quy thức mới này.


    Quan Bắc Thành tâu : “Cục Bảo tuyền ((1) Tục gọi Tràng tiền.) thuộc Bắc Thành, địa thế khá rộng, mà việc đúc tiền đã đình chỉ. Xin dỡ tường nhà đi, để làm trường thi Hương năm nay. Về sau cứ đến kỳ thi Hương hay kỳ tuyển lĩnh, đều lấy đấy làm trường sở”. Vua cho làm.


    Bổ Nguyễn Trọng Ngọc, Trần Văn Quán, Nguyễn Đại Phong làm Lang trung Lại bộ, Đặng Văn Bằng làm Lang trung Hộ bộ, Bùi Ngọc Thành làm Lang trung Lễ bộ, Nguyễn Chí Quản làm Lang trung Hình bộ, Phạm Xuân Bích làm Lang trung Công bộ.


    Dùng Hình bộ Viên ngoại lang Hoàng Đăng Hiến làm Hình bộ Lang trung, Hàn lâm viện Thừa chỉ Phạm Đình Hổ làm Thị giảng học sĩ.


    Cho các quan văn từ Tam phẩm trở lên được chức ấm. Con Nguyễn Khoa Minh là Nguyễn Khoa Dục, con Hoàng Kim Xán là Hoàng Kim Thảng, con Lương Tiến Tường là Lương Tiến Trí, con Nguyễn Kim Bảng là Nguyễn Kim Hoà đều ấm thụ quan Chánh thất phẩm. Con Vũ Xuân Cẩn là Vũ Xuân Phúng, con Bùi Phổ là Bùi Tuệ, con Phan Bá Đạt là Phan Bá Quỳ đều ấm thụ quan Chánh bát phẩm. Con Đào Đức Lung là Đào Đức Lâm, con Lê Vạn Công là Lê Vạn Thạch, con Nguyễn Trung Mậu là Nguyễn Trung Ngạn, con Hoàng Văn Diễn là Hoàng Văn Thâm, con Nguyễn Danh Giáp là Nguyễn Trọng Phác đều ấm thụ quan Chánh cửu phẩm. Chuẩn cho đều theo phẩm hàm bổ gá vào hai ty Nội vụ phủ và Vũ khố để theo viên cai quản thừa hành việc công. Con Phan Huy Thực là Phan Huy Vịnh đã đỗ Cử nhân, đợi sang năm thi hội xong sẽ bổ thụ.


    Đặt đường quan báo cùng đường trạm và nhà trạm ở các trấn thuộc Bắc Thành.


    Vua dụ bộ Công rằng : “Bắc Thành thống hạt 11 trấn, từ trước đến nay chỉ có một đường cái quan từ Sơn Nam trở lên bắc đến Nam Quan. Những chỗ khác trấn tiếp giáp nhau, còn nhân đường nhỏ của dân gian mà đi lại cũng vẫn chưa có đường lớn giao thông. Giả sử khi có việc cần cấp, sao khỏi trở ngại chậm trễ được ? Vậy tư cho quan thành căn cứ vào các trấn lỵ, chỗ nào có thể mở đường cái to, khiến cho khi có việc công, tiện thông báo lẫn cho nhau và liên lạc tiếp ứng với nhau để chặn bắt giặc cướp. Lại ngay từ các trấn lỵ hoặc nhân đường mới này, hoặc mở đường khác, xem có thể chạy ngựa trạm đến thẳng kinh đô, thì lập tức sai sở tại xem xét tình thế, liệu chỗ đặt nhà trạm, rồi vẽ thành bản đồ, báo về bộ để tâu lên”. Đến khi các trấn tâu lên, vua sai bộ tư giao quy thức về để thuê nhân công làm. (Đường, lấy mặt đất bằng làm mức, mặt rộng 1 trượng, chân rộng 1 trượng 5 thước, giữa cao 2 thước, hai bên đường đều cao 1 thước. Trạm : Nam Định có 3 trạm : Nam Xá, Nam Hoàng, Nam Đội. Hải Dương có 4 trạm : Đông Mai, Đông Khê, Đông Thượng, Đông Bổng. Sơn Tây có 10 trạm : Sơn Xá, Sơn Đồng, Sơn Quang, Sơn Lâu, Sơn An, Sơn Thanh, Sơn Hình, Sơn Vân, Sơn Xuân, Sơn Hoà. Bắc Ninh có 1 trạm Bắc Đông. Thái Nguyên có 1 trạm Thái Long. Lạng Sơn có 6 trạm : Lạng Uyên, Lạng Chung, Lạng Dù, Lạng Cẩm, Lạng Chỉ, Lạng Hoằng. Cao Bằng có 2 trạm : Cao Phước, Cao Nhã. Nhà trạm : mỗi nơi một nhà trạm 3 gian 2 chái, tre, gỗ, cỏ tranh tuỳ dùng. Lính trạm, mỗi trạm 30 người. Duy Sơn Tây, từ Sơn Lâu đến Sơn Hoà 7 trạm, mỗi trạm 20 người. Trạm Nam Xá ở Nam Định sau đổi là trạm An Xá, cho lệ thuộc Hưng Yên).


    Đổi Thanh Hoa cơ Nhất đội làm Thanh Hoa đội, tước bỏ tên “cơ” đi.


    Tham tri hưu trí Nguyễn Hữu Thận chết. Truy tặng Thượng thư, thưởng 200 quan tiền. Cho phép con trai Thận thự Binh bộ Thị lang lĩnh Bắc Thành Binh tào là Nguyễn Hữu Gia về quê lo việc tang. Dùng thự Hiệp trấn Sơn Nam Nguyễn Văn Mưu tạm quyền làm việc Binh tào Bắc Thành. Hình tào Lang trung Nguyễn Sĩ Bảng tạm quyền làm việc trấn Sơn Nam.


    Sai pháo thủ Nguyễn Cửu Nghị chế hoả cầu (có hoả cầu nghìn hạt châu, hoả cầu trăm mắt, hoả cầu sấm sét, hoả cầu đạn lửa) cho đem thí nghiệm, rất tinh xảo. Thưởng cho 10 lạng bạc.


    Sửa và xây tường bao quanh miếu đế vương các triều đại (mặt sau miếu xây rộng thêm tường gạch. Mặt trước phía ngoài cửa miếu, đắp thêm 2 cấp, xung quanh xây tường gạch, dựng cổng ngõ ; ngoài cổng đào một cái hồ.


    Bổ Nguyễn Đức Nhuận làm Hiệp trấn Bắc Ninh.











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxxv



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Tân mão, Minh Mệnh năm thứ 12 [1831], mùa thu, tháng 8. Thống chế Đoàn Văn Trường đóng quân ở đồn Viên Thuỷ, chia phái quân đi lùng bắt man Tà Vang, Đảng chúng đã bỏ nhà trốn đi từ trước. Trường sai đốt cả nhà đi, rồi tiến quân đến đồn Xa Thuỷ. Quân đi qua những chỗ đường hiểm đều có giặc ẩn phục, nhưng động nghe tiếng súng chúng liền sợ chạy. Trường đem tình hình ấy tâu lên, và nói : tự đồn Chiên Đàn đến đồn Xa Thuỷ đường đi bộ 2 ngày, mà quân ta đi mất 7 ngày, vì dọc đường gặp nhiều ngăn trở, nên chậm trễ.


    Vua phê bảo : “Việc binh cốt phải quân nhanh chóng, như tiếng sấm không kịp bịt tai, thế mà ngươi quá thận trọng hành quân giữ gìn từng bước, thực làm lỡ cả cơ hội ! Nay nên tiến quân đi nhanh, quét hang, phá tổ, giết hết dòng giống ác man, để tỏ phép nước, thì mới là xong việc. Còn như các dụ chỉ trước và sau đều là những lời ân cần tha thiết, nếu biết thể theo ý ta, thì cũng có thể nắm lấy mà làm được. Còn ngoài ra kể về sự lý, ở xa khó mà ức đoán, nói ra có lẽ lại sinh cản trở. Vậy người phải suy nghĩ cho kỹ, chớ để phụ việc đã uỷ thác là hơn. Ngoài ra còn biết nói gì nữa”.


    Thế rồi Trường chia quân làm 3 đạo tiến đến núi Xả Bá, đánh phá các sách Tu Nặc, Tu Trang, Mô Ô, quân Man đều bỏ súng nỏ chạy ẩn vào trong rừng rậm, Trường tung quân đi lùng bắt, đốt hết cả nhà cửa, kho tàng, rồi đem tình trạng ấy tâu lên.


    Vua dụ : “Lần lượt xem tờ tâu về tình hình đánh giặc, ta đã rõ hết cả rồi. Vì giặc sợ oai quân ta, mỗi một khi giáp trận ta vừa bắn súng, chúng đã chạy trốn trước. Hơn nữa, giặc vốn quen vượt núi, trèo đèo, luồn rừng, ẩn hang. Lúc quân ta tiến đến sào huyện của chúng, dẫu đốt nhà cửa, phá tài sản, nhưng chúng đã trốn xa, cho nên chưa làm được một trận chém giết lớn. Nhân thế ta nghĩ : binh bất yếm trá, làm việc có lúc kinh, lúc quyền, lũ người nên trổ hết mưu kế, tuỳ cơ mà đánh bắt giặc, hoặc tính biết đường giặc tất phải đi qua thì trước lúc gà gáy, tuyển lấy vài trăm kiện nhi chia làm 3 toán, phục ở hai bên đường ; lại cho 50, 60 người đi thong thả giả đi mở đường hay vận lương hễ gặp giặc thì bỏ chạy, nhử giặc đến chỗ mình phục binh sẵn. Giặc theo đến đấy, quân ta vùng dậy thì giặc không có đường chạy. Hoặc khi giặc đến gần sát trại quân ta thì ta chia quân thành hai đường tả hữu quành ra đằng sau giặc, còn lính ở trong trại thì bỏ trại rút ra phía sau. Giặc tất tranh nhau xô vào trại. Bấy giờ quân ta 3 mặt ập lại bao vây, chém cửa mà vào giặc không còn sót một mống. Hoặc bỏ thuốc độc vào cơm, rượu, cá, thịt phát lính chia nhau mang đến chỗ rừng rậm, giả làm thức ăn còn thừa. Giặc đói tìm ăn vớ được khó lòng phân biệt, hễ ăn phải độc là chết. Hoặc những nơi ruộng khoai ruộng lúa giặc vẫn nhờ đến cứu đói, ta cho đào bới hết sạch những chỗ gần đấy rồi lưu một vài toán quân chia ra phục ở hai bên tả hữu chỗ sào huyệt giặc. Giặc thấy không có người, đói thì ra tìm kiếm thức ăn, thế là sa vào vòng vây của ta. Hoặc sai toán quân đi trước giả cách rút lui về độ nửa ngày hay vài mươi dặm đường, đặt sẵn 3 toán quân mai phục. Giặc ngờ quân ta hết lương, rút về, thời nó đuổi theo sau, gặp chỗ mai phục, giặc sẽ là cá trong nồi cả. Hoặc phái người Man quen thuộc của mình đến doạ dẫm bọn Man sai chúng gấp tìm bắt thủ phạm hoặc đến giập đầu trước cửa quân thì búa rìu còn có thể khoan dung được, chứ nếu cố ý chống cự không những ngày nay khó tránh khỏi cái vạ phá tổ, tuyệt nòi, mà sau này còn đánh giết nữa, lại không cho ai đến đổi chác muối và nồi, thì lũ Man Lạo các người sẽ phiêu lưu mãi mãi, cuối cùng rồi đói chết rấp cả khe ngòi, bèn lấy đâu mà kháng cự với quan quân được ? Lấy những lời lẽ ấy mà hiểu dụ, có thể khiến bọn giặc quay đầu lại với ta. Đấy là những điều ta nhân nghĩ ra được, vậy dụ cho các ngươi thể ý mà làm”.


    Rồi Trường lại tiến đánh sách Mường Tra, trước sau đi đến 27 sách làm cho sào huyệt của giặc đều sạch không cả, bèn sớ tâu lên. Vua nghĩ địa phương ấy lam chướng nước độc, không tiện đóng quân lâu, sai rút quân về Quảng Nam, cho ăn tiệc một bữa, xem chèo hát một ngày. Biền binh đều được thưởng thêm một tháng lương. Những người ốm chết, là binh lính, cho mỗi người 2 lạng bạc, dân phu mỗi người 1 lạng. Ai bị thương nặng, cho mỗi người 1 lạng bạc. Những dân ở nguồn Chiên Đàn trước bị ác man quấy nhiễu thì đem tiền phát chẩn cho.
  • Chia sẻ trang này