0060.0022

25/12/15
0060.0022
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    dân hạt ấy : thuế vụ đông và thóc gạo còn thiếu từ năm trước được nộp thay một nửa bằng tiền.


    Cho Lễ bộ Tả tham tri Nguyễn Đăng Tuân được nguyên hàm về hưu trí. Trước kia Tuân xin nghỉ dưỡng bệnh. Đến nay ngày thêm ốm yếu, dâng sớ xin về hưu. Vua chuẩn y cho.


    Mở một cuộc săn bắn lớn ở vùng gò núi xã Lưu Bảo (thuộc huyện Hương Trà).


    Man Mường Lữ nước Miến Điện (ở phía tây Lai Châu thuộc Hưng Hoá) sai sứ La Xa Phàm (chức quan) tên là Thiếp và Thiên Trấn Tha Chất (chức quan) tên là Ai Huấn đến trấn Thanh Hoa xin phụ thuộc vào nước ta. Sứ giả nói : “Năm trước, Man trưởng đã cho sứ đem đồ cống, cầu thông với triều đình, bị Lai Châu đánh lừa, không được đến nơi. Năm ngoái, người man nhân đi buôn đến nước ta, may được ban thưởng, lại sai đi theo phái viên của trấn để về nước. Khi qua Lai Châu, lại bị thổ Tri châu Điêu Chính Vân ngăn trở, phải lén đi đường tắt về. Nay Man trưởng hâm mộ đức tốt của triều đình nên sai đem thư, dâng tiến lễ vật.


    Việc tâu lên, vua nhận thấy Trấn thủ Nguyễn Khả Bằng là võ biền, chưa am hiểu điển lễ, bèn phái Thượng thư bộ Công Nguyễn Kim Bảng kiêm lĩnh việc trấn Thanh Hoa, lại sai Hữu thị lang bộ Hộ Trần Chấn, đệ dụ chỉ, đi ngựa trạm, đến hội nhau làm việc. Đến lúc dịch tờ thư ra, lời lẽ nhiều câu không thuận, mà sứ giả lại là hạng quan võ chức nhỏ. Lũ Kim Bảng tâu lên. Vua bảo bộ Lễ : “Man mọi không biết gì, không đáng trách. Vậy truyền dụ lũ Kim Bảng cho dẫn họ đến công đường, bảo cho họ biết rằng : “Triều đình đối với người xa, ai quy phục cũng không từ chối. Gần đây, không những các thổ ty ở các nơi mới mở mang đã phụ thuộc vào đồ bản mà ngay như Chân Lạp và Nam Chưởng là những nước to cũng đều đã xưng thần phụng cống. Nước ngươi nếu quả thực lòng hướng theo đức hoá triều đình thì phải làm bài biểu lời lẽ kính cẩn, và sai người đầu mục đưa đến mới phải là lễ nước nhỏ thờ nước lớn”. Rồi cấp cho sứ giả 100 quan tiền, tiễn ra khởi địa giới. Lại thấy Điêu Chính Vân tự tiện ngăn trở sứ nước ngoài, sai phạt trượng và cách chức.


    Định lại lệ cấp tiền dưỡng liêm cho phủ huyện.


    Bộ Hộ bàn tâu cho rằng ngoài số lương tháng, lại có tiền dưỡng liêm là để khuyến khích tiết tháo trong sạch. Nhưng chỉ những ngày làm việc cấp cho mới phải. Còn ngày chưa phó nhậm và ngày đã thôi việc, sao nên nhất thiết cấp cả. Vậy mà từ trước đến nay, vẫn quen lệ cấp cả như thế, thực là quá lạm ! Vậy xin từ nay các viên phủ huyện mới được thăng bổ, đến nhận việc vào tháng mạnh thì cấp tiền dưỡng liêm cả quý ấy ; vào tháng trọng thì cấp một nửa ; vào tháng quý thì không cấp. Viên nào thăng điệu hay đến Kinh hậu bổ, nếu vào tháng mạnh đã lĩnh tiền dưỡng liêm rồi thì phải trả lại ; vào tháng trọng thì trả một nửa ; vào tháng quý thì không phải trả lại. Những viên vào Kinh ra mắt vua, rồi lại về cung chức cũng tính như thế. Vua cho lời tâu là phải.


    Định lại lệ nộp thóc tô. Vua bảo bộ Hộ : “Việc kho tàng chứa thóc, có quan hệ đến quốc kế dân sinh. Cho nên việc thu tô đã chuẩn cho thử thóc, cứ 1 thưng thóc thả vào nước nổi lên 3 thược ((1) Thước là 1% của thăng (thưng).) thì là hợp thức. Đó vì ý muốn cho nông dân được tiện trong việc nộp thuế, mà thóc kho vẫn là của thực dụng. Thế mà vừa rồi, sắc sai thí nghiệm kho thóc. ở Kinh hiện chứa thóc tô của Thừa Thiên, Quảng Trị, chứa chưa lâu năm, mà mùi thóc đã kém. Có phải chăng vì lúc nộp thóc, bọn điền hộ đã đem thóc giấn xuống nước, lọc bỏ trấu trép, rồi chỉ phơi qua, hoặc để thóc vào chỗ ẩm thấp cho hạt thóc nặng thêm để mong được lợi. Và những lại dịch hèn mạt cùng người làm việc ở kho, thông đồng với con buôn và lý trưởng, cho được mua [thóc ẩm] đem nộp, làm gian dối nhiều cách, đến nỗi thóc kho sinh ra thế. Các hạt khác chưa chắc không có cái tệ ấy. Vả chứa thóc là việc quan trọng, chẳng thà rộng rãi còn hơn để cho ngày một sinh nhiều mối tệ.


    “Vậy thông dụ cho Thừa Thiên và các thành trấn từ nay, dân xã nộp thóc tô, cần bắt phải phơi nỏ, quạt sạch, cốt được khô, tốt. Nếu thử thóc một thưng nổi đến 4 thược, cũng cho thu nhận. Nếu ai cố phạm những điều gian dối như trước hễ dò xét được thực trạng, tất sẽ bị trị tội nặng hơn. Người đứng thu cùng quan thượng ty đều phải giao bộ nghiêm xét”.


    Quan thành Gia Định tâu : “Sang năm, việc đóng các thuyền cần dùng ván gỗ rất nhiều. Xin đem các cơ, đội giản binh trong thành hạt chia làm hai ban, cho lần lượt làm việc. Đợi khi việc công hơi ngớt sẽ lại chia làm ba ban”.


    Vua dụ : “Hồi đầu xuân khi nghe tin báo ngoài biên hữu sự, lập tức cho tập hợp biền binh thao diễn, đến hơn 3, 4 tháng, khi biên thuỳ vô sự mới thả cho về. Vả đóng thuyền là việc không cần kíp lắm, vậy mà bắt binh lính làm khó nhọc luôn, không những họ không được nghỉ ngơi mà lại thiệt hại đến cả việc làm ruộng. Điều đó không phải là bản tâm triều đình yêu nuôi binh sĩ. Vậy việc đóng thuyền nên cứ làm dần dần cũng được. Cần gì phải chia lính làm hai ban cho thêm phiền phí ?”.


    Truy phục ((2) Truy phục : khai phục lại một chức quan cho người đã chết.) viên bị cách là Ngô Phước Hội làm Thị lang bộ Công. Hội trước kia có lỗi bị cách, được phái đi Hạ Châu ra sức làm việc để chuộc tội, rồi chết ở dọc đường. Vua nghe tin mà thương xót nên mới có lệnh truy phục này.


    Thự Phủ doãn Thừa Thiên, Đoàn Khiêm Quang, nhiều lần phạm tội, bị giáng mãi đến 6 cấp, bộ Lại tâu xin cách chức. Vua đặc cách cho đổi giáng 4 cấp điều bổ làm Chủ sự bộ Hộ.


