0060.0025

25/12/15
0060.0025
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    thăng thự án sát sứ Hưng Yên ; Phó vệ uý Trần Văn Tảo thực thụ Vệ uý trật Tòng tam phẩm, sung làm Lãnh binh quan.


    Cho Công bộ Thượng thư Nguyễn Kim Bảng đổi sang Binh bộ Thượng thư làm Tổng đốc Hải Yên, lĩnh Tuần phủ Hải Dương, Tham hiệp Hoàng Tế Mỹ thăng thự Bố chính sứ Hải Dương, thự Tham hiệp Phan Hiển Đạt thăng thự án sát sứ, Phó thống Nguyễn Văn Tạo thăng thự Chưởng cơ trật Tòng nhị phẩm và thự Phó vệ uý Nguyễn Văn Thành thăng thự Vệ uý trật Tòng tam phẩm, đều sung chức Lãnh binh quan Hải Dương. Tạo chuyên quản cơ 10 cơ Kiên nhuệ Tả quân và Tượng cơ ; Thành chuyên quản coi 2 cơ Chính võ, Hải Dương và kiêm cai quản cả thuỷ sư.


    Cho thự Hiệp trấn Quảng Yên Lê Đạo Quảng bổ thụ Bố chính sứ Quảng Yên thự lý Tuần phủ ấn vụ, Tham hiệp Nguyễn Đôn Tố thăng thự án sát sứ, Vệ uý Nguyễn Văn Tiết thực thụ Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Quảng Yên.


    Cho Tham tri lĩnh Hình tào Bắc Thành Lê Đại Cương thăng thự Binh bộ Thượng thư, làm Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên lĩnh Tuần phủ Sơn Tây, thự Hiệp trấn Sơn Tây Lê Nguyên Hy bổ thụ Bố chính sứ Sơn Tây, Tham hiệp Nguyễn Thế Nho thăng thự án sát sứ ; Thống quản Trần Văn Lộc thực thụ Chưởng cơ, trật Tòng nhị phẩm và Phó thống Phạm Đình Bảo thực thụ Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, đều sung chức Lãnh binh quan Sơn Tây. Lộc chuyên coi 10 cơ Hùng dũng của Hữu quân ; Bảo chuyên coi 2 cơ Võ dũng, Sơn Tây và Tượng cơ.


    Cho Lại bộ Thị lang Hoàng Quốc Điều điều sang Binh bộ Thị lang làm Tuần phủ Hưng Hoá, lĩnh Bố chính sứ, Tham hiệp Hưng Hoá Ngô Huy Tuấn thăng bổ án sát sứ, Phó vệ uý Bùi Văn Đạo thăng thự Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Hưng Hoá.


    Cho thự Hiệp trấn Tuyên Quang Nguyễn Hữu Khuê bổ thụ Bố chính sứ Tuyên Quang, thự lý tuần phủ ấn vụ, thự Tham hiệp Nguyễn Thường Trân thăng thự án sát sứ, thự Phó vệ uý Phan Văn Đức thăng thự Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Tuyên Quang.


    Cho Chưởng cơ Nguyễn Đình Phổ thăng thự Thống chế, làm Tổng đốc Ninh Thái, lĩnh Tuần phủ Bắc Ninh ; thự Hiệp trấn Ninh Bình Nguyễn Khắc Biểu bổ thụ Bố chính sứ Bắc Ninh ; Tham hiệp Doãn Văn Xuân thăng thụ án sát sứ ; Thống quản Vũ Văn Thân thăng thụ Chưởng cơ trật Tòng nhị phẩm và Phó thống Trần Đinh Di thăng thụ Vệ uý trật Chánh tam phẩm, đều sung chức Lãnh binh quan Bắc Ninh. Thân chuyