0060.0021

25/12/15
0060.0021
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Triệu Đỗ Quý và Trần Chấn về Kinh cung chức. Hoàng Công Tài vẫn cho lưu lại làm việc trấn Quảng Nam. Những người theo đi làm việc chuộc tội là Hoàng Sĩ Quang, Phan Thanh Giản và Lê Văn Hiếu đều cho theo Đoàn Văn Trường dẫn về Kinh để đợi chỉ.


    Sai Phó vệ uý ở Thần sách Ban trực Tiền vệ Trần Văn Hùng đem vệ binh đóng giữ đài An Hải, cho Phạm Hữu Tâm về Kinh cung chức như cũ.


    Sai đình thần chước lượng bàn định về công hoặc tội của quan quân đi tiễu giặc Man. Bên võ ban cho rằng : “Lũ Đoàn Văn Trường, trận này chém bắt giặc không được mấy, mà quân lương cũng tốn kém không nên bàn thưởng. Bên văn ban, lũ Hoàng Kim Xán cho rằng lũ Trường tuy dẫu không có công trạng, nhưng trèo đèo, lội suối, khó nhọc cũng đáng thương, xin đều cho thưởng kỷ lục 1 thứ. Còn như bọn Phan Thanh Giản, Lê Văn Hiếu, Phạm Văn Tường làm hỏng việc, đều xin chiếu luật nghị tội. Lời bàn ấy dâng lên, vua dụ bộ Binh rằng : “Các quan văn võ đi trận ấy từ Đoàn Văn Trường trở xuống, phụng mệnh đi đánh dẹp, quân giỏi, lương nhiều, mà không chém được thủ cấp, bắt được tướng giặc, trừng trị giết chóc giặc Man thật nặng, bàn về quân chính như thế sao đủ nói là có công ? Nhưng nghĩ: trên đường tiến quân núi non hiểm trở, huống chi quân Man Lạo, chẳng khác gì chim muông, xuyên rừng, ẩn hang, chưa dễ đã lùng bắt được. Mà quan quân ta thì đã lâu ngày xông pha lam chướng, trên mù dưới ướt cũng khó nhọc. Vậy từ Đoàn Văn Trường, Hồ Văn Khuê, Trần Chấn, Trương Văn Hậu, Bùi Công Huyên, Trần Văn Hùng, Phạm Hữu Tâm, Mai Công Ngôn, Nguyễn Văn Giao đến bọn suất đội, đều gia ơn thưởng kỷ lục một thứ. Lũ Phan Thanh Giản, kẻ thì khinh địch, hỏng việc, kẻ thì lui trận, cầu sống, đáng phải khép vào tội nặng, nhưng nghĩ Phan Thanh Giản là văn quan, chưa quen việc quân, tướng tá đi theo nhiều người hèn kém, đến nỗi lầm lỡ việc quân cơ thì cũng khó trách cứ vào một mình Giản được. Lê Văn Hiếu làm việc đã lâu ngày tuổi già, sức yếu khó kham, sai khiến. Phạm Văn Tường đã là một tướng nhỏ lại không quân cứu việc đến lúc lầm đường bị bắt dù có muốn tự tử cũng không làm sao được. Xét tình, định tội, cũng đáng khoan cho. Vậy Phan Thanh Giản cho cách chức, nhưng được cố sức làm việc dưới quyền bộ để chuộc tội. Lê Văn Hiếu cấp cho hàm Đội trưởng Chánh thất phẩm, bắt về hưu trí. Phạm Văn Tường giáng xuống Đội trưởng, phát đi đồn nguồn Chiên Đàn để cố sức làm việc chuộc tội. Hoàng Sĩ Quang làm việc này ít ngày, tâu báo hoang mang, rồi bị ốm ngay, xét ra không phải là ốm giả, sau lại xuất lực đốc vận quân lương không đến nỗi lỡ việc cũng có thể đền bù chút ít lỗi trước thì cho giáng bổ, dùng vào chức Viên ngoại lang trong sáu bộ. Lê Văn Thuỵ đương lúc thất trận, vì đường xa, không được biết còn có thể chối tội được, thì cho giáng 4 cấp nhưng được lưu dùng. Phạm Văn Điển theo việc quân từ lúc trẻ tuổi có công lao cũ kể cũng đáng thương, cho khôi phục làm Thành thủ uý. Nguyễn Kim Trợ, giáng làm Đội trưởng. Tống Viết Bình gặp giặc chạy trước phải phạt trượng, cách chức, bắt làm lính”.


    Chánh đội trưởng chết trận là Trần Văn Phú, đương trường đánh giặc liều chết bỏ mình, thì tặng phong hàm Quản cơ Chánh tứ phẩm, thưởng thêm 50 lạng bạc. Trần Kiêm Lịch chống giặc, bỏ mình, xét ra cũng là chết về việc nước thì tặng phong hàm Phó vệ uý, Tòng tam phẩm, thưởng thêm 30 lạng bạc. Đội trưởng Hồ Văn Cứ, tặng hàm Chánh đội trưởng, Chánh lục phẩm, thưởng cho 10 lạng bạc.


    Lại lập đền thờ ở đồn nguồn Chiên Đàn, tự Trần Văn Phú trở xuống đến các binh lính chết trận, đều cho tế một tuần. Có Cai đội giáo dưỡng Hồ Văn Đạo nhân ngã nước ốm chết, quan trấn Quảng Nam tâu lên, đặc cách tặng hàm Phó quản cơ Tòng tứ phẩm, cho chiểu hàm cấp tiền tuất.


    Mới chia định phủ, huyện châu các địa phương làm 4 hạng khuyết ((1) Khuyết : thiếu quan trị nhiệm.) : 1. Tối yếu khuyết ((2) Khuyết ở nơi tối quan trọng.), 2. Yếu khuyết ((3) Khuyết ở nơi quan trọng.), 3. Trung khuyết ((4) Khuyết ở nơi công việc thường. ), 4. Giản khuyết ((5) Khuyết ở nơi ít việc.).


    Trước đây, vua sai bộ Lại bàn kỹ xét tình trạng công việc của phủ, huyện châu, chỗ nào xung yếu, chỗ nào bận rộn, chỗ nào vất vả, chỗ nào khó khăn. Bộ thần tâu nói : xét theo điển lệ nhà Thanh, thì phủ huyện chia làm 4 hạng khuyết : xung yếu, bận rộn, vất vả, khó khăn nhưng không kể rõ thực trạng như thế nào. Nay xin cứ tình hình công việc phủ huyện có giống cái nghĩa xung yếu, bận rộn, vất vả khó khăn nhất nhất tóm tắt lại mà trình bày đại lược như sau :


    Một là nơi xung yếu :


    1. Những chỗ phụ cận kinh thành, trấn, đạo, sai dịch tần phiền bận rộn.


    2. Những chỗ đô hội xe thuyền tụ họp nhân vật huyên náo phức tạp, hay sinh ra tranh cãi đánh nhau và trộm cắp.


    3. Những nơi ven núi, ven biển, có đất hiểm trở, có thể làm căn cứ, giặc cướp thường hay ẩn hiện cướp bóc dân cư.


    4. Những nơi tiếp giáp trấn khác hoặc các trại man hay có giặc cướp vượt bờ cõi, sang quấy nhiễu.


    5. Đất liền đường cái quan, có nhiều cầu cống, công văn, công hoá phải tải đi, cũng là đường sứ dịch phải đi qua ; phàm những chỗ quan yếu qua lại, phải gia tâm đề phòng bảo vệ.


    6. Chỗ có đê công, quan hệ đến lợi hay hại của nhà nông, gặp có mưa lụt, cần phải phòng bị trước.


    Hai là nơi bận rộn.


    1. Đất rộng, người nhiều, số binh lương gấp bội phải đốc thúc nhiều.


    2. Thưa kiện nhiều, văn án bận, phải tra hỏi khám xét luôn.


    Ba là nơi vất vả.


    1. Đất xấu lắm sỏi đá hoặc chua, hoặc mặn, hằng năm cấy nhiều gặt ít, hoa lợi cũng kém.


    2. Đất khô khan hoặc thấp ướt, hơi nắng hơi lụt đã bị tổn hại.


    3. Dân xã nhiều người xiên tán, hộ khẩu giảm sút, thuế khoá sưu dịch vì thế không đóng góp được.


    Bốn là nơi khó khăn.


    1. Xưa nay nhiều những kẻ du thủ du thực, không chịu làm ăn lại chứa chấp tụ họp côn đồ, cướp bóc bừa bãi, sinh trộm cướp nhiều.


    2. Dân nhiều kẻ điêu toa ngoan ngạnh, lại dịch nhiều kẻ xảo trá, doạ nạt thường dân, lập ra bè đảng cùng hại lẫn nhau, đến nỗi xảy ra nhiều án mạng.


    3. Có nhiều cường hào tạ sự chia nhau ăn cho béo, lại khéo lo toan được lọt lưới, đến nỗi lính trốn thuế thiếu, khó đóng góp cho đủ được.


    Phàm phủ huyện châu nào có đủ 4 điều nói trên là “tối yếu khuyết” kiêm 3 điều ấy là “yếu khuyết”, kiêm 2 điều ấy là “trung khuyết”, chỉ có một hay không có điều nào thì là “giản khuyết”.


    Đình thần bàn lại, cho rằng : Địa lý nước ta, lấy biển làm dải áo, lấy núi làm vạt áo, địa thế trọng yếu và hiểm trở, các trấn hùng mạnh tiếp giáp nhau, đường cái thông đồng từ nam đến bắc, một dải núi liền, có nhiều Man Lạo cùng ở, nhưng đều kính cẩn quy thuận. Trong nước trên đường chạy trạm, cầu cống liền nhau. Gián hoặc có những nơi đất tuy hiểm trở tiếp giới với nước láng giềng, nhưng nhân dân tài sản đều được yên ổn vô sự. Nếu nhất thiết cứ lấy cớ ven núi, ven biển hoặc giáp trại Man Lạo và có đường cái quan mà nói thì không mấy phủ huyện không ở vào lệ ấy. Vậy nếu kể vào hạng “xung yếu” thì phải là : “ven biển, ven núi, có chỗ hiểm trở có thể dựa làm căn cứ, giặc cướp ẩn hiện cướp bóc dân cư, khó nhọc trong việc đánh bắt ; tiếp giáp với các hạt khác và các trại Man Lạo, giặc cướp vượt bờ cõi, sang quấy nhiễu” chế ngự khó nhọc ; “đất có đường cái quan, có nhiều cầu cống”, tu bổ mệt nhọc, có công văn, công hoá chuyển đệ và “đường sứ dịch đi quan” ; có chỗ quan yếu, cần phải đốc thúc dân phu đài đệ và đề phòng bảo vệ thì mới có thể gọi là nơi “xung yếu”. Nếu không như thế thì không thuộc lệ này. Còn nếu kể vào hạng “khó khăn” thì phải là “dân nhiều kẻ điêu ngoa ngoan ngạnh, lại dịch nhiều kẻ xảo trá. Ôi ! Dân tình nham hiểm, từ xưa vẫn sợ. Dân mà điêu ngoa ngoan ngạnh cố nhiên là “khó khăn”. Đến như lại dịch là kẻ dùng để sai khiến hằng ngày, tội ác họ chưa rõ rệt há nên vội buộc trước ; nếu xảo trá có thực trạng thì đã có phép xét xử, há nên ngồi nhìn không làm gì rồi cho là “khó khăn” sao ? Vậy xin xoá bỏ mấy chữ “lại dịch nhiều kẻ xáo trá”, còn các khoản khác xin cho làm theo lời bàn.


    Vua cho là phải. Sắc sai quan trên các địa phương xét sự trạng các phủ, huyện, châu trong hạt, làm thành sách do bộ duyệt tâu. Lại sai đình thần bàn lại. Đến bây giờ, tâu lên, vua chuyển định :


    Tối yếu khuyết :


    Có 12 phủ : Yên Khánh, Thiên Trường, Kiến Xương, Ninh Giang, Kinh Môn, Nam Sách, Quốc Oai, Vĩnh Tường, Lạng Giang, Từ Sơn, Thiên Phước, Tiên Hưng.


    Và 12 huyện : Yên Khánh, Yên Mô, Nam Chân, Thư Trì, Chân Định, Tiền Hải, Tứ Kỳ, Yên Lạc, Yên Lãng, Tiên Du, Văn Giang, Từ Liêm.


    Yếu khuyết :


    Có 15 phủ : Diễn Châu, Hà Trung, ứng Hoà, Lý Nhân, Thường Tín, Khoái Châu, Thái Bình, Hải Đông, Bình Giang, Quảng Oai, Thuận An, Phú Bình, Thông Hoá, Gia Hưng, Quy Hoá.


    37 huyện : Hương Trà, Phú Vinh, Bình Chính, Bình Dương, Hoằng Hoá, Kim Sơn, Thanh Trì, Phú Xuyên, Thanh Oai, Chương Đức, Nam Xang, Hưng Nhân, Thanh Quan, Diên Hà, Thuỵ Anh, Phù Dung, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Kim Thành, Tiên Minh, Thanh Lâm, Thanh Hà, Thạch Thất, Mỹ Lương, An Sơn, Phước Thọ, Võ Giàng, Yên Phong, Gia Lâm, Kim Hoa, Việt Yên, Yên Dũng, Bảo Lộc, Yên Thế, Hữu Lũng, Hoa Phong, Thanh Xuyên.


    Và 2 châu : Bạch Thông, Thuỷ Vĩ.


    Trung khuyết :


    Có 20 phủ : Quảng Ninh, Điện Bàn, Thăng Hoa, Quy Nhơn, Bình Thuận, Tân Bình, Định Viễn, An Biên, An Tây, Hà Thanh, Anh Sơn, Tĩnh Gia, Thiệu Hoá, Thiên Quan, Nghĩa Hưng, Lâm Thao, Đoan Hùng, Trường Khánh, Trấn Man, Trấn Ninh.


    62 huyện : Quảng Điền, Duy Xuyên, Hà Đông, Tuy Viễn, Bồng Sơn, Vĩnh An, Kiến Hoà, Hà Tiên, Long Xuyên, Kiên Giang, Quỳnh Lưu, Thạch Hà, Đông Sơn, Gia Viễn, Lạc Thổ, Phụng Hoá, Hoài An, Thanh Liêm, Duy Tiên, Kim Bảng, Phụ Dực, Mỹ Lộc, Thượng Nguyên, Quỳnh Côi, Đại An, ý Yên, Phong Doanh, Tiên Lữ, Thiên Thi, Kim Động, Đường Hào, Thanh Miện, An Dương, Nghi Dương, An Lão, Thuỷ Đường, Đông Triều, Lập Thạch, Phù Ninh, Bất Bạt, Minh Nghĩa, Hạ Hoa, Hoa Khê, Thanh Ba, Tam Nông, Tam Dương, Lục Ngạn, Lang Tài, Hiệp Hoà, Cảm Hoá, Văn Chấn, Tư Nông, Trình Cố, Sầm Nưa, Man Xôi, Liên Huyện, Khâm Huyện, Khang Huyện, Cát Huyện, Quảng Huyện, Xôi Huyện, Mộc Huyện.


    Và 8 châu : Tiên Yên, Vạn Ninh, Vân Đồn, Đà Bắc, Chiêu Tấn, Ôn Châu, Văn Quan, Văn Uyên.


    Giản khuyết :


    Có 20 phủ : Triệu Phong, Quảng Ngãi, Phú Yên, Diên Khánh, Bình Hoà, Hoằng An, Phước Long, Kiến An, Lạc Hoá, Đức Thọ, Tương Dương, Quỳ Châu, Trấn Biên, Trấn Định, Trấn Tĩnh, Lạc Biên, Thọ Xuân, Hoài Đức, Yên Bình, Trùng Khánh.


    72 huyện : Hải Lăng, Đăng Xương, Lệ Thuỷ, Bố Chính, Hoà Vinh, Bình Sơn, Mộ Hoa, Tuy Hoà, Phước Điền, Vĩnh Xương, Tân Định, An Phước, Phước Lộc, Thuận An, Vĩnh Định, Bảo An, Bình An, Long Thành, Phước Yên, Tuân Nghĩa, Trà Vinh, Kiến Đăng, Thiên Lộc, Nghi Xuân, Thanh Chương, Chân Lộc, Hưng Nguyên, Hương Sơn, Vĩnh Hoà, Hội Nguyên, Kỳ Sơn, Thuý Vân, Trung Sơn, Xa Hổ, Sầm Tộ, Man Soạn, Mường Lan, Cam Cát, Cam Môn, Cam Linh, Thâm Nguyên, Yên Sơn, Mộng Sơn, Nông Cống, Quảng Xương, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Quảng Địa, An Định, Vĩnh Lộc, Nga Sơn, Thọ Xuân, An Hoá, Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Quế Dương, Gia Bình, Hùng Quan, Sơn Dương, Đặng Đạo, Yên Hưng, Hoành Bồ, Đồng Hỉ, Phú Lương, Bình Tuyền, Võ Nhai, Phổ Yên, Đại Từ, Văn Lãng, Trấn Yên, Yên Lập, Hàm Yên.


    Và 40 châu : Hướng Hoa, Mường Vanh, Làng Thìn, Nà Bôn, Thượng Xế, Tá Bang, Xương Thịnh, Ba Lan, Tầm Bồn, Mường Bổng, Lang Chánh, Tàm Châu, Quan Da, Định Châu, Mai Châu, Mộc Châu, Mai Sơn, Thuận Châu, Ninh Biên, Phù Hoa, An Châu, Sơn La, Tuân Giáo, Văn Bàn, Quỳnh Nhai, Lai Châu, Luân Châu, Bảo Lạc, Lục Yên, Thu Châu, Vị Xuyên, Thạch Lâm, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang.


    Trong kinh kỳ mưa lụt, nước lên to. ở các cửa biển Thuận An và Hải Vân quan, nhà cửa tài sản của quân, dân bị trôi mất nhiều. Vua sai chia ra từng hạng, chẩn cấp cho.


    Vua lên kỳ đài xem nước lụt, biền binh ở Nhất đội, ty Loan nghi, nhiều người vắng mặt. Suất đội Hồ Văn Dục bị đánh 100 trượng, cách chức. Quản quân Tôn Thất Thiện bị giáng 1 cấp.


    Đổi bổ Đoàn Kim thự Vệ uý vệ Tiền thuỷ Thuỷ quân làm Phó vệ uý vệ Nội thuỷ vẫn kiêm Quản cơ Kiên chu. Bổ Đoàn Khác làm Phó vệ uý vệ Trung thuỷ, Phan Văn Mẫn làm Phó vệ uý vệ Tiền thuỷ, Nguyễn Bá Tình làm Phó vệ uý vệ Tả thuỷ, Nguyễn Văn Chất làm Phó vệ uý vệ Hữu thuỷ. Dùng Cai đội gia hàm Phó vệ uý, Nguyễn Tiến Khoan làm Phó vệ uý vệ Hậu thuỷ, Quản cơ Trung dực Lương Văn Nghĩa làm thự Vệ uý vệ Tiền thuỷ, thự Phó vệ uý ở Tiền phong Hậu vệ Nguyễn Viết Trung làm Vệ uý ở Tiền bảo nhất thuộc Tiền quân.


    Sai làm cửa sổ bằng pha lê ở mặt trước điện Trung Hoà. Dùng Vũ Đĩnh Viên ngoại lang bộ Binh làm Lang trung bộ Binh. Bạch Xuân Nguyên, Hữu thị lang bộ Binh làm việc Binh tào thành Gia Định có tội bị giáng chức. Xuân Nguyên trước làm Phủ doãn Thừa Thiên, có người tố giác việc lậu đinh, Nguyên bỏ đi không xét mà tự tiện cho dân xã ấy biên theo số đinh lậu vào sổ đinh. Đến đây việc phát giác, Nguyên bị giáng 3 cấp và đổi đi nơi khác. Rồi Nguyên lại can án khác, bị giáng 1 cấp, bèn giáng bổ làm Viên ngoại lang ngoại ngạch ở Nội vụ phủ.


    Điều bổ : dùng Lễ bộ Hữu thị lang Đào Đức Lung làm Hữu thị lang Binh bộ biện lý Binh tào thành Gia Định, Hộ bộ Lang trung hiệp lý Hộ tào thành Gia Định Lê Nguyên Trung thăng thự Hiệp trấn Bình Thuận, Hình bộ Lang trung Nguyễn Huy Chiêm làm Tham hiệp Cao Bằng.


    Định điều lệ thao diễn voi ở Kinh.


    Hằng năm thao diễn riêng 24 lần : cứ vào thượng tuần, trung tuần hằng tháng, do Thống quản vệ Kinh tượng liệu phái 1 quản vệ và 150 biền binh, vệ Thần cơ phái 10 pháo thủ, đều mang đủ súng nhỏ súng lớn, thuốc đạn, chọn chỗ đất rộng rãi bỏ không, liệu trích số lấy voi chiếu thường lệ thao diễn. Số lính, số voi thao diễn đều chiếu kỳ thay lượt nhau. Thao diễn chung 12 lần : từ tháng giêng đến tháng 11, vào ngày cuối tháng, tháng 12 vào ngày 20, đều phái thân binh, cấm binh, cộng 1.000 người, mang đủ súng nhỏ, súng lớn, thuốc đạn với lính và voi ở Kinh đến sắp quân và voi trong ba vệ đều xếp hàng ở trước Nam đài.


    Bộ Binh đã tâu trước xin vua đến ngự duyệt hoặc phái đại thần đến giám thị.


    Mỗi lần thao diễn có riêng : 3 cỗ súng quá sơn, 60 khẩu súng điểu thương mỗi khẩu thuốc súng đều đủ 5 phát, pháo Du Long, pháo Hoả Sa đều 15 ống, 60 bó đuốc. Mỗi lần thao diễn chung : 4 cỗ súng Võ công tướng quân, 15 cỗ súng quá sơn, 500 khẩu súng điểu thương, thuốc súng đều 5 phát ; 100 ống Du Long pháo, 150 ống Hoả Sa pháo, 350 bó đuốc. Những thuốc súng và vật dẫn là đều lấy ở kho ra. Còn đuốc mỗi lần thao diễn riêng được cấp 3 quan tiền, mỗi lần thao diễn chung, cấp 15 quan.


    Đặt thêm chức Hiệp thủ ở bốn đồn cửa biển : Khẩu, Luật, Hội, Càn thuộc trấn Nghệ An.


    Điều bổ Hình bộ Tả tham tri Trương Minh Giảng làm Hộ bộ Tả tham tri.


    Bộ Hộ tâu : “Các hòn thuộc Phiên An, Hà Tiên, hạt thành Gia Định gồm 15 nơi có tổ yến (Các hòn thuộc Phiên An : Nghê [Nghê Dữ] hòn Hoa Cau [Hoa Lang dữ], hòn Cau (Binh Lang dữ], hòn Đầm Tre [Trúc Đàm dữ], hòn Muối [Diêm dữ], hòn Tre Con [Tiểu trúc dữ], hòn Tre To [Đại trúc dữ], hòn Hang én [Yến cốc dữ]. Các hòn thuộc Hà Tiên : hòn Nghệ [Nghệ dữ], hòn Cổ Chu [Cổ chu dữ], hòn Chuối [Tiêu dữ], hòn Tranh [Mao dữ], hòn Son [Thổ châu dữ], hòn Rái [Phát dữ], hòn Tre [Trúc dữ]. Hằng năm quan thành phái người đến khám xét, sai các đội Tân Hiệp, Thanh Châu đi lấy về nộp, mỗi năm chỉ được hơn 2 cân. Xin liệu định ngạch thuế.


    Vua bèn sai quan thành mộ 30 người dân ngoại tịch, lập làm yến hộ ((1) Hộ gồm những người làm nghề lấy yến sào (tổ chim én).) hằng năm nộp thuế : khi mới mộ hạn nộp 10 cân yến sào, 3 năm sau ấn định là 20 cân, và cứ thế làm thành lệ mãi mãi. Nếu chưa mộ được người để lập hộ thì hãy cứ phái người đi lấy yến sào.


    Mường Cai thuộc Trấn Ninh và Xà Cốc Bạn ở nước Vạn Tượng bị nước Xiêm quấy nhiễu, xin nhập quốc tịch ta và nộp thuế. Quan trấn Nghệ An đem việc ấy tâu lên. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Vương giả coi dân nào cũng một lòng thương yêu, không phân biệt nơi này, nơi khác. Nhưng sự việc biên giới cũng nên xử trí cho hợp nghi. Mường Cai trước thuộc Trấn Ninh, sau vì thay đổi chỗ ở, nay lại trở về chỗ cũ thì nên theo ý muốn của họ. Còn như Xà Cốc Bạn là dân Vạn Tượng còn sót lại, nếu nhân họ đến mà mình tiếp nhận ngay, sợ có lẽ không hợp với cái chủ trương của triều đình là mềm mỏng với người phương xa. Vậy nên cho họ trở về đất cũ. Nếu vì thế bách thiết mà họ cố ý xin lưu lại nước ta thì chỉ nên cho họ ở mé ngoài biên giới và răn bảo dân ta, chớ có nạt nộ sách nhiễu họ. Đó là kế hoạch cương giới mà ngụ ý thương xót vỗ về những dân xiêu giạt”.


    Quan trấn Nghệ An tâu : “Phủ Trấn Ninh là nơi mới mở mang, việc binh lính, võ bị không thể thiếu được. Nay bốn đội Ninh Thiện đã dồn lại, uỷ cho trú phòng Nguyễn Trọng Thai đốc suất. Thế là việc coi quản đã có người rồi, nếu nay cấp cho võ khí, thường thường cho luyện tập, khiến cho binh lính dũng cảm khôn ngoan chẳng những vững mạnh được việc biên phòng mà lúc có việc sai phái cũng đắc lực. Vậy xin chế cấp cho mỗi đội 4 cây cờ, 20 ngọn thương dài, 20 khẩu súng điểu sang và đạn dược đầy đủ”.


    Vua y cho làm, lại hạ lệnh chiếu theo số lính hiện còn chế cấp cho áo quần mỗi người một bộ. Từ đấy về sau mỗi năm cấp cho một lần.


    Đắp ụ để súng ở đài Trấn Hải (39 sở).


    Sửa đắp đường trạm trấn Sơn Nam. Vua bảo Nội các “Năm nay đê Bắc Thành đều vững chắc, nước sông thuận dòng. Gần đây, chỗ hai hạt Sơn Nam, Ninh Bình giáp với đường cái quan có nước sông tràn ngập ruộng lúa, hoặc giả vì chỗ ấy địa thế trũng thấp hay là vì đê tư bị tàn khuyết, không tu bổ được đúng cách thức mà ra thế chăng ? Nghĩ đến đời sống của dân ta, vẫn canh cánh bên lòng. Vậy hạ lệnh : bộ Công truyền chỉ cho các bề tôi ở thành trấn và ở Đê chính khám xét cho rõ rồi trù tính thế nào để chữa mối tệ giúp cho dân được tiện lợi rồi làm sớ tâu lên”.


    Quan thành tâu : “Xin ở đường chạy trạm đoạn thuộc các phủ Thường Tín, ứng Hoà, Lý Nhân, chỗ nào bị nước sông tràn vào, thì đến sang xuân năm khởi công đắp cao lên và xây cống Mỹ Lâm (tên xã, thuộc huyện Phú Xuyên) còn như đê tư các xã Tường Lân, sau sẽ bàn tính để làm”.


    Vua y cho.


    Trấn thủ Hưng Hoá Vũ Văn Tín, thự Tham hiệp Ngô Huy Tuấn bắt được tên Điêu Doãn An, bèn từ đồn Phong Thu rút quân về. Trước đây, khi quân nhà Thanh đã rút lui, bọn Tín cho người mật đến trại Mãnh Thích dụ dỗ Điêu Doãn An về. Suất đội giữ đồn là Bùi Văn Hương dùng mẹo ập đến bắt được. Tín vì cảm mạo lam chướng ốm chết ở dọc đường. Vua rất thương, truy phong Tín hàm Chưởng cơ, cho chiếu hàm cấp tiền tuất, lại cho thêm 2 cây gấm Tống, 5 tấm lụa, 10 tấm vải và 200 quan tiền. Tuấn cũng bị bệnh, về trấn. Biền binh đi chuyến ấy, hơn 300 người ốm chết ở dọc đường, còn đều ốm yếu tản mát, không ai chiếu cố được ai nữa.


    Việc tâu lên, vua bảo bộ Binh rằng : “Trước kia, người nhà Thanh vô cớ bỗng phái binh lính sang cưỡng bức chiếm đóng đồn bảo của ta. Quốc thể và biên phòng, hai việc đều là quan trọng, nên mới phái binh lính đến phòng ngừa, cũng là việc bất đắc dĩ phải làm để ứng phó với họ, chứ há muốn nhọc sức người để mưu đồ việc xa xôi đâu ? Không ngờ chỗ ấy thuỷ thổ quá xấu, lam chướng quá nặng, biền binh đi về chỉ trong vòng mươi ngày đến một tháng mà ốm chết nhiều đến thế, thậm chí còn có những người ốm đường, mê man, không biết sống chết như thế nào. Tình cảnh như thế, thương xót biết chừng nào ! Vậy dụ cho quan thành là Phan Văn Thuý xét những biền binh ốm và chết trong chuyến này ai có quan chức thực thụ thì chiểu theo phẩm, gia tặng một cấp ; ai thí sai, quyền sai thì đều cho thực thụ. Còn các binh lính đều thưởng mỗi người 2 lạng bạc, giao cho gia đình. Đối với những người ốm đã về, sức cho quan trấn gia tâm trông nom, thuốc thang điều trị ; nếu ai ốm chết cũng theo lệ ấy mà thưởng cấp. Hễ còn thiếu ai, thì lập tức phái người đi tìm đưa về ; và thu nhặt hài cốt những người đã chết, gói ghém bằng vải đưa về quê quán họ an táng. Đến như những người đã về rồi, từ Ngô Huy Tuấn đến quan quân trèo đèo lội suối khó nhọc đáng thương, chuẩn cho Tuấn thực thụ. Từ suất đội trở lên, những người thực thụ rồi đều thưởng kỷ lục một thứ ; những người thí sai, quyền sai, không kể làm việc lâu hay mới, đều cho thực thụ. Văn võ binh lính đều thưởng cho tiền lương hai tháng. Bùi Văn Hương thưởng 100 lạng bạc”.


    Kẻ phạm đã bắt được là Điêu Doãn An cùng tòng đảng là Điêu Doãn Kiên, Điêu Doãn Võ đều giải về Kinh, giao cho 2 bộ Binh, Hình xét nghĩ, khép vào tội “trảm giam hậu” ((1) Bị xử chém nhưng còn được giam lại để đợi vua quyết định.). Điêu Vĩnh Điển, Điêu Chính Định đều đánh mỗi tên 100 trượng, tha cho về.


    Rồi dùng con Điêu Quốc Thuyên là Điêu Quốc Long quản lý 2 động Phong Thu, Bình Lư, kiêm cai quản đồn Phong Thu. Trước kia, khi Điêu Doãn An mới bị bắt, trấn Lâm Nguyên nhà Thanh có sai người đem công văn đi đường Ngưu Giang đệ thẳng đến Bắc Thành. Quan Bắc Thành cho là trái lệ, bắt cả người tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Trấn hay phủ nhà Thanh có chuyển đệ công văn, phải do đồn biên giới, sao lại trái phép vượt bậc như thế. Đáng lý không tiếp nhận, nhưng nghĩ văn thư này của họ đưa đến cốt để nói về việc Điêu Doãn An, không phải là tự nhiên vô cớ, cũng nên châm chước xử đối, cho xong cái việc vừa rồi đi. Vậy hạ lệnh cho quan Hưng Hoá làm tờ trả lời, đại khái nói : Đồn Phong Thu vốn thuộc nước ta, đất Mãnh Thoa vẫn thuộc nhà Thanh, bất tất phải xét gì lắm. Còn Điêu Doãn An là người nước ta, nay đã trở về, sẽ có cách xử trí. Trước đây hai nước có chút hiềm nhỏ là bởi huyện Kiến Thuỷ cả nghe đứa bậy, bị nó đánh lừa, nay đừng nên lấy cớ nhỏ mọn ấy mà ngờ vực nhau nữa, đại ý như thế, rồi giao tờ ấy cho kẻ đưa thư, phái người tiễn hắn ra khỏi bờ cõi cho về”.


    Lại thấy người nhà Thanh vượt đường tắt đến được như thế thì việc biên phòng của mình quá sơ sài, bèn hạ lệnh bàn định kỹ về cách khám xét các đồn các nơi quan tấn. Quan thành xin đặt cửa ải canh phòng ở đồn Bảo Thắng, giao cho thổ mục, thổ binh nghiêm ngặt canh giữ ; phàm người Thanh qua lại đổi chác mua bán, chỉ cho ở mặt phố, không được theo đường tắt mà đi vào.


    Vua lại nghĩ : “Nước ta cùng nhà Thanh vẫn tốt với nhau, cần gì phải đề phòng quá như vậy chi bằng cứ để như cũ”. Việc bàn định ấy bèn đình chỉ.


    Đổi tên hai đội Tiền thuận nhị, Tiền thuận tứ thuộc Tiền quân trấn Nghệ An làm hai đội An nghĩa nhất, An nghĩa nhị.


    Vua đi tuần sông Lợi Nông, thăm lúa.


    Sai thự Vệ uý Hổ oai Hậu vệ Nguyễn Trọng Tính kiêm lĩnh Ngân bài, Nha bài thị vệ và các đội Tân sài.


    Tháng 9 mở khoa thi Hương ở Thanh Hoa, Bắc Thành và Nam Định.


    Sai thự Hộ bộ Hữu tham tri Bùi Phổ làm chủ khảo trường Thanh Hoa, thự Hiệp trấn Hải Dương Hoàng Tế Mỹ làm phó chủ khảo ; Hình bộ Hữu tham tri lĩnh Bắc Thành Hình tào Lê Đại Cương làm chủ khảo trường Bắc Thành, thự Hiệp trấn Nam Định là Nguyễn Khắc Hài làm phó chủ khảo, Hiệp trấn Nghệ An là Hồ Hựu làm chủ khảo trường Nam Định, Hiệp trấn Ninh Bình là Nguyễn Khắc Biểu sung làm phó chủ khảo. Lấy 61 người đỗ cử nhân.


    Trường Thanh Hoa 9 người : Đặng Quốc Lương, Nguyễn Huy Lịch, Lê Đức Đôn, Vũ Phạm Khải, Nguyễn Huy, Lý Đăng Khoa, Đỗ Huy Diễm, Nguyễn Danh Vinh, Trịnh Công Thản.


    Trường Bắc Thành 20 người : Đào Huy Phác, Cao Bá Quát, Phan Cơ, Nguyễn Huy Tôn, Nguyễn Thế Hanh, Đặng Kham, Lê Danh Nguyên, Hoàng Văn Thiện, Nguyễn Văn Đạt, Ngô Quang Tuấn, Phan Huy Chân, Ngô Đặng Quang, Lê Đình Công, Cao Xuân Nguyên, Phạm Gia Chuyên, Nguyễn Văn Đôn, Nguyễn Mậu Trạch, Nguyễn Danh Côn, Kiều Năng Thân, Nguyễn Tiên Trạch.


    Trường Nam Định 32 người : Nguyễn Hoàn, Đoàn Trọng Huyên, Vũ Trọng Thạnh, Nguyễn Văn Cư, Phan Trứ, Đặng Văn Bính, Trần Văn Nhất, Trương Cầm, Nguyễn Bằng Bá, Trần Ngôn Hành, Đỗ Bá Định, Lại Thế Mỹ, Đỗ Văn Trai, Vũ Đình Hoán, Phạm Tất Tố, Vũ Trần Quân, Nguyễn Đình Nhuận, Vũ Hữu ái, Phạm Đình ái, Nguyễn Ngọc Hợp, Trần Văn Cao, Đào Phẩm, Đỗ Danh Quán, Bùi Bá Cận, Nguyễn Hướng, Lưu Quỹ, Nguyễn Kim Chung, Phạm Đình Dự, Trấn Trứ, Lương Thế Phụng, Nguyễn Tất Tố, Phạm Sĩ Bân.


    Đến lúc bộ Lễ duyệt lại những quyền văn đã lấy đỗ thì trường Nam Định có 1 người bị đánh hỏng, 2 người đổi lại thứ tự (Nguyễn Đình Nhuận quyền văn nhiều hình tích đáng ngờ, bị cách bỏ tên trong sổ cử nhân, Vũ Trọng Thạnh, 4 kỳ văn viết, đều có nhiều câu hay, nhắc lên làm thứ nhất. Nguyễn Hoàn, kỳ thứ tư có một câu văn lời nặng nề, bị giáng xuống thứ 3. Bùi Bá Cận, thơ có một câu khiếm nhã, bị để xuống cuối bảng).


    Quan trường vì lấy đỗ không tinh và ra đầu bài không chịu cân nhắc đều bị giáng chức.


    Bùi Đình Miện, người Hải Dương, đón xa giá dâng sớ nói các việc. Vua xem rồi bảo : những điều Miện trình bày đều là góp nhặt những việc người ta đã làm rồi hùa theo mà tán dương, không có điều nào đáng dùng, cũng là phường mua chuộc cầu tiến thân mà thôi, sai đuổi đi.


    Bắc Thành có bão, Nam Định bị hại nhiều nhất. Vua dụ quan trấn : Phàm nhà dân bị đổ, thuyền buôn bị đắm đều phát tiền và gạo chẩn cấp cho. Lại chuẩn cho
  • Chia sẻ trang này