    Vua nghĩ các sở mỏ vàng ở các trấn thuộc Bắc Thành (mỏ Phong Thường, ở Bắc Ninh ; 5 mỏ ở Tuyên Quang : Tiên Kiều, Niêm Sơn thuộc Mậu Duệ ; Bạch Ngọc, Ngọc Liên thuộc Quan Quang ; và Linh Hồ ở Lương Cải đạo viện, 3 mỏ ở Hưng Hoá : Yết Ong, Gia Nguyên, Bản Lô ; 4 mỏ ở Thái Nguyên : Kim Hỉ, Thuần Mang, Sảng Mộc và Bảo Mang ; 4 mỏ ở Lạng Sơn : Xuân Dương, Đồng Bộc, Suất Lễ và Hữu Lân và mỏ Vĩnh Giang ở Cao Bằng). Mỗi năm nộp thuế vàng từ 1 lạng đến 6 lạng, không được là bao nhiêu. Sắc sai bộ Hộ tư cho quan thành truyền bảo các chủ mỏ ((1) Nguyên văn là “Khoáng trưởng”.) hằng năm ngoài lệ vàng nộp thuế, mỗi mỏ phải bán cho nhà nước 50 lạng vàng nữa, nhà nước sẽ trả tiền cho (mỗi lạng vàng là 12 lạng bạc hoặc 60 quan tiền). Các chủ mỏ đều không bằng lòng. Vua hạ lệnh phong toả hết các mỏ lại, không cho khai nữa.


    Sau đó lại dụ bộ Hộ rằng : “Vàng, một nguồn báu dưới đất, rất có quan hệ đến thuế khoá của nhà nước, phải nhân mối lợi mà làm ra lợi, há nên bỏ đấy ? Vậy hạ lệnh cho quan địa phương mộ thuê những phủ quen nghề làm mỏ rồi phái người đến đốc suất mà khai ; hay là lập ra hộ làm vàng, châm chước thành ngạch thuế để quốc dụng được tăng thêm và tài nguyên được dồi dào”.


    Sai Thanh, Nghệ phái 5 vệ quân Thần sách đổi ra đồn thú ở Bắc Thành (Thanh Hoa 1 vệ, Nghệ An 4 vệ. Lệ trước, đến tháng 11 thay ban, nay đổi lại phái đi ngày 15 tháng 10). Ngày 5 vệ ấy đến thành thì do quan thành liệu để lại 1 vệ sai khiến, còn 4 vệ chia đi phòng thủ Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, mỗi trấn 1 vệ.


    Sai Phó vệ uý giám thành Nguyễn Văn Xướng đem thuộc hạ hơn 30 người, chia nhau đi hai trấn Hưng Hoá và Quảng Yên, ngắm đo đạc hình thế núi, sông, vẽ thành bản đồ để dâng. Vua thưởng trước cho biền binh 200 quan tiền. Xướng đi đã gần đầy một năm không thấy tâu trình công việc, bèn phạt cách chức làm lính, chịu khổ sai.


    Xã Phú Trạch (thuộc huyện Hương Trà) phủ Thừa Thiên, có tên côn đồ điêu xảo là Phạm Bá Khanh, chỉ kiếm ăn về nghề xui giục người ta kiện tụng. Nhân dân gọi hắn là “Nghĩa ô sư” ((2) Nghĩa ô sư : thây quạ đen.). Quan Phủ doãn bắt được, [vua] giao cho bộ Hình nghiêm xét, rồi chém ở chợ Cửa đông.


    Thống chế Hữu dực dinh Vũ lâm Trần Văn Cường chết, truy tặng hàm Đô thống, thưởng 100 lạng bạc, 3 cây gấm Tống, 10 tấm vải và lụa và cho một tuần tế.


    Dùng Chưởng cơ gia hàm Thống chế lĩnh vệ Cẩm y, Nguyễn Tăng Minh, làm Thống chế Hữu dực dinh Vũ lâm, Vệ uý Hồ Văn Khuê làm Chưởng cơ, lĩnh các đội Thường trực, Trường trực vệ Cẩm y.


    Chuẩn cho Chưởng cơ quản Hổ oai tiền vệ Phạm Văn Tín, lấy nguyên hàm, phụng lễ triều tịnh ((1) Chư hầu vào chầu thiên tử, về mùa xuân gọi là “triều”, mùa thu gọi là “tịnh”.). Dùng Phó vệ uý Vũ lâm vệ Hữu nhất Tôn Thất Tường làm Vệ uý Hổ oai Tiền vệ.


    Dùng thự Phó vệ uý Thần sách vệ Trang võ Trần Văn Loan làm Phó vệ uý Trực ban trực Hữu vệ.


