0060.0024

25/12/15
0060.0024
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Bố chính và án sát - Bố chính thự lý Tuần phủ, như : Bố chính Thái Nguyên, quan hàm biên là : “Thái Nguyên đẳng xứ địa phương Thừa tuyên Bố chính sứ ty Bố chính sứ, thự lý Tuần phủ ấn vụ”. Bố chính sứ trật Chánh tam phẩm, án sát trật Tòng tam phẩm. Tỉnh nào thuộc Tổng đốc chuyên hạt hay Tuần phủ kiêm hạt thì đặt Bố chính, án sát mỗi chức 1 viên. Tỉnh nào có Tuần phủ lĩnh công việc Bố chính thì chỉ đặt một viên án sát. Quan hàm như : Bố chính Quảng Bình, biên rằng: “Quảng Bình đẳng xứ địa phương, Thừa tuyên Bố chính sứ ty Bố chính sứ”. án sát thì biên “Quảng Bình đẳng xứ địa phương Đề hình án sát sứ ty án sát sứ”. Ngoài ra theo đó mà suy. Hai ty Bố chính, án sát, mỗi ty đặt 1 Thông phán, 1 Kinh lịch.


    Bát phẩm Thư lại ty Bố chính - Quảng Bình 3, Quảng Trị 2, Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh đều như Quảng Bình, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng đều như Quảng Trị.


    Cửu phẩm thư lại. Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh đều 6 viên ; Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên đều 5 viên, Lạng Sơn 4 viên ; Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng đều 3 viên.


    Vị nhập lưu thư lại - Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, đều 60 viên, Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Lạng Sơn đều 40 viên ; Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng đều 30 viên.


    Thư lại ty án sát - Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh đều 2 Bát phẩm, 4 Cửu phẩm, 40 Vị nhập lưu thư lại. Nghệ An, Bát, Cửu phẩm cũng như những tỉnh trên, Vị nhập lưu 30 viên. Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên đều 1 Bát phẩm, 3 Cửu phẩm, 20 Vị nhập lưu. Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng đều 1 Bát phẩm, 2 Cửu phẩm, 20 Vị nhập lưu.


    Lãnh binh quan - Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh đều dùng quan nhị, tam phẩm ; Quảng Bình, Quảng Trị, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn, đều dùng quan tam, tứ phẩm ; Cao Bằng dùng quan tứ phẩm.


    Thuỷ sư Lãnh binh quan - Dùng quan Tam, Tứ phẩm. Các địa phương Quảng Bình, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Thanh Hoa, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng, mỗi nơi đều đặt 1 Lãnh binh, chuyên cai quản bộ binh ; Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, đều 2 Lãnh binh quan chia nhau cai quản bộ binh. Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương đều đặt 1 Thuỷ sư Lãnh binh quan chuyên cai quản thuỷ binh. Ninh Bình thuộc về kiêm hạt của Tổng đốc Hà - Ninh, Hưng Yên thuộc về kiêm hạt của Tổng đốc Định - Yên, Quảng Yên thuộc về kiêm hạt của Tổng đốc Hải - Yên, Thuỷ sư do các Tổng đốc phái đi tuần phòng đóng giữ. Sơn - Hưng - Tuyên, Ninh - Thái, Lạng - Bình đều là đất thượng du, không đặt thuỷ sư.


    Quảng Bình : Bộ binh có cơ Quảng Bình, cơ Quảng tượng, lại 1 vệ Thần sách thú binh của Nghệ An, mỗi năm 1 lần đến đổi phái. Thuỷ sư thì có thuỷ cơ Quảng Bình.


    Quảng Trị : Bộ binh có cơ Quảng tượng ((1) Có lẽ là Quảng Trị cơ (cơ binh Quảng Trị) đã viết lầm ra Quảng Tượng cơ (cơ voi tỉnh Quảng) nhất là liền ngay dưới đã có “Trị tượng cơ” (Cơ voi tỉnh Quảng Trị) rồi.), cơ Trị tượng, cơ Định man.


    Nghệ An : Bộ binh có 6 vệ là : Tuyển phong tiền, Phấn võ, Trung võ, Trang võ, ở Tiền dinh Thần sách và các vệ Cường võ, Tráng võ ở Hậu dinh ; 4 vệ : Tuyển phong tả, Diệu võ, Định võ, Nghiêm võ, ở Tả dinh và An tượng cơ. Thuỷ sư thì có Nghệ An, Trung thuỷ, Tả thuỷ, Hữu thuỷ 3 cơ. Lấy Trung tiệp cơ đổi làm Nghệ An Trung thuỷ cơ, còn 2 cơ Tả, Hữu, đợi sau sẽ lập.


    Hà Tĩnh : Bộ binh có 4 vệ : Oai võ, Dương võ, Toàn võ, Minh võ ở Trung dinh Thần sách, cơ Hà Tĩnh, nguyên là 2 đội An ngãi nhất, An ngãi nhị ở Nghệ An dồn đổi lại. Nếu còn thiếu sẽ mộ thêm cho đủ 10 đội.


    Thanh Hoa : Bộ binh có 4 vệ : Tuyển phong hữu, Túc võ, Cung võ, Nghĩa võ ở Hữu dinh Thần sách và 2 vệ : Tuyển phong hậu, Quảng võ ở Hậu dinh và Hoa tượng cơ. Thuỷ sư thì có 2 cơ Thanh Hoa tả thuỷ, Thanh Hoa hữu thuỷ. Lấy cơ Trung dực đổi làm cơ Thanh Hoa tả thuỷ, còn hữu thuỷ cơ sau này sẽ lập.


    Hà Nội : Bộ binh có 10 cơ Chân định của Trung quân, cơ Thiện võ, cơ Hà Nội (nguyên là cơ Sơn Nam trước đổi ra), cơ Nghiêm dũng (nguyên là vệ Nghiêm dũng trước đổi ra), Hà Nội tượng cơ. Thuỷ sư thì có Hà Nội thuỷ cơ, Hà thanh cơ.


    Ninh Bình : Bộ binh có 4 cơ : Ninh Bình tiền, tả, hữu, hậu và cơ Ninh tượng.


    Nam Định : Bộ binh có 10 cơ Kính tiệp của Tiền quân, Tráng oai cơ, Nam Định cơ, Lạc dũng cơ, nguyên là vệ Lạc dũng trước đổi ra Nam Định tượng cơ, thuỷ sư thì có 3 cơ : Nam Định trung thuỷ, tả thuỷ, hữu thuỷ (nguyên là các dực cơ đổi ra).


    Hưng Yên : Bộ binh có cơ Hưng Yên nguyên là 3 đội Kiên phú, Kiên thắng, Kiên tiệp trước dồn lại. Lại có 3 cơ Bắc Thành do Nam Định phái đến đóng giữ.


    Hải Dương : Bộ binh có 10 cơ Kiên nhuệ của Tả quân (5 cơ người Hải Dương, 3 cơ người Nam Định, 2 cơ người Bắc Ninh), Chính võ cơ, Hải Dương cơ, Hải Dương tượng cơ. Thuỷ sư có 2 cơ Hải Dương tả thuỷ, Hải Dương hữu thuỷ.


    Quảng Yên : Bộ binh có cơ Quảng Yên, cơ Quảng hùng, lấy 1 cơ Bắc binh do Hải Dương phái đến đóng giữ.


    Sơn Tây : Bộ binh có 10 cơ Hùng dũng của Hữu quân, Võ dũng cơ, Sơn Tây cơ, Sơn Tây tượng cơ.


    Hưng Hoá : Bộ binh có cơ Hưng Hoá, cơ Hưng hùng, lại 1 cơ Bắc binh do Sơn Tây phái đến đóng giữ.


    Tuyên Quang : Bộ binh có cơ Tuyên Quang, cơ Tuyên hùng.


    Bắc Ninh : Bộ binh có 10 cơ Oai thắng của Hậu quân, Cự oai cơ, Bắc Ninh cơ, Bắc thuận cơ, Bắc Ninh tượng cơ.


    Thái Nguyên : Bộ binh có cơ Thái Nguyên, cơ Thái hùng.


    Lạng Sơn : Bộ binh có cơ Lạng Sơn, có Hiệu thuận, cơ Lạng hùng.


    Cao Bằng : Bộ binh có cơ Cao Bằng, cơ Cao hùng.


    III. Phân chia chức sự coi giữ :


    Tổng đốc giữ việc cai trị cả quân, dân, cầm đầu các quan văn quan võ trong toàn hạt. Khảo hạch các quan lại, sửa sang bờ cõi.


    Tuần phủ giữ việc tuyên bố đức ý triều đình, vỗ yên nhân dân, coi giữ các việc chính trị, giáo dục, mở điều lợi, bỏ điều hại.


    Bố chính sứ giữ việc thuế khoá, tài chính toàn hạt. Triều đình có ân trạch, chính lệnh gì ban xuống thì truyền đạt cho các người phần việc.


    án sát sứ giữ việc kiện tụng hình án trong toàn hạt, chấn hưng phong hoá, kỷ cương, trừng thanh các quan lại, kiêm coi công việc chạy trạm trong hạt, khi có những việc trọng đại hai ty (Bố chính, án sát) hội đồng bàn bạc, rồi trình bày với Tổng đốc hay Tuần phủ mà làm.


    IV. Quy tắc làm việc.


    1. Tổng đốc, Tuần phủ hay các viên thự lý Tuần phủ ấn vụ, công việc cũng như nhau. Phàm trong hạt sự việc gì nên tâu báo, đều được làm chuyên tập tâu lên. Duy Tuần phủ [ở tỉnh do Tổng đốc] kiêm hạt, khi có chính sự lớn lao về việc hưng lợi trừ tệ thì cùng với Tổng đốc bàn bạc rồi ký tên tâu chung một giấy. Nếu ý kiến khác nhau, thì cho làm tờ tâu riêng. Nếu là việc biên cương hay quân cơ khẩn yếu thì một mặt điều khiển rồi tâu lên, một mặt tường báo cho Tổng đốc định liệu. Hai ty Bố chính, án sát : phàm những việc nên tâu nên tư, đều phải tường báo với quan trên là Tổng đốc hay Tuần phủ để phân biệt, liệu làm. Duy việc quan hệ đến lợi hại về đời sống của dân chúng mà ý kiến khác nhau hoặc bị quan trên chèn ép thì cho được đệ sớ niêm phong tâu thẳng. Lại như tình hình Cao Bằng không giống với các hạt khác. Khi gặp việc gì quan khẩn thì Bố chính, án sát cùng nhau bàn bạc, làm chung giấy đệ tâu thẳng và một mặt tường báo với Tuần phủ Lạng Bình. Còn những việc lớn như mở điều lợi, trừ mối tệ thời phải tường báo với Tuần phủ xét kỹ tâu xin thi hành. Ngoài ra, công việc thuộc về ty nào cứ chiếu lệ thường mà làm. Việc nên tâu thì làm sớ tâu, nên tư bộ thì lấy đủ lý do mà báo bộ.


    2. Thông phán, Kinh lịch, Bát, Cửu phẩm và Vị nhập lưu thư lại ở 2 ty Bố chính, án sát thì lấy viên chức ở hai ty thừa của trấn cũ mà sung bổ. Thông phán, Kinh lịch ở hai tỉnh Hà Tĩnh và Hưng Yên mới đặt thì do bộ chọn bổ. Còn Thư lại của Hà Tĩnh thì do Nghệ An trích lấy ty thuộc trấn cũ, của Hưng Yên thì do viên quyền Chưởng thành ấn trích lấy ty thuộc của trấn Sơn Nam cũ mà chia bổ.


    3. Về lỵ sở Bắc Thành, nay đã đặt nha môn tỉnh Hà Nội thì quan lại cũ ở các tào, các phòng và cục Tạo tác đều phải rút đi, nhưng công việc bàn giao rất nhiều hãy cho họ tạm lưu lại ở Hà Nội, để viên Tổng đốc đốc sức làm cho thanh thoả rồi sẽ xét bổ.


    4. Khi sổ sách các hạt đệ tâu, khi Bố chính, án sát làm xong, phải tường báo với Tổng đốc, Tuần phủ duyệt lại, ký tên, đóng dấu quan phòng. Cuối sổ sách phải có chữ ký rõ họ tên người cứu duyệt, người viết là thuộc viên của ty mình để tiện kiểm tra. Ngạch lính hằng năm, nguyên vẫn thuộc các quân dinh, viên cai quản phải theo lệ làm thành sổ sách, tường báo với Tổng đốc, Tuần phủ duyệt lại và chứng thực. Còn sổ các hạng quan văn, quan võ và binh dịch trong hạt thì do Tổng đốc, Tuần phủ hội đồng cùng làm và cũng phải đệ luôn thể [với số ngạch binh] để bộ chiếu đó làm việc.


    5. Những trọng án các phủ huyện đã kết nghĩ đệ lên cho ty án sát Phước thẩm với các án do ty án sát tra xét khi xong phải chuyển đệ lên Tổng đốc, Tuần phủ xét lại. án nào nên tâu thì làm giấy tờ tâu lên. Những án xử phát lưu làm lính trở xuống thì Tổng đốc, Tuần phủ phê sức cho ty án sát chiểu theo thi hành, đến cuối năm, làm thành danh sách. Những án phủ huyện xét xử mà đương sự chưa phục tình thì được chống án lên ty án sát xin xét ; ty án sát xét xử mà đương sự vẫn chưa pbục tình thì do Tổng đốc, Tuần phủ xét lại, rồi trích phái nhân viên ty Bố chính hội xét với viên đầu phủ hay đầu huyện, chớ nên phái uỷ nhân viên ty án sát xét nữa.


