0060.0023

25/12/15
0060.0023
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    5. Theo sự phân bổ giản binh cũ, có khi cùng một huyện mà chia bổ 2, 3, cơ, có khi cùng 1 xã, mà chia bổ 2, 3 đội, như vậy chia xé ra quá. Nay xin chiếu theo sự liên tiếp của tổng, xã, phủ, huyện trong hạt mà bổ, bất cứ trước kia thuộc về cơ, đội quân nào, đều rút ra theo thứ tự bổ lại ; hoặc khi có cần đem mấy xã, thôn dồn thành một đội mà có thừa, thiếu dăm ba người cũng không cần trích ra, bổ riêng lẻ.


    6. Khi đã đồn bổ xong, nếu đội nào sẵn có suất thập thực thụ hay quyền sai, không cứ nhiều hay ít, đều xếp ở trên binh lính, không cần như trước cứ phải mỗi đội 4 thập, đội nào không có suất thập, không được đặt thêm.


    7. Các phường, các vạn, thuỷ cơ trong hạt, nên hãy để riêng ra giao cho sở tại xét kỹ tình hình, nên tuyển làm binh hay nên đặt thế nào, tiếp tục tâu sau)


    Vua ưng thuận lời bàn, dụ sai quyền chưởng Bắc Thành ấn triện là lũ Lê Văn Quý, Lê Đại Cương, Đặng Văn Thiêm, Nguyễn Văn Mưu, căn cứ vào số người trong sổ được tuyển bổ lựa phái những lang trung và Viên ngoại lang được việc ở các tào, chia đi các trấn, hội đồng với sở tại, đốc sức bắt lính điền ngạch. Rồi theo cơ đội thuộc vào quân hiệu nào, cùng với số lính hiện đã thực sự tại ngũ, làm thành danh sách, hạn đến cuối tháng 11 phải đệ đến bộ. Biền binh các cơ, đúng ngày 20 tháng 11 phải tề tập họp ở bản hạt. Những lính thuộc Tả quân : 3 cơ người Nam Định và 2 cơ người Bắc Ninh, cũng đến ngày 20 ấy phải điều đến Hải Dương. Các biền binh đều do quan địa phương chi cấp lương tháng, phân phái đi tuần phòng, và cắt lượt thao diễn.


    Đến lúc danh sách lính y hạn tâu lên. Vua phê khen lũ Lê Văn Quý, tha cả cho những án phạt bổng cả cũ lẫn mới, không cứ nhiều ít. Các ty thuộc, lại dịch chuyên làm việc ấy, đều được chia hạng bàn thưởng. Những lính mới tuyển đều được cấp áo quần và cho 1 quan tiền. Phàm các thứ binh khí nón và quai nón lính đều do nhà nước chế tạo và cung cấp, cấm không được yêu sách làm phiền dân.


    Xây đắp pháo đài Kim Dư ở Hà Tiên.


    Vua cho rằng Hà Tiên tiếp giáp với Xiêm và Chân Lạp, nên muốn cho biên phòng được hùng tráng, bèn sai Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt, xem xét những chỗ hình thế hiểm yếu ở trấn cũ, xây đài đặt súng để phòng bị cho nghiêm cẩn. Thế rồi chuẩn cho khởi công xây đắp pháo đài ở núi Kim Dư (núi ấy chu vi 133 trượng 5 thước, từ chân tường đến thân tường tầng dưới cao 5 thước 3 tấc, mặt rộng 8 thước, tầng trên cao 1 thước 2 tấc, mặt rộng 4 thước. Mé ngoài tường đài : chu vi 57 trượng, từ đằng trước đến đằng sau dài 17 trượng ; từ bên tả sang bên hữu, 11 trượng. Mặt trước đài dựng một cột cờ ; đằng sau đài mở một cửa. ở trong, dựng 1 toà nhà ngói 3 gian 2 chái, đặt súng đại bác. Hai bên dựng 2 cái nhà ngói đều 1 gian 2 chái để chứa thuốc đạn. Chân núi, phía sau đài, làm 2 cái nhà tranh, mỗi cái 5 gian 2 chái, để cho biền binh cư trú). Đến lúc đài xây xong, Lê Văn Duyệt xin phái hơn 160 biền binh, 3 thuyền Ô, Lê, giao cho Thành thủ uý Lê Văn Do cai quản đốc suất, theo lệnh trấn mà đóng giữ, cứ 3 tháng 1 lần đổi phiên. Vua y cho làm.