    Bắc Thành tâu báo : nước sông đã yên dòng. Vua bảo bộ Công : “Năm nay, sau khi các đê sửa chữa xong, nhiều trận nước lớn khác thường dẫy lên đột ngột nhưng rồi sau cũng được yên ổn tất cả. Nghĩ cho kỹ, việc ngăn nước lụt, chống thuỷ tai, là nhờ Phước thần và các quan phần việc sở tại nhiều cách giữ gìn nên mới được như thế”. Vua bèn sai phát hương và lụa trong kho, tế tạ thần sông. Đối với các quan Đê chính Bắc Thành đều thưởng gia một cấp. Những người bị giáng đều cho khai phục. Lại sai nêu lên những thuộc viên trong nha Đê chính và các quan địa phương hễ ai là người làm việc từ đầu đến cuối luôn luôn cần mẫn xuất sắc, thì kê tên ra bảo cử tâu lên, đợi chỉ khen thưởng.


    Sai Khâm thiên giám, hằng năm làm thêm lịch. Năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] bắt đầu, thêm 13 quyển ; về sau, mỗi năm thêm 1 quyển, và ghi làm lệ mãi (lệ trước mỗi năm thêm 5 quyển).


    Thao diễn voi trận ở trước Nam đài. Vua đến xem, thưởng cho lính cưỡi voi 300 quan tiền. Sắc sai từ nay, phàm kỳ hội diễn kinh tượng, nếu ngự giá đến xem thì chuẩn cho đội Cẩm y cầm 100 khẩu điểu thương, mỗi khẩu có 5 phát thuốc súng, cùng dự cuộc diễn tập. Việc này được ghi làm lệ.


    Vua dụ bộ Hộ : “Kho thóc là việc quan trọng, thóc cũ mới, thu vào, phát ra, phải trù tính điều chỉnh cho thích nghi. Nay cứ các hạt phát thóc lâu năm cho xay ra gạo, do bộ thử nấu cơm trình tiến, thì có thóc lâu năm mà có mùi vị còn tốt, có thóc chưa lâu mà mùi vị đã hơi biến đổi. Vậy thì thóc gạo còn tốt hay đã kém, không thể niên hạn lâu hay chóng mà ấn định. Vậy phải tư sức các địa phương hằng năm phải kiểm nghiệm thóc hiện chứa ở kho, hạng từ 6, hay 7 năm trở lên, xem chất hạt gạo còn rắn tốt không, mùi vị có thay đổi gì không, lập tức cứ thực tư Phước do bộ tâu lên, sẽ liệu điều chỉnh”.


    Bổ Phan Huy Thực làm Thượng thư bộ Lễ, Nguyễn Danh Giáp làm Tả thị lang bộ Binh. Dùng quyền thự Tả thị lang bộ Hộ Hoàng Quốc Điều làm Hữu thị lang bộ Lại.


    Bổ Tạ Quang Cự làm Thống chế Thần sách Hậu dinh.


    Chưởng cơ quản Thần cơ Trung vệ Trương Công Tuyên, tuổi già, hưu trí. Dùng Phó vệ uý Vũ lâm Hậu nhất vệ Hoàng Văn Tý làm Vệ uý vệ Thần cơ Trung vệ.


    Bắt đầu chế mũ áo cho các chấp sự ở đàn tế Giao.


    Bộ Lễ bàn tâu cho rằng từ đời xưa, phép chế áo xiêm theo nghĩa quẻ càn, quẻ khôn, mà màu sắc rực rỡ là để tỏ rõ điều văn vẻ. Cho nên trên từ thiên tử, dưới đến chư hầu quan khanh, kẻ sĩ, áo mũ đều có cấp bậc khác nhau. Nay hoàng thượng để ý theo điển cổ, sai chế áo cổn mũ miện dùng làm ngự phục, để tỏ sự kính thờ Thượng đế, thực là một việc chưa từng thấy ở các đời Đinh, Lý, Trần, Lê nước ta, mà lại còn hơn cả thể chế đương thời của Bắc triều nữa. Nhưng các bề tôi giúp việc tế, quanh hai bên tả hữu, cũng nên được chế mũ áo để nghiêm túc lễ nghi và tỏ rõ lòng tôn kính. Vậy xin chiếu từ các hoàng tử các tước công và các phẩm quan văn võ dự sung vào chân chấp sự ở đàn tròn trong lễ tế Giao cùng hai bên phân hiến, cộng 27 người, kê cứu chế độ đời xưa, chế cấp cho mũ áo có cấp bậc khác nhau.


    1. Mũ áo các hoàng tử các tước công, có 6 bộ, đều mũ 9 tua, áo xiêm 9 kiểu vẽ.


    Mũ miện dệt bằng lông đuôi ngựa. Mảnh che bên trên dùng ván gỗ làm cốt, đằng trước tròn, đằng sau vuông ngoài bọc đoạn đen, trong lót lĩnh đỏ, đằng trước đằng sau đều 9 tua, mỗi tua 5 sắc kết làm 9 núm, xâu 9 hạt cườm xen 3 sắc đỏ, trắng, xanh. Trâm ngà cài cầu mũ rủ dây xanh đến tai, đeo bằng viên ngọc trân, dùng hạt cườm trắng xâu dây đỏ. Mảnh gỗ che bên trên, chung quanh viền vàng, khắc hoa văn mây rủ. Thân mũ, trang sức : 1 hình núi bằng vàng, 3 bông hoa vàng, 4 con giao long vàng, 1 đường chỉ vàng. Chỗ cài trâm cũng bịt trang sức bằng vàng.


    áo : 5 kiểu vẽ, dùng đoạn màu xanh, thêu rồng ở vai, núi ở lưng, ngọn lửa, chim trĩ, nậm rượu ở hai tay áo mỗi thứ 3 cái. Cổ áo màu xanh.


    Xiêm : 4 kiểu vẽ dùng đoạn màu đỏ nhạt thêu rau rong bông tròn hoa gạo, hình phủ ((1) Phủ : hình thêu vào lễ phục giống cái rìu, nửa đen nửa trắng.) hình phất ((2) Phất : hình thêu vào lễ phục, giống hai cánh cung xây lưng vào nhau nửa xanh nửa đen.) mỗi thứ đều 2 cái. Đằng trước 3 bức, đằng sau 4 bức đều liền với nhau. Xiêm, những người nói sau cũng thế.


    Dải đeo bằng sa trắng, cổ màu xanh, thêu 9 hình phất. Cái tế tất ((3) Tế tất : cũng gọi là hộ tất : chiếc gối con, hình tròn, hoặc hình dạ cá, trong nhồi bông, dùng lót đầu gối, để khi tế, quỳ lâu khỏi đau.) dùng đoạn đỏ thêu ngọn lửa và núi 2 kiểu vẽ trên có cái móc bằng thau mạ vàng.


    Hai chùm ngọc đeo : mỗi chùm đều có 1 ngọc hành, 1 ngọc vũ, 2 ngọc cư, 2 ngọc hoàng và 1 xung nha ((1) Xung nha : một thứ ngọc đeo, giống hình cái răng.) đều nạm bằng chốt đồng mạ vàng. Chỗ ngọc hành trở xuống, dây đeo đều xâu hạt cườm ba sắc đầu dây có cái móc bằng thau mạ vàng.


    Dải lụa to : Phần trên dùng đoạn màu đỏ, thêu lửa và núi 2 kiểu vẽ, dưới đính bằng dây tua các màu sắc.


    Đai to : Trong ngoài đều bằng the trắng viền đỏ, màu xanh.


    Đai da : Sắc đỏ nhạt, đằng trước trang sức 1 miếng vuông, 6 miếng dẹt đều khảm đồi mồi, miến vàng.


    Mạng bịt tóc, hia và bí tất đều dùng đồ triều phục. Các quan chức nói ở sau cũng thế.


    2. Các quan văn võ từ nhị phẩm trở lên, mũ áo 7 bộ, đều mũ 6 tua, áo 5 kiểu vẽ.


    Mũ miện : trước sau đều 6 tua, mỗi tua 5 sắc, tết 6 núm, xâu hạt cườm 2 sắc, 6 hạt, xanh, đỏ, xen nhau. Mảnh gỗ che mũ xung quanh bịt đồng, khắc hoa văn mây rủ, mạ vàng. Thân mũ trang sức : 1 hình núi bằng vàng, 2 bông hoa vàng, 2 con giao long vàng, 1 đường chỉ vàng. Chỗ cái trâm cũng trang sức bằng vàng. Còn các thứ khác đều theo kiểu mũ miện của các hoàng tử các tước công.


    áo xanh : 3 kiểu vẽ, thêu hình bông tròn hột gạo, 2 cái ở 2 vai, 1 cái ở lưng ; thêu hình rau rong, hình nậm rượu, ở hai tay áo, mỗi bên mỗi hình 3 cái. Cổ áo cũng sắc xanh.


    Xiêm, bằng lụa đỏ nhạt, 2 kiểu vẽ, thêu hình phủ, hình phất, mỗi thứ 2 cái ; dải đeo bằng sa trắng cổ màu xanh thêu 7 cái hình phất. Cái tế tất và dải to, đều thêu hình núi.


    Ngọc đeo : xâu bằng hạt cườm 2 màu. Ngoài ra đều theo thể chế dải đeo ngọc của các hoàng tử, các tước công.


    Đai to : trong ngoài bằng the trắng, đoạn thắt ở lưng không viền, chỗ rủ xuống viền xanh.


    Đai da : màu đỏ nhạt, đằng trước trang sức 1 miếng vuông, 6 miếng dẹt đều khảm đồi mồi, bịt đồng mạ vàng.


    3. Văn ban, tòng nhị phẩm, chánh tam phẩm, áo mũ 1 bộ, đều mũ 4 tua, áo xiêm 3 kiểu vẽ.


    Mũ miện : trước sau đều 4 tua, mỗi tua 5 sắc, tết 4 núm, xâu 4 hạt cườm, 2 sắc. Ngoài ra đều theo như kiểu mũ miện chánh nhị phẩm trở lên, duy không có 2 con giao long vàng.


    áo xanh : 1 kiểu vẽ, thêu hình bông tròn hột gạo, 2 cái ở 2 vai, 1 cái ở lưng và ở 2 tay áo mỗi bên 2 cái. Cổ áo sắc xanh.


    Xiêm : sắc đỏ nhạt, 2 kiểu vẽ, thêu hình phủ, hình phất, mỗi thứ 2 cái. Dây đeo, cái tế tất, ngọc đeo, dải lớp đai lớn, đai da các thứ đều theo như thể thế chánh nhị phẩm trở lên.


    Hằng năm gặp việc tế lớn, những người dự tế lĩnh mũ áo, mặc làm lễ. Khi lễ xong, do Nội vụ phủ thu lấy đem cất đi. Bắt đầu thi hành từ năm Nhâm thìn Minh Mệnh thứ 13 [1832]. Lời bàn dâng lên, vua chuẩn cho tua mũ các hoàng tử, các tước công đổi dùng bằng ngọc ; ngọc đeo, dùng bằng hạt châu ngọc liệu, tua mũ miện của quan nhất nhị phẩm đổi dùng bằng hạt châu ngọc liệu. Còn các khoản khác đều theo như lời bàn.











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxxvi



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Tân mão, Minh Mệnh năm thứ 12 [1831] mùa đông, tháng 10, ngày mồng 1, làm lễ Đông hưởng.


    Sai Thống chế Nguyễn Văn Trọng giữ chìa khoá bảo tỉ và sách ấn, sau giao cho viện Cơ mật.


    Hình bộ và Đại lý tự dâng sách thẩm án mùa thu. Vua sai đình thần hội bàn tâu lên. Vua thẩm duyệt lại. Những tù được giảm tội chết, phát đi làm quân lưu ((1) Quân lưu : tội bị phát lưu làm lính.) làm lính, làm nô hơn 300 người. Lại thấy danh sách thẩm án của Bắc Thành, những người can án nặng như ăn cướp, giết người, còn giam đến hơn 160 người, trong đó hoặc có người bị vu khống, hoặc có người bị tiêu xưng, tra xét không chịu nhận mà những bị can và nhân chứng phần nhiều còn trốn tránh. Vua bèn sắc sai các quan thành, các quan trấn tìm cách nã bắt để làm cho thành án : ai có tội thì chiểu luật kết án, ai không tội thì tha bớt ra.