    6. Những tờ chiếu, cáo, chỉ dụ được giao về cùng các thứ chương tấu, sổ sách văn thư án kiện ở thành, từ năm Gia Long thứ 1 [1802] trở về sau, đều do viên quyền chưởng thành ấn chuyển sức cho phần việc kiểm duyệt rồi giao nha môn Hà Nội lưu trữ, đợi sau hạt nào có việc cần tra cứu thì tư hội sức cho sao lục. Còn hai tỉnh mới đặt là Hà Tĩnh và Hưng Yên những thể lệ chung hiện để tuân hành, sẽ do Tổng đốc An Tĩnh và Tổng đốc Định Yên sao lục giao cho thi hành.


    7. Các hạng biền binh thuộc các hạt trước trừ những danh hiệu quân đội đã nói ở trên, còn thì đều cho lưu lại bản hạt theo Tổng đốc, Tuần phủ phân phái.


    8. Các cơ thuỷ binh từ Quảng Bỉnh trở ra bắc, đều theo mệnh lệnh quan địa phương và quan Thuỷ sư Lãnh binh, chứ không thuộc quyền thuỷ quân như trước nữa.


    9. Ba cơ Bắc tượng tiền, Bắc tượng tả, Bắc tượng hữu, mỗi cơ 5 đội, chia bổ về 5 tỉnh to là Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh mỗi tỉnh 3 đội, đặt làm 1 cơ. Cơ của Hà Nội thì gọi là Hà Nội tượng cơ ; các tỉnh khác cũng theo lối như thế. Mỗi hạt định ngạch là 20 thớt voi, đem số voi hiện có mà chia cho đều, thiếu thì sẽ cấp sau.


    10. Các tượng cơ từ Quảng Trị trở ra bắc đều thuộc quyền quan địa phương và quan Lãnh binh. Những viên chuyên quản tượng cơ ở Kinh đặt trước đều rút đi cả.


    11. Bộ binh các hạt trong có một số trước thuộc 5 quân Thần sách, nay tuy vẫn lệ thuộc Chưởng lãnh ở Kinh, nhưng cũng cùng với bộ binh, thuỷ binh, tượng binh đặt dưới quyền Tổng đốc, Tuần phủ sở tại điều khiển liệu lượng phân phái đi đóng giữ các nơi xung yếu.


    12. Các nha Tuần phủ, khi gặp có tin báo nguy cấp mà số biền binh trong hạt không đủ sai phái thì một mặt tư trình Tổng đốc, một mặt trưng dụng binh ở tỉnh cùng hạt, như Quảng Bình với Quảng Trị chẳng hạn. Duy Tuần phủ Lạng Sơn, được phép báo cho Tổng đốc Ninh - Thái sai phái binh đi, việc xong lại cho lính về tại ngũ.


    13. Các hạt đuổi bắt giặc cướp mà chúng chạy sang hạt khác, thì được phép báo cho hạt tiếp giáp, phái binh ngăn chặn, hoặc hợp sức vây bắt. Nếu hạt giáp giới tự cho là khác bờ cõi, không chịu tiếp ứng để bọn giặc cướp chạy xa, sẽ truy cứu duyên do, phân biệt trị tội.


    14. Cao Bằng, việc bắt giữ cướp cũng ít. Nếu gặp việc cần phải thêm quân, đã có Tuần phủ Lạng Bình điều khiển, đợi sau này kho thóc ngày thêm dồi dào đủ nuôi quân, bấy giờ bàn việc phái lính đến đóng.


    15. Thuế các phủ huyện, thuộc về hạt nào thì nộp vào kho hạt ấy. Duy các xứ Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Quảng Yên ngạch thuế có ít hơn nơi khác, không đủ chi phát. Vậy 3 huyện là Hạ Hoa, Hoa Khê, Thanh Ba của Sơn Tây, nguyên trước nộp thuế về Hưng Hoá, 4 huyện Hùng Quan, Tây Quan, Sơn Dương, Đăng Đạo của Sơn Tây trước nộp thuế về Tuyên Quang, huyện Thiên Phước của Bắc Ninh được nộp thuế về Thái Nguyên và 2 huyện An Dương, Thuỷ Đường của Hải Dương trước nộp thuế về Quảng Yên, đều vẫn cho nộp theo như cũ. Lại 6 huyện là : Đường An, Đường Hào, Vĩnh Lại, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Thanh Miện của Hải Dương cũng vẫn theo như cũ nộp thuế vào kho Xích Đằng cho tiện việc vận tải. Đến như các cửa ải, các bến sông, các hồ, ao đấu trưng, đến kỳ, do quan địa phương chiếu lệ mà làm.


    16. Các trấn nguyên thuộc Bắc Thành, sang năm đến kỳ tuyển lính, những công việc chia tỉnh đặt quan mới bắt đầu xây dựng, việc tuyển lính chưa được tiện, hãy hoãn đến năm Quý tị, Minh Mệnh thứ 14 [1833] sẽ làm. Khoá thanh tra năm nay, các hạt đã có Tổng đốc, Tuần phủ thay thế bàn giao thì cứ theo lệ, chọn phái các nhân viên chuyên làm việc này mà bỏ chức đổng lý đi.


    17. Các trấn thuộc Bắc Thành cũ và hạt Ninh Bình thường phải nộp những vật hạng gì từ nay về sau, hằng năm, bộ Hộ cứ theo lệ tính xem vật hạng trong Kinh cần dùng là bao nhiêu, chiếu hạt tư cho quan sở tại đốc thu hoặc đặt tiền mua cho đủ số. Thứ gì chở đường biển cho người đem đến Nam Định tạm chứa, đợi lấy được thuyền vận tải đến thì theo đoàn thuyền tải vào Kinh nộp. Những thứ gì đi đường bộ thì phái người đi ngựa trạm đem vào Kinh đệ nộp.


    18. Lệ trước ấn định Nghệ An, Nam Định, mỗi năm mỗi trấn được cấp tiền công nhu 300 quan. Nay Nghệ An đặt thêm ra Hà Tĩnh, Nam Định, đặt thêm ra Hưng Yên, thì Nghệ An và Nam Định theo lệ Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, đều cấp cho 250 quan tiền, còn Hà Tĩnh, Hưng Yên thì chiếu theo lệ Ninh Bình, cấp cho mỗi tỉnh 200 quan tiền. Lại như trấn Sơn Nam cũ đổi làm Hà Nội thì vẫn chiểu theo lệ Sơn Nam mà cấp tiền công nhu. Còn các tỉnh khác vẫn theo lệ cũ.


    19. Hà Tĩnh, Hưng Yên chưa có chỗ đóng tỉnh lỵ, Tuần phủ, án sát Hà Tĩnh tạm đóng ở phủ thành Hà Hoa, Tuần phủ, án sát Hưng Yên tạm đóng ở trường sở Xích Đằng đợi sau chọn đất sẽ lập tỉnh lỵ.


    20. Hà Nội đặt lỵ sở ở phủ Hoài Đức, thì chỗ trấn lỵ Sơn Nam cũ nay đổi làm phủ lỵ Lý Nhân, kiêm huyện Kim Bảng. Phủ thành Lý Nhân đổi làm huyện thành Bình Lục, rồi điệu bổ viên huyện Kim Bảng sang Bình Lục, đóng ở đó. Còn nhà cửa kho tàng của trấn Sơn Nam cũ, đợi khi xây dựng lỵ sở tỉnh Hưng Yên sẽ liệu cho dời đổi.


    21. Thành sở cũ của Hà Nội so với các hạt khác có to rộng hơn. Nhưng cơ sở đã thành thì hãy cứ để như cũ. Công sảnh của Tổng trấn và Hình tào để làm dinh Tổng đốc, Bố, án ; công sảnh Binh tào để làm nha Đê chính. Những nhà cửa các võ quan và trại lính của các quân thì về phần Trung quân vẫn lưu đóng ở đấy, còn của bốn quân Tiền, Tả, Hữu, Hậu nay thuộc hạt nào dỡ đem về hạt ấy. Đến như các nhà cửa kho tàng của Phó tổng trấn cùng các tào, cục đều do Tổng đốc liệu định, cái nào nên để, cái nào nên bỏ, tâu lên đợi chỉ. Lại như hành cung, Văn miếu, miếu Hội đồng, Hà Nội đã có ở thành xây dựng từ trước rồi, thì những cái của trấn Sơn Nam cũ đều dời về Hưng Yên.


    22. Gặp các khánh tiết Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương trong các thiếp mừng, biểu mừng, Tổng đốc, Tuần phủ song song cùng đóng hai ấn quan phòng. Ba viên đốc phủ Sơn - Hưng - Tuyên thì đóng nối dọc ba ấn quan phòng. Thanh Hoa đóng ấn tuần phủ quan phòng. Thiếp biểu mừng ấy đều giao viên Tri phủ hay viên Tri huyện đem vào Kinh chúc mừng. Lạng - Bình chưa có phủ, huyện thì uỷ cho Thông phán hay Kinh lịch đi thay. Còn như phẩm vật thổ ngơi các hạt thì Tổng đốc, Tuần phủ đều chiếu sản vật trong hạt mình theo lệ cũ mà lấy để cung tiến.


    23. Đốc, Phủ, Bố, án các hạt đã có ấn quan phòng nhà nước cấp, còn các quan phòng ấn triện cũ của thành tào và các trấn từ Quảng Trị trở ra Bắc, đều tức thì thu lại và tiêu huỷ đi.


    24. Hai tỉnh Hà Tĩnh và Hưng Yên mới thiết lập mỗi tỉnh đều đặt viên Đốc học và theo lệ, chế cấp ấn quan phòng chuyên giữ học chính.


    25. Các quan phủ huyện hạt nào đổi đi hạt khác đều do bộ Lại làm tờ chiếu cấp cho.


    26. Các hạt, khi khuyết Suất đội, Tổng đốc, Tuần phủ, chọn lấy người rồi tâu xin sung bổ. Còn từ Phó quản cơ trở lên, phải đợi chỉ nhà vua bổ hay bãi.


    27. Văn thư các trạm hoặc phái người cưỡi ngựa chạy trạm thì án sát tường báo với đốc, phủ cấp trát cho chuyển đệ phát đi. Duy khi Bố chính, án sát có thực phong đệ thẳng, thì cho được làm trát đóng ấn mà phát đệ, nhưng trong trát phải viết rõ những chữ “Bố chính hay án sát thực phong” thì các trạm dọc đường mới được tiếp nhận. Còn như Cao Bằng hiện không có Tuần phủ thì cho phép hay Bố chính, án sát được làm trát phát đệ.


    28. Hà Nội đặt ty Bưu truyền ((1) Cơ quan phụ trách về việc chạy trạm, chuyển đệ công văn và thư trát của nhà nước phong kiến.) lệ thuộc án sát sứ dưới quyền có Tư vụ, Bát Cửu phẩm thư lại mỗi chức một người, Vị nhập lưu thư lại 12 người. ở ngoài thành đặt một trạm, số lính trạm hạn 60 người. Phàm những chương sớ, công văn các hạt bất kỳ gặp có việc phải phi đệ rất khẩn cấp và phái người đem đi thì do quan địa phương cấp trát đệ thẳng. Còn những việc khẩn vừa thì các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng làm trát giáo ty Bưu truyền tiếp nhận [để chuyển đệ], mỗi ngày cứ giờ Mão, giờ Dậu, 2 lần đổi trát, Tổng đốc Hà Nội trát giao phát đệ, việc thường thì 3 ngày chạy 1 lần. Còn như ống trạm do sáu bộ ở Kinh phát giao chuyển đến các hạt, ty Bưu truyền tiếp nhận được lập tức đổi trát, xem về hạt nào thì chuyển phát ngay đi hạt ấy. Lại ở ngoài thành Nam Định, đặt một nhà trạm. Phàm các tỉnh Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Yên, có phát đệ ống trạm, đều giao cho ty án sát Nam Định chiếu lệ Bưu truyền Hà Nội mà làm. Nhân viên và chức dịch ty án sát ấy được đặt thêm 1 Cửu phẩm thư lại và 5 Vị nhập lưu thư lại để sung vào làm việc này. Trạm Ninh Đa ở Ninh Bình phải chạy đi hai ngả đường. Công việc vất vả hơn các trạm khác, cấp thêm cho 20 lính trạm. Khi ở Kinh có chiếu văn chỉ dụ hồng bản ((1) Hồng bản : bản sớ tâu được vua phê chữ son, giao lại cho thi hành.) ban cho các hạt thì phái 2 người đi ngựa trạm đến trạm Ninh Đa : một người từ Ninh Đa qua Nam Định thẳng đến Hải Dương cấp phát. Công văn nào phát cho Hưng Yên thì do Nam Định phát, phát cho Quảng Yên thì do Hải Dương phát ; đều do các Tổng đốc nhận lĩnh, rồi phái người chuyển đi. Một người đi thẳng lên Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh và Lạng Sơn để cấp phát. Công văn nào phát cho Hưng Hoá, Tuyên Quang thì do Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên nhận lĩnh ; phát cho Thái Nguyên, thì do Tổng đốc Ninh Thái nhận lĩnh, phát cho Cao Bằng thì do Tuần phủ Lạng Bình nhận lĩnh, rồi đều phái người đi chuyển giao.


    29. Thuyền các hạt : Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hoa đều theo ngạch cũ. Thuyền Hà Tĩnh, do Tổng đốc An Tĩnh chia phái đi đóng giữ. Thuyền Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên, Ninh Bình sẽ do bộ Công bàn định cấp phát.


    30. Sắp xếp công việc đi sứ. Từ nay đến kỳ đi sứ, các phẩm vật, thứ nào bấy nay vẫn do Kinh đô phát giao thì cứ làm theo như cũ còn ngoài ra hết thảy các vật hạng khác đều do Tổng đốc Hà Ninh chiếu lệ Bắc Thành đã làm qua, sức cho ty Bố chính Hà Nội mua sắm và thuê thợ làm đúng như mẫu. Việc cung ứng vật hạng và điều bát dân phu, cũng đều làm theo lệ trước. Lại phòng những việc thuộc về bang giao, các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Quảng Yên tiếp giáp với nước nhà Thanh, khi có gửi công văn cho các địa phương nhà Thanh tiếp giáp với hạt mình đều dúng ấn Tuần phủ quan phòng. Duy Cao Bằng thì dùng ấn Bố chính.


    31. Việc giải tù phạm. Các tỉnh Hà Tĩnh, Hà Nội, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Quảng Yên phần nhiều không tiện đường thuỷ, hoặc có đường thuỷ nhưng các thuyền vận tải sản vật đường biển không đến, thì việc giải tù phạm từ Nghệ An trở ra Bắc, nên chiếu lệ vẫn làm mà giải đi đường bộ. Còn những tù phạm từ Quảng Bình trở vào Nam, cần phải tải đường biển. Đến kỳ tải, Tổng đốc, Tuần phủ phái lính cùng với ty án sát giải các tù phạm đem theo lương thực khẩu phần ăn đường có biên ghi sổ sách làm bằng. Hà Tĩnh giải đến Nghệ An, Hà Nội, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Ninh Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Thái Nguyên, Quảng Yên đều giải đến Nam Định, cho tạm giam lại. Ty án sát những hạt có tù phạm phải để nhân viên đi áp giải ở lại đó, đợi đoàn thuyền hải vận cập bến sẽ cho cùng với phạm cần giải của hạt sở tại Nghệ An, Nam Định đi tải cả thuyền vào Kinh, do bộ chuyển phát đi các nơi. Khi tải bộ phát giải tù cho các địa phương cũng do các quan hạt An Tĩnh, Định Yên chuyển phát. Còn như tù phạm ở Thanh Hoa, Quảng Bình, Quảng Trị đều lưu tại hạt, phân giải theo thể lệ).


    Vua chuẩn lời bàn ấy, lại bảo Nội các : Nhằm việc trị dân, giữ nước, phen này làm hẳn đại đoạn, sắp xếp mọi việc, thật là cái lợi ngàn muôn đời vô cùng. Duy lúc đầu mới xếp đặt mọi việc còn lạ tai, mắt, mà điều khoản rất nhiều, khó bố cáo từng điều cho mọi người đều biết được. Vậy phải dụ cho các quan địa phương sở tại chiếu các điều nói chung về lợi nước, tiện dân, ở đoạn đầu tập nghĩ cùng chương trình liệt kê ở dưới, điều gì có quan hệ đến với dân thì trích lấy, sao lục ra, thông cáo cho nhân dân trong hạt đều biết.


    Lúc trước kia, đình thần hội bàn công việc chia tỉnh, đặt quan, hằng ngày đến triều đình trù tính bàn định. Sau, gặp độ mưa dầm đến suốt tuần, trời giá rét. Vua ái ngại, hạ sắc cho mỗi ngày họp một buổi sáng, chiều đến thì ở lại bộ. Vua lại làm một bài thơ để tỏ ý [thương tình] rồi thưởng cho mỗi người 2 cuốn đoạn và dầu bạc hà tây, dầu đinh hương, dầu quế, rượu chữa gió, giấm trừ khí độc, mỗi thứ 1 lọ. Các ty viên Lục bộ theo làm việc đều được thưởng bạc lạng có thứ bậc khác nhau”.


    Dùng Thống chế Đoàn Văn Trường làm Tổng đốc Bình Trị, lĩnh Tuần phủ Quảng Bình. Bổ thự Hiệp trấn Hưng Hoá Nguyễn Công Thiện làm Bố chính sứ Quảng Bình. Thăng thự Tham hiệp Quảng Bình Võ Thân lên thự án sát sứ. Cho thự Vệ uý Võ Văn Thuyên làm Vệ uý trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Quảng Bình.


    Đổi bổ Lại bộ Thị lang Trần Danh Bưu làm Binh bộ Thị lang Tuần phủ Quảng Trị, lĩnh chức Bố chính sứ. Thăng thự Tham hiệp Quảng Trị Trịnh Quang Khanh lên án sát sứ. Cho Phó vệ uý Nguyễn Văn Nghị thăng làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Quảng Trị.