    Chuẩn định lệ thuế các mỏ sắt và các hộ biệt nạp thuế sắt ở các địa phương. Trước nộp sắt sống, nay đổi nộp sắt chín, được châm chước thu giảm phân số đi. (Các hộ làm sắt ở Quảng Nam, mỗi người mỗi năm nộp 50 cân sắt sống, nay đổi nộp 30 cân sắt chín. Các hộ làm sắt ở Bình Định mỗi người mỗi năm nộp 120 cân sắt sống, đổi nộp 72 cân sắt chín. Thuế sắt ở đầu nguồn Thuận Thành mỗi năm nộp 227 cân 8 lạng sắt ống, nay đổi nộp 159 cân 4 lạng chín. Các hộ người Trung Quốc làm nghề sắt ở thiết trường thuộc các trấn Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Thanh, Hà Tiên thuộc thành Gia Định, mỗi người mỗi năm nộp 50 cân sắt sống Hà Sung, nay đổi nộp 38 cân, 10 lạng sắt chín. Các hộ làm sắt ở Phú Yên, mỗi người mỗi năm nộp 64 cân, 4 lạng, 6 đồng cân sắt sống Ngưu Giang, nay đổi nộp 60 cân sắt chín ; hộ nào mỗi người mỗi năm nộp 120 cân sắt sống, nay đổi nộp 72 cân sắt chín. Các hộ làm sắt ở Thanh Hoa, mỗi người mỗi năm nộp 40 cân sắt sống, nay đổi nộp 28 cân sắt chín. Các hộ làm sắt ở Bắc Ninh thuộc Bắc Thành mỗi người mỗi năm nộp sắt sống 60 cân, đổi nộp 48 cân sắt chín. Các hộ làm sắt ở Cao Bằng mỗi người mỗi năm nộp sắt sống 50 cân nay đổi nộp 24 cân sắt chín. Mỏ Đồng Hoà ở Bắc Ninh mỗi năm nộp 300 cân sắt sống, nay đổi nộp 240 cân sắt chín. ở Cao Bằng mỏ Đông Nam, mỗi năm nộp 110 cân sắt sống, nay đổi nộp 88 cân sắt chín ; mỏ Khai Hoà, mỗi năm nộp 500 cân sắt sống, nay đổi nộp 400 cân sắt chín. ở Sơn Tây mỏ Bàn Lập, mỗi năm nộp 300 cân sắt sống, nay đổi nộp 240 cân sắt chín. ở Lạng Sơn mỏ Đa Lịch mỗi năm nộp 200 cân sắt sống, nay đổi nộp 160 cân sắt chín ; mỏ Lãnh Xá, mỗi năm nộp 150 cân sắt sống, nay đổi nộp 120 cân sắt chín ; ở Tuyên Quang mỏ Bình Di mỗi năm nộp 600 cân sắt sống, nay đổi nộp 480 cân sắt chín ; mỏ Phú Linh, mỗi năm nộp 400 cân sắt sống, nay đổi nộp 320 cân sắt chín ; ở Thái Nguyên mỏ Linh Nham mỗi năm nộp 1.200 cân sắt sống, nay đổi nộp 960 cân sắt chín ; mỏ Phú Nang mỗi năm nộp 2.500 cân sắt sống, nay đổi nộp 2.000 cân sắt chín ; mỏ Nà Khôn mỗi năm nộp 2.000 cân sắt sống, nay đổi nộp 1.600 cân sắt chín ; mỏ Vân Đồn mỗi năm nộp 600 cân sắt sống, nay đổi nộp 480 cân sắt chín ; ba mỏ Nà Hoá, Quan Hoà, Cù Vân mỗi mỏ mỗi năm nộp 300 cân sắt sống, nay đều đổi nộp 240 cân sắt chín).


    Định lệ các hộ ở Bắc Thành nộp thuế diêm tiêu thay bằng tiền. (Các hộ đóng thuế diêm tiêu, có hạng mỗi năm mỗi người nộp 12 cân, có hạng mỗi năm mỗi người nộp 6 cân. Nay người nào được ấn định nộp 12 cân thì nộp 8 quan, người nào 6 cân, nộp tiền 4 quan).



    Cho con đẻ các quan võ từ Thống chế trở lên được ấm chức. Con Trần Văn Năng là Cẩm y Hiệu uý Trần Văn Lân, con Tống Phước Lương là Hiệu uý Tống Phước Giai, con Nguyễn Văn Xuân là Hiệu uý Nguyễn Văn Thu, con Nguyễn Văn Hiếu là Cai đội Nguyễn Văn Tồn, đều được gia ấm chức là Phó vệ uý, hàm Tòng tam phẩm. Con Đoàn Văn Trường là Chánh đội trưởng Đoàn Văn Sách, gia ấm chức Phó quản cơ, hàm Tòng tứ phẩm. Con Đỗ Quý là Đỗ Tắc, con Tạ Quang Cự là Tạ Quang Tri đều được dùng làm Cai đội cấm binh. Con Phạm Văn Lý là Phạm Văn Châu được dùng làm Chánh đội trưởng cấm binh.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Lệ thế tập ((1) Thế tập : chức tước cha truyền con nối.) đời xưa, là để đền công. Nhưng con cháu công thần, nếu có người hư hỏng triều đình phải truất bãi thì lại thương tổn đến ân điển. Thí dụ như nhà Hán phong các tước hầy chỉ núi vạch sông mà thề nhưng mới một vài đời chỉ còn có 3, 4 người, thì sách thề cũng chỉ là hão ! Chẳng gì bằng luận công phong tước chỉ nên đối với bản thân người công thần ấy, còn con cháu thì tuỳ tài trao chức, thế là giữ cho trọn vẹn, cứ gì phải thế tập mới là đền công ?


    Quan trấn Thanh Hoa tâu : “Việc làm địa bạ, dân trong hạt nhiều người kêu ruộng đất bị thiếu, xin khám đạc lại, theo sự thực vào sổ”. Bộ Hộ đem việc đó tâu lên. Vua bảo : “Điền thổ ở dân gian đã có sổ sách làm bằng há nên nhẹ dạ nghe lời một vài người dân nhỏ mà hơi tí làm cho phiền nhiễu. Hơn nữa, dân tình mong thêm mong bớt, gian dối trăm khoé, một khi chiều lòng họ thì người này người khác bắt chước nhau rồi cứ kêu ca đến đâu lại đo đạc đến đấy biết bao giờ xong mà làm thành được địa bạ ?” Rồi không cho khám đạc như lời xin.


    Kinh đô mưa, rét. Vua sai bộ Binh truyền dụ bọn quản quân và các giám tu hãy cho các sở công dịch ((2) Công dịch : công việc lao dịch phục vụ bọn vua quan.2) tạm nghỉ việc dăm ba ngày, đợi trời tạnh sẽ làm.


    Vua lại thương tình Chưởng doanh Trần Văn Năng tuổi già, sắc cho được miễn vào túc trực, đợi sang xuân ấm áp, sẽ chiếu ban vào thường trực như cũ.


    Giáng thự Hiệp trấn Hải Dương Hoàng Tế Mỹ xuống làm Tham hiệp. Mỹ, trước ở Nam Định, cùng với Trấn thủ Hồ Văn Vân phạm vào việc tha người dân trong hạt là Nguyễn Bá Uân can án thông đồng với giặc. Đến bấy giờ đình thần bàn: Vân phải cách chức, Mỹ phải giáng 2 cấp và điều xuống chức khác. Vua đặc cách giáng Mỹ xuống làm Tham hiệp nhưng vẫn nghĩ là giáng 2 cấp và được lưu. Vân vào Kinh đợi chỉ. Khi đến nơi, giáng làm Thành thủ uý đạo Cam Lộ.


    Bộ Lễ bàn tâu, cho rằng theo lệ trước, lụa lễ dùng để tế Giao : lụa hạng nhất, do Vũ khố dệt ; lụa hạng nhì và hạng ba, do Bắc Thành mua. Rượu nếp để tế lễ và rượu thường để yến tiệc thì : rượu nếp do Vũ khố nấu, rượu thường nấu bằng gạo hom, giao cho Thừa Thiên nấu nộp. Những thứ lụa và rượu dùng vào việc lễ này là việc quan hệ. Vũ khố là chỗ công việc lổn nhổn mà đem dệt lụa, nấu rượu ở đấy, sợ không được sạch sẽ. Hơn nữa, luạ dệt dài, ngắn, dẫu đã có mẫu, nhưng thể dày, mỏng, nặng, nhẹ, chưa có phân biệt. Rượu gạo hom cũng còn dùng vào việc tế lễ, không những chỉ chuyên dùng vào việc yến tiệc mà cho nhà dân nấu nộp thì cũng không nên. Vậy xin : từ nay, việc dệt lụa giao cho Thái thường tự, rượu lễ giao cho Quang lộc tự, dùng hành lang bên hữu trước sân Quốc sử quán làm chỗ dệt lụa và nấu rượu. Các nơi đó, cứ chiếu số tơ, số gạo cần dùng bao nhiêu, xin lĩnh ở kho ra mà làm.


    1. Lục lễ. - Hằng năm, các lễ tế Giao, tế Miếu đều dùng :


    a. Lụa hạng nhất 135 tấm, mỗi tấm dài 9 thước, tất cả là 1.215 thước ; mỗi thước dệt hết 3 đồng cân 6 phân, tơ công cần dùng 27 cân 5 lạng 4 đồng cân tơ, do Nội vụ chiếu lĩnh tơ trong kho, thuê thợ dệt thành lụa.


    b. Lụa hạng nhì 42 tấm, mỗi tấm dài 7 thước, tất cả là 294 ((1) Nguyên thư in lầm là 194 thước. Khi dịch, chúng tôi sửa lại cho đúng 1 x 7 x 42 = 294.) thước, mỗi thước dùng 3 đồng cân 2 phân tơ.


    c. Lụa hạng ba, 96 tấm, mỗi tấm dài 5 thước, tất cả là 480 thước, mỗi thước dùng 2 đồng cân 8 phân tơ ; cộng phải dùng 13 cân 7 lạng 4 đồng cân 8 phân tơ. [Hai hạng lụa này] vẫn do Bắc Thành theo mẫu mà làm nộp.


    2. Rượu thường và rượu nộp. - Hằng năm, theo lệ các lễ cần dùng rượu nếp 610 cân 15 lạng 3 đồng cân rượu thường bằng gạo hom 279 cân 10 lạng 3 đồng cân yến tiệc, dùng rượu gạo hom 2.920 cân. Mỗi 1 phương gạo nếp nấu thành rượu được 8 cân 8 lạng 8 đồng cân cần phải chi gạo nếp hết 71 phương 5 thưng 9 cáp. Mỗi 1 phương gạo lương nấu thành rượu được 11 cân 3 lạng 5 đồng cân 5 phân, cần phải chi gạo lương hết 285 phương 6 cáp. Điều dân các xã lành nghề nấu rượu ở Thừa Thiên đến sở để nấu.


    Vua theo lời bàn này. Sau đó, lại sắc sai rượu gạo hom, theo lệ, vẫn phát gạo lương để nấu, từ nay đổi dùng gạo trắng Gia Định cho được tốt và thơm, để xứng đáng ý nghĩa làm lễ. (Nghị trước : hằng năm phải chi hơn 285 phương gạo lương, nay đổi dùng gạo trắng Gia Định hơn 259 phương).


    Điều thự Thượng thư bộ Công Vũ Xuân Cẩn làm thự Thượng thư bộ Hình. Thăng Lang trung bộ Công Phạm Xuân Bích lên thự Tả thị lang bộ Lại, Lang trung bộ Hộ Đặng Văn Bằng lên Hữu thị lang bộ Lại sung chức Thương trường ((2) Thương trường : Trường sở có các kho tàng lương thực.) Thị lang. Bổ nguyên thự Hiệp trấn Quảng Trị Đỗ Khắc Thư làm Phủ doãn Thừa Thiên. Dùng thự Hiệp trấn Quảng Bình là Thân Văn Quyền làm Hộ bộ Tả thị lang, sung làm việc Nội các, thăng Hàn lâm Thị độc học sĩ sung làm việc Nội các là Tôn Thất Bạch lên thự Lễ bộ Tả thị lang.


    Bắt đầu hạ lệnh cho từ Quảng Trị trở ra Bắc chia hạt, đặt quan.


    Vua dụ bầy tôi rằng : “Dựng các trấn làm bình phong và đặt các quan chức để cai trị, là chính sách lớn của triều đình, mà gặp việc phải châm chước sửa đổi là cốt cho thích hợp với công cuộc kinh lý. Nhà nước ta gây nền ở cõi nam, các trấn hạt đều đặt viên chức chuyên giữ việc chăn nuôi dân. Đến lúc Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta thu về một mối có cả nước Việt. Bắc Thành, 11 trấn, đất rộng, việc nhiều, lúc trong nước bình định hẳn rồi, chỉ giao cho viên quan to chuyên trông coi và chia đặt ra các tào giúp việc. Công việc các trấn đều thuộc về đấy cả. Đó chỉ là lúc bắt đầu quyền nghi tạm đặt. Thánh minh lo xa vẫn muốn sửa đổi lại, nhưng lúc mới khai sáng còn chưa kịp làm. Ta nay kính nối Phước xưa, mong theo chí trước, nghĩ rằng : các địa phương ấy, các việc quân, dân, kiện tụng, tiền lương, thuế khoá, thực là bề bộn. Cần phải chiểu theo địa hạt chia người coi giữ cho có chuyên trách, cho chí các hạt Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình về phía bắc kinh kỳ cũng nên sửa đổi một thể và chia đặt ra quy tắc. Như thế thì quan chức không đến nỗi quá bộn, công việc cũng được thoả thuận, tiện nghi, mới có thể không để tệ về sau, giữ mãi được Phước tốt ức muôn năm vô cùng. Lũ ngươi nên hết lòng bàn kỹ để tâu lên”.


    Đình thần hội bàn, cho rằng : “Chức quan ngoài, đời xưa có phương bá ((1) Phương bá : các nước chư hầu ở bốn phương, mỗi phương gọi là một phương bá, như Đông phương bá, Tây phương bá…), châu mục ((2) Trung Quốc xưa chia làm 9 châu, mỗi châu có một châu mục, như Kinh châu mục, Duyện châu mục, v.v…). Các đời Hán, Đường, Tống xếp đặt mỗi đời khác nhau. Đến Minh, Thanh thời châm chước ngày càng kỹ càng đầy đủ. Tỉnh hạt đặt ra 2 ty Bố chính, án sát, chia giữ các việc tài chính thuế khoá và pháp luật. Lại có Tổng đốc, Tuần phủ để thống trị. Trong đó, quyền hành nặng, nhẹ kiềm chế lẫn nhau, chức tước lớn, nhỏ, ràng buộc lấy nhau, thực là một chính sách hay trong việc giữ nước trị dân. Nếu mô phỏng mà làm, tưởng cũng có lợi nhiều lắm. Nay tạm nói đại lược như sau :


    1. Từ trước đến nay, 11 trấn thống thuộc cả về một viên tổng trấn Bắc Thành, quyền hành to quá. Nay theo từng hạt chia đặt thì sau này sẽ không có cái lo đuôi to khó vãy, mà các hạt ấy lại như phên giậu ràng buộc lẫn nhau, nước nhà sẽ được bền vững. Đó là cái lợi thứ nhất.


    2. Từ trước tới nay, quân sự, dân sự 11 trấn đều do một viên tổng trấn coi giữ việc bộn mà phức tạp thừa hành cũng khó. Nay nhân địa thế, chia đặt ra từng tỉnh tỉnh nào cũng có quan ty chuyên trách thì chức phận không quá nặng, công việc cũng không bận rộn, người gánh trách nhiệm không đến nỗi nặng quá, không làm nổi. Đó là cái lợi thứ hai.


    3. Từ trước đến nay, số viên chức các tào rất nhiều. Nay bỏ bớt đã khỏi cái phiền lựa chọn bổ nhiệm mà công việc cũng tránh được cái chậm trễ. Đó là cái lợi thứ ba.


    4. Từ trước đến nay, công việc các trấn tất do thành chuyển đạt vào Kinh, thì tình hình về công trạng hay tội lỗi của quan lại vị tất đã lọt cả đến tai nhà vua. Nay đặt riêng nha chuyên trách, sự việc gì được tâu thẳng, thì ai hay, ai dở dễ biết, mà người này người khác cùng trông nhau mà biết phấn khởi cố gắng, quan trường càng được lọc trong. Đó là cái lợi thứ tư.


    5. Từ trước đến nay, việc trấn đều hội đồng bàn luận cùng làm, kẻ hay người dở không có phân biệt. Nay công việc đã có phân nhiệm thì trách nhiệm đã có người chịu mọi việc để được chỉnh lý. Đó là cái lợi thứ năm.


    6. Từ trước đến nay, trấn thủ các trấn hoặc có kẻ nghĩ mình là người đứng đầu giữ ấn, các việc đều muốn tự chuyên quyết định một mình, còn Hiệp trấn, Tham hiệp thường nghĩ ngôi vị mình ở dưới, không khỏi có sự hay đùn việc, không dám làm. Nay có Tổng đốc, Tuần phủ nắm lấy đại cương mà Bố chính, án sát chuyên giữ từng việc thì người nào cũng cố gắng công việc sẽ được thành tựu. Đó là cái lợi thứ sáu.


    7. Từ trước đến nay, binh lính tụ cả ở Bắc Thành, các trấn hễ có việc đánh bắt giặc cướp, tất phải đợi quân ở thành, thường phải đợi đến hằng tuần, hằng tháng, nên thường có cái lo roi dài không đánh đến bụng ngựa. Nay các hạt đều có trọng binh, thì đủ sức để cầm phòng mà trộm giặc có thể phải nín thở. Đó là cái lợi thứ bảy.


    8. Từ trước đến nay, những biền binh đi dẹp giặc cướp đều do thành điều khiển, đối với sự đau đớn của dân, biền binh không quan thiết gì đến lắm, nên không chịu hết sức, thậm chí còn mượn cớ sách nhiễu dân, làm cho tình quan với dân sinh xa cách, khi có kêu gọi việc gì, dân không chịu ứng phó nhanh nhẹn. Giặc cướp, không dẹp tan được, là bởi vì cớ đó. Nay các hạt đều có Lãnh binh mà biền binh lại là người thổ trước, thì Lãnh binh đã có chuyên trách không còn dám đem đẩy cho ai, mà quân với dân có quan hệ như cùng một thân thể. Họ vì triều đình ra sức, cũng tức là để giữ nhà, giữ làng của họ, thì tự nhiên thu được thanh hiệu dẹp giặc, yên dân. Đó là cái lợi thứ tám.


    9. Từ trước đến nay, việc bắt binh lính để điền ngạch tất do Binh tào Bắc Thành, sự đi lại chờ chực càng thêm phiền chí. Nay đều do địa hạt tự bắt lấy lính, đã không có cái phiền xét hỏi nhiều lần thì việc lính dễ được đủ ngạch. Đó là cái lợi thứ chín.


    10. Từ trước đến nay, tiền và thóc nộp thuế có thứ nộp ở trấn, có thứ nộp ở thành, thực là chia trách lôi thôi. Nay ngạch thuế đều do địa phương trưng thu tiện cho dân không phải phí tổn chuyên chở. Đó là cái lợi thứ mười.


    11. Từ trước đến nay, lương thướng của binh lính vẫn do thành cấp phát, khi phát không đủ thì chia đi lĩnh ở các hạt đã không tiện, lại nảy sinh cái tệ bao mua. Nay sở tại đều có kho chứa để cấp phát lương cho biền binh trong hạt mình thì rất giản tiện. Đó là cái lợi thứ mười một.


    12. Từ trước đến nay, nhân dân thuộc thành muốn kêu xin xét xử việc gì tất phải nộp đơn ở thành để xin Phước thẩm rồi thành lại giao về cho nha phủ, huyện, trấn, đi lại, đòi hỏi không phải không có sự phiền luỵ. Nay để trong hạt chuyên việc xét xử, nhân dân được đến chỗ gần hầu kiện, không có cái phiền chỗ nọ giao đi chỗ kia. Đó là cái lợi thứ mười hai.


    13. Từ trước đến nay, sổ sách văn án các trấn tất do thành thẩm xét, rồi mới phát đệ, chẳng khỏi kéo dài chậm trễ. Nay do địa phương làm xong để tâu thì công việc không đến nỗi trì trệ. Đó là cái lợi thứ mười ba.


    14. Từ trước đến nay, phủ huyện đệ án, do trấn lên thành, có kẻ mượn cớ đi theo án, thường thường đến thành, chơi bời thù tạc liên miên, nhiều khi bỏ bê việc quan. Nay việc án đều do thượng ty bản hạt đệ nộp họ không còn mượn cớ vào đâu mà bỏ việc nữa. Đó là cái lợi thứ mười bốn.


    15. Từ trước đến nay, các trấn thuộc thành, mọi việc đều do thành xử đoán. Nhiều kẻ hào cường điêu ngoa giảo hoạt, thường mượn oai quyền thế, doạ nạt bình dân, hiếp chế quan trên. Quan bản hạt không khỏi có chút e dè đến nỗi thiên vị chúng, làm cho kẻ gian xảo càng nhiều mãi ra. Nay quan bản hạt đều được giữ chức sự riêng, có thể khám phá những mưu gian, vạch ra những sự ẩn khuất thì cái việc chống thói khinh bạc, trừ thói điêu ngoan tưởng cũng là có cơ hội tốt. Đó là, cái lợi thứ mười lăm.


    Có 15 cái lợi ấy nay đem ra làm, dẫu lúc đầu xếp đặt hơi có bận rộn, nhưng một khi việc đã làm xong thì rồi nó cũng thành nếp quen. Đó thực là cái lợi nghìn muôn đời vô cùng.


    Nay xin căn cứ vào các hạt ở Bắc Thành và phía bắc kinh kỳ, lượng tính địa thế xa, gần, lớn, nhỏ mà chia hạt, đặt quan. Thiết lập các Tổng đốc, Tuần phủ, bố chánh, án sát, Lãnh binh, bỏ các chức tổng trấn và các tào của thành cũ cùng các chức Trấn thủ, Hiệp trấn, Tham hiệp ở các trấn trước. Vậy xin đem các điều khoản đã châm chước nghĩ ra kê rõ tâu lên :


    1. Chia định địa hạt các tỉnh :


    Quảng Bình : thống trị 1 phủ là Quảng Bình ; 4 huyện là Phong Lộc, Lệ Thuỷ, Bố Chính, Bình Chính.


    Quảng Trị : thống trị 2 phủ là Triệu Phong, Cam Lộ ; 3 huyện là Hải Lăng, Đăng Xương, Minh Linh, 10 châu là Hướng Hoá, Mường Vanh, Nà Bôn, Thượng Kế, Tá Bang, Xương Thịnh, Tầm Bồn, Ba Lan, Mường Bổng, Làng Thìn.


    Nghệ An : thống trị 9 phủ là Anh Sơn, Diễn Châu, Tương Dương, Quỳ Châu, Lạc Biên, Trấn Ninh, Trấn Tĩnh, Trấn Định, Trấn Biên ; 29 huyện là Nam Đường, Hưng Nguyên, Thanh Chương, Chân Lộc, Đông Thành, Quỳnh Lưu, Kỳ Sơn, Vĩnh Hoà, Trung Sơn, Thuý Vân, Liên Huyện, Khâm Huyện, Tương Dương, Hội Nguyên, Quảng Huyện, Xôi Huyện, Mộc Huyện, Xa Hổ, Sầm Tộ, Khang Huyện, Cát Huyện, Cam Linh, Thâm Nguyên, Yến Sơn, Mộng Sơn, Man Soạn, Mang Lạn, Cam Môn, Cam Cát.


    Hà Tĩnh : thống trị 2 phủ là Hà Hoa, Đức Thọ ; 6 huyện là Thạch Hà, Kỳ Hoa, Hương Sơn, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn.


    Thanh Hoa : thống trị 5 phủ là Hà Trung, Tĩnh Gia, Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Trấn Man ; 19 huyện là Tống Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Nga Sơn, Thuỵ Nguyên, Đông Sơn, An Định, Quảng Địa, Ngọc Sơn, Nông Cống, Quảng Xương, Lôi Dương, Thọ Xuân, Trình Cố, Vĩnh Lộc, Cẩm Thuỷ, Thạch Thành, Sầm Nưa, Man Xôi ; 3 châu là Lang Chánh, Quan Da, Tàm Châu.


    Hà Nội : thống trị 4 phủ là Hoài Đức, Thường Tín, ứng Hoà, Lý Nhân ; 15 huyện là Thọ Xương, Vĩnh Thuận, Từ Liêm, Thượng Phước, Thanh Trì, Thanh Oai, Chương Đức, Sơn Minh, Hoài An, Nam Xang, Duy Tiên, Bình Lục, Phú Xuyên, Kim Bảng, Thanh Liêm.


    Ninh Bình : thống trị 2 phủ là Yên Khánh, Thiên Quan ; 7 huyện là Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn, Kim Sơn, Phụng Hoá, An Hoá, Lạc Thổ.


    Nam Định : thống trị 4 phủ là Thiên Trường, Thái Bình, Nghĩa Hưng, Kiến Xương ; 17 huyện là Nam Chân, Giao Thuỷ, Thượng Nguyên, Mỹ Lộc, Phụ Dực, Quỳnh Côi, Đông Quan, Thuỵ Anh, Phong Doanh, Thiên Bản, Đại An, ý Yên, Tiền Hải, Thư Trì, Vũ Tiên, Chân Định, Thanh Quan.


    Hưng Yên : thống trị 2 phủ là Khoái Châu, Tiên Hưng ; 8 huyện là Tiên Lữ, Phù Dung, Thiên Thi, Đông An, Kim Động, Hưng Nhân, Thần Khê, Duyên Hà.


    Hải Dương : thống trị 4 phủ là Bình Giang, Ninh Giang, Nam Sách, Kinh Môn; 18 huyện là Cẩm Giàng, Đường Hào, Đường An, Tứ Kỳ, Vĩnh Lại, Thanh Miện, Gia Lộc, Chí Linh, Thanh Lâm, Thanh Hà, Tiên Minh, An Dương, An Lão, Nghi Dương, Thuỷ Đường, Đông Triều, Kim Thành, Giáp Sơn.


    Quảng Yên : thống trị 1 phủ là Hải Đông ; 3 huyện là Hoa Phong, Hoành Bồ, Yên Hưng ; 3 châu là Vạn Ninh, Vân Đồn, Tiên Yên.


    Sơn Tây : thống trị 5 phủ là Quốc Oai, Vĩnh Tường, Lâm Thao, Quảng Oai, Đoan Hùng ; 22 huyện là Yên Sơn, Yên Lạc, Thạch Thất, Yên Lãng, Bạch Hạc, Lập Thạch, Mỹ Lương, Phù Ninh, Đan Phượng, Sơn Vi, Hoa Khê, Thanh Ba, Hạ Hoa, Tiên Phong, Minh Nghĩa, Bất Bạt, Phước Thọ, Tây Quan, Đăng Đạo, Tam Dương, Sơn Dương, Hùng Quan.


    Hưng Hoá : thống trị 3 phủ là Quy Hoá, Gia Hưng, An Tây ; 5 huyện là Văn Chấn, Yên Lập, Tam Nông, Trấn Yên, Thanh Xuyên ; 16 châu là Thuỷ Vĩ, Văn Bàn, Sơn La, Thuận Châu, Tuần Giáo, Mai Sơn, An Châu, Ninh Biên, Mộc Châu, Đà Bắc, Phù Hoa, Mai Châu, Chiêu Tấn, Luân Châu, Lai Châu, Quỳnh Nhai.


    Tuyên Quang : thống trị 1 phủ là Yên Bình ; 1 huyện là Hàm Yên ; 5 châu là Vị Xuyên, Thu Châu, Đại Man, Lục Yên, Bảo Lạc.


    Bắc Ninh : thống trị 4 phủ là Từ Sơn, Thiên Phước, Thuận An, Lạng Giang ; 20 huyện là Tiên Du, Võ Giàng, Quế Dương, Yên Phong, Thiên Phước, Hiệp Hoà, Kim Hoa, Việt Yên, Lang Tài, Gia Lâm, Văn Giang, Gia Bình, Siêu Loại, Yên Thế, Yên Dũng, Bảo Lộc, Hữu Lũng, Phượng Nhãn, Lục Ngạn, Đông Ngàn.


    Thái Nguyên : thống trị 2 phủ là Thông Hoá, Phú Bình ; 9 huyện là Cảm Hoá, Tư Nông, Bình Tuyền, Phú Lương, Võ Nhai, Đại Từ, Phổ Yên, Văn Lãng, Động Hỷ; 2 châu là Bạch Thông, Đinh Châu.


    Lạng Sơn : thống trị 1 phủ là Trường Khánh ; 7 châu là Ôn Châu, Thất Tuyền, Lộc Bình, Thoát Lãng, Yên Bác, Văn Quan, Văn Uyên.


    Cao Bằng : thống trị 1 phủ là Trùng Khánh ; 4 châu là Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang, Thạch Lâm.


    Cam Lộ tỉnh Quảng Trị, nguyên trước là đạo, nay thăng làm phủ.


    Hà Tĩnh là một số phủ huyện trước thuộc Nghệ An, nay trích ra đặt làm tỉnh.


    Hà Nội là phủ Hoài Đức thuộc Bắc Thành trước, nay hợp với cùng trấn Sơn Nam mà đổi đặt làm tỉnh.


    Huyện Từ Liêm trước thuộc phủ Quốc Oai (Sơn Tây) nay đổi thuộc vào phủ Hoài Đức.


    Huyện Thanh Quan Nam Định, trước thuộc phủ Tiên Hưng, nay đổi thuộc phủ Kiến Xương.


    Hưng Yên là trích lấy phủ Khoái Châu trước thuộc Sơn Nam và phủ Tiên Hưng trước thuộc Nam Định, đặt riêng làm tỉnh.


    Huyện Tam Nông Hưng Hoá trước thuộc Lâm Thao, Sơn Tây, nay đổi thuộc phủ Gia Hưng [tỉnh Hưng Hoá].


    Về sau, Hải Dương có tên riêng gọi là tỉnh Đông, Quảng Yên, có tên riêng là tỉnh Hải ((1) Nguyên văn là “Hải tỉnh” .).


    II. Đặt các chức quan :


    Các hạt Bình Trị ((2) Quảng Bình, Quảng Trị.), An Tĩnh ((3) Nghệ An, Hà Tĩnh.), Thanh Hoa, Hà Ninh ((4) Hà Nội, Ninh Bình.), Định Yên ((5) Nam Định, Hưng Yên.), Hải Yên((6) Hải Dương, Quảng Yên.), Ninh Thái ((7) Bắc Ninh, Thái Nguyên.), Sơn Hưng Tuyên ((8) Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang.) đều đặt Tổng đốc, lĩnh công việc Tuần phủ, lấy các chức Đô thống, Thượng thư, Thống chế sung bổ. Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hoá, Lạng Sơn đều đặt Tuần phủ, lĩnh công việc Bố chính, lấy các chức Tham tri, Thị lang sung bổ. Thái Nguyên, Tuyên Quang thì dùng Bố chính sứ thự lý Tuần phủ ấn vụ.


    Tổng đốc chuyên hạt ((9) Chuyên hạt : chuyên chủ công việc trong hạt mình hiện đóng.) một tỉnh và kiêm hạt ((10) Kiêm hạt : kiêm lý công việc một hạt ngoài hạt mình thống trị.) 1 tỉnh, thí dụ như Bình Trị Tổng đốc chuyên hạt Quảng Bình, kiêm hạt Quảng Trị. Quan hàm biên là : “Binh bộ Thượng thư kiêm Đô sát viện Hữu đô ngự sử, Tổng đốc, Quảng Bình, Quảng Trị đẳng sứ địa phương đề đốc quân vụ kiêm lý lương thướng lĩnh Quảng Bình Tuần phủ sự”. Ngoài ra theo đó mà suy. Duy Thanh Hoa chỉ chuyên hạt 1 tỉnh, Sơn Hưng Tuyên thì kiêm hạt những 2 tỉnh.


    Tuần phủ chuyên hạt 1 tỉnh, như Tuần phủ Quảng Trị. Quan hàm biên là “Binh bộ Tham tri hoặc Thị lang kiêm Đô sát viện Hữu phó đô ngự sử, Tuần phủ, Quảng Trị đẳng xứ địa phương, Đề đốc quân vụ kiêm lý lương thướng, lĩnh Bố chính sự”. Duy có Lạng Bình ((11) Lạng Sơn, Cao Bằng.) thì kiêm hạt 1 tỉnh.
  • Chia sẻ trang này