    Đổi bổ Hình bộ Hữu thị lang quyền việc trấn Quảng Nam là Hoàng Công Tài làm Hiệp trấn Quảng Nam. Dùng Binh bộ Viên ngoại lang Nguyễn Trọng Vũ thăng thự Tham hiệp Quảng Nam.


    Thanh Hoa, giá gạo vẫn cao, vua chuẩn cho dân Thanh Hoa : hai vụ thuế mùa hạ, mùa đông và những thóc gạo phải đóng đều được nộp thay một nửa bằng tiền.


    Trấn thủ Quảng Ngãi Trần Văn Dưỡng và thự Tham hiệp Tống Đức Hưng, gần đây, làm việc mắc nhiều sai lầm, đều bị cách lưu. Vua nghĩ Dưỡng đã già yếu, đổi cấp cho hàm Chánh thất phẩm, bắt phải về hưu và Hưng cách chức cho theo bộ cố sức làm việc chuộc tội.


    Điều Chưởng cơ lĩnh Trấn thủ Thanh Hoa Nguyễn Khả Bằng làm Trấn thủ Quảng Ngãi.


    Hộ bộ Thượng thư Lương Tiến Tường chết.


    Tường theo hầu lâu ngày, thông thạo việc quan. Vua rất tiếc, gia tăng hàm Hiệp biện Đại học sĩ, cho 100 lạng bạc, 3 cây gấm Tống, vải lụa mỗi thứ 10 tấm. Sai bộ Công đóng quan tài, bộ Binh phái lính hộ tang, cho tế một tuần. Cho con trưởng Tường là Tư vụ Lương Tiến Trí được gia ấm hàm Viên ngoại lang. Lại nghĩ Tường còn mẹ già 80 tuổi, cho 100 lạng bạc để dưỡng lão.


    Vua ra coi chầu, bảo thị thần rằng : “Vì cha mẹ, đi làm quan, là thường tình người làm con, nhưng chỗ vua tôi, cũng nên thể tất, mới là trung hậu. Ta xem Minh sử : Thần Tông còn ít tuổi lên ngôi, Trương Cư Chính giúp việc. Đương lúc vua còn thơ ấu, người nước nghi ngờ, một mình Cư Chính cầm nắm chính quyền, không khỏi có sự tự chuyên, nhưng bản tâm chưa từng làm bậy. Đến lúc Cư Chính chết đi, Thần Tông mê hoặc vì lũ tiểu nhân gièm pha, truy đoạt quan chức của Chính làm cho người mẹ không khỏi đói rét. Đối đãi với bề tôi như thế thực là bạc. Ta thương xót kẻ già yếu thực do tự bản tính, các ngươi nên nhận biết điều đó”.


    Cho Tả tham tri Lại bộ Vũ Xuân Cẩn thăng thự Công bộ Thượng thư, Hộ bộ Tả tham tri Trương Minh Giảng thăng thự Hộ bộ Thượng thư. Điều thự Công bộ Hữu tham tri Nguyễn Tú làm thự Lại bộ Tả tham tri và thăng Lễ bộ Tả thị lang Trương Đăng Quế lên thự Hộ bộ Tả tham tri.


    Triệu Đô thống thự Hậu quân ấn vụ, lĩnh Phó tổng trấn Bắc Thành Phan Văn Thuý về Kinh cung chức. Sai bọn Chưởng cơ Lê Văn Quý, Hình tào Tham tri Lê Đại Cương, Hộ tào Tham tri Đặng Văn Thiêm và kiêm biện Binh tào Nguyễn Văn Mưu cùng nhau quyền giữ ấn triện Tổng trấn Bắc Thành. Khi có việc tâu báo chuẩn cho đều hội hàm cùng ký tên vào tờ tâu.


    Gia hàm Đô thống cho Thống chế Nguyễn Văn Quế, vẫn cho cai quản biền binh thành hạt Gia Định.


    Điều thự Phó vệ uý vệ Hữu dực Hữu nhị dinh Vũ lâm là Nguyễn Văn Dụ làm thự Vệ uý Long võ Tiền vệ.


    Ngạch lính hai cơ Quảng Trị, Quảng Bình thiếu nhiều. Dụ sai các quan trấn, nghiêm sức người cai quản phải gấp mộ ngay. Hạn trong năm ấy phải đủ ngạch lính. Ai ra sức mộ được 50 người thì cho thực thự Suất đội. Nếu còn biếng nhác coi thường như trước thì bắt tội.


    Bầy tôi sáu bộ dâng sách lính Bắc Thành mới tuyển (số lính thiếu điều đủ, và số lính mới tuyển cộng 6.194 người) lại châm chước xét nghĩ công việc nên san bổ thế nào, tâu cả lên.


    (1. Số giản binh trước của 5 trấn thuộc thành hạt chia cho lệ thuộc vào 5 quân. Duy lính trấn Nam Định cho thuộc vào Tiền quân, về danh nghĩa là đúng ; số thừa ra bổ vào Hậu quân. Còn như Sơn Tây thuộc về Trung quân, số thừa bổ vào Tiền quân, Hữu quân, Hậu quân ; Sơn Nam thuộc về Hữu quân, số thừa bổ vào Tiền quân; Bắc Ninh thuộc về Tả quân, số thừa bổ vào Hậu quân ; Hải Dương thuộc về Hậu quân, thì về danh nghĩa hình như không đúng. Nay xin : Nam Định vẫn thuộc Tiền quân, Sơn Nam đổi thuộc Trung quân, Hải Dương đổi thuộc Tả quân, Sơn Tây đổi thuộc Hữu quân, Bắc Ninh đổi thuộc Hậu quân. Còn Chấn định ở Trung quân, Kính tiệp ở Tiền quân, Kiên nhuệ ở Tả quân, Hùng dũng ở Hữu quân, Oai thắng ở Hậu quân, đều vẫn để tên cũ.


    2. Địa hạt 5 trấn lớn nhỏ khác nhau, số lính cũng nhiều ít không đều nhau đáng nên chước lượng san bổ. Vậy xin đem huyện Từ Liêm trước thuộc Sơn Tây, đổi thuộc phủ Hoài Đức trấn Sơn Nam, số giản binh bổ gộp vào Trung quân ; phủ Khoái Châu trước thuộc Sơn Nam, đổi thuộc trấn Nam Định, số giản binh bổ gộp vào Tiền quân.


    3. Số lính mới tuyển, nay chiểu theo địa hạt đã định dàn bổ vào 5 quân. Mỗi quân 10 cơ, trong đó hạt thừa, hạt thiếu cũng có chỗ không đều nhau. Thí dụ như Sơn Nam, 10 cơ bộ binh ; 1 cơ thuỷ sư, lại thừa ra 1 cơ bộ binh ; Sơn Tây, 10 cơ bộ binh ; Nam Định, 10 cơ bộ binh, 3 cơ thuỷ sư, lại thừa ra 2 cơ bộ binh. Duy có Hải Dương, 5 cơ bộ binh, 2 cơ thuỷ sư, lại còn thiếu 5 cơ bộ binh. Vậy nay xin đem 3 cơ bộ binh thừa của Nam Định và 2 cơ bộ binh thừa của Bắc Ninh bổ vào Tả quân [của Hải Dương] cho đủ số 10 cơ. Còn 1 cơ bộ binh thừa của Sơn Nam, là lính quán ở phủ Hoài Đức thì đặt riêng làm cơ Hà thanh, vẫn cứ lưu ở hạt ấy để sai phái.


    4. Tứ dực cơ tuyển trước của ngạch thuỷ quân : Nam Định hơn 2 cơ, Hải Dương hơn 1 cơ, còn Sơn Nam chưa tuyển bổ. Nay xin Nam Định nên cử các huyện, các tổng gần sông biển đã tuyển thuỷ binh, bộ binh rồi lại chọn lấy thêm thuỷ binh, cho đủ số ba cơ trung, tả, hữu ; Hải Dương cũng cử các huyện, tổng gần sông biển đã tuyển thuỷ bộ binh rồi lại chọn thêm thuỷ binh cho đủ số hai cơ tả, hữu. Còn Sơn Nam xin dành riêng ra huyện Nam Xang là huyện hạ du để chọn lấy 1 cơ thuỷ sư.
  • Chia sẻ trang này