    Cho Thống chế Tạ Quang Cự làm Tổng đốc An Tĩnh, lĩnh Tuần phủ Nghệ An. Bổ thự Hiệp trấn Lạng Sơn Hà Thúc Lương làm Bố chính sứ Nghệ An. Thăng thự Tham hiệp Nghệ An Lê Đan Quế lên thự án sát sứ. Cho thự Trấn thủ Sơn Nam Nguyễn Văn Cẩn và Trấn thủ Ninh Bình Lê Văn Túc đều làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh quan Nghệ An. Cẩn chuyên coi sáu vệ Tuyển phong tiền, Phấn võ, Trung võ, Trang võ, Cường võ, Tráng võ. Túc chuyên coi bốn vệ Tuyển phong tả, Diệu võ, Định võ, Nghiêm võ và cơ An tượng. Cho thự Vệ uý Trần Văn Quần làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Thuỷ sư Lãnh binh quan Nghệ An.


    Cho thự Binh bộ Thị lang Nguyễn Danh Giáp làm Tuần phủ Hà Tĩnh, lĩnh Bố chính sứ. Thăng Bắc Thành Hình tào Lang trung Nguyễn Sĩ Bảng làm thự án sát sứ Hà Tĩnh ; Vệ uý Trần Văn Duy do trật Tòng tam phẩm được sung Lãnh binh quan Hà Tĩnh.


    Thăng Chưởng cơ Lê Văn Quý lên thự Thống chế Thanh Hoa Tổng đốc, lĩnh chức Tuần phủ. Bổ thự Hiệp trấn Thanh Hoa Nguyễn Đăng Giai làm Bố chính sứ Thanh Hoa. Thăng Tham hiệp Nguỵ Khắc Tuần làm án sát sứ, cho Trấn thủ Lạng Sơn Hoàng Văn Tài làm Chưởng cơ, trật Tòng nhị phẩm sung chức Lãnh binh quan Thanh Hoa, cho Vệ uý Phạm Văn Bình do trật Tòng tam phẩm, sung Thuỷ sư Lãnh binh quan.


    Cho Đô thống Nguyễn Văn Hiếu lĩnh Tổng đốc Hà Ninh, thự Hiệp trấn Sơn Nam quyền lĩnh Binh tào Bắc Thành Nguyễn Văn Mưu thự Bố chính sứ Hà Nội ; Bắc Thành Hình tào Lang trung Bùi Nguyên Thọ thăng thự án sát sứ, Trấn thủ Thái Nguyên Nguyễn Văn Cẩn thực thụ Chưởng cơ, trật Tòng nhị phẩm và thự Trấn thủ Quảng Yên Nguyễn Văn Phượng thực thụ Vệ uý trật Chánh tam phẩm, đều sung chức Lãnh binh quan Hà Nội ; Cẩn chuyên coi quản 10 cơ Chấn định Trung quân ; Phượng chuyên coi các cơ Thiện võ, Hà Nội, Nghiêm dũng và Tượng cơ. Cho Phó vệ uý Tôn Thất Ngạn thăng thự Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Thuỷ sư Lãnh binh quan.


    Cho Tham hiệp Nghệ An Hồ Hựu đổi sang Binh bộ Thị lang làm Tuần phủ Ninh Bình lĩnh Bố chính sứ ; Tham hiệp Ninh Bình Trần Lê Hoán thăng thự án sát sứ ; thự Vệ uý Trần Hữu Lễ thực thụ Vệ uý trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh quan Ninh Bình.


    Cho Hình bộ Thượng thư Hoàng Kim Xán đổi sang Binh bộ Thượng thư làm Tổng đốc Định Yên lĩnh Tuần phủ Nam Định ; thự Hiệp trấn Nam Định Nguyễn Khắc Hài bổ thự Bố chính sứ Nam Định, Tham hiệp Lê Dục Đức thăng thự án sát sứ, Chưởng cơ Đặng Hữu Chất do trật Tòng nhị phẩm và Phó thống Lương Văn Liễu thực thụ Vệ uý trật Chánh tam phẩm, đều sung làm Lãnh binh quan Nam Định. Chất chuyên coi 10 cơ Kính tiệp Tiền quân ; Liễu chuyên coi các cơ Tráng oai, Nam Định, Lạc dũng và Tượng cơ. Cho Quản cơ Nguyễn Văn Phong thăng thự Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Thuỷ sư Lãnh binh quan.


    Cho Hiệp trấn Bắc Ninh là Nguyễn Đức Nhuận đổi sang Binh bộ Thị lang, làm Tuần phủ Hưng Yên, lĩnh Bố chính sứ ; Lại bộ Lang trung Nguyễn Đại Phong
  • Chia sẻ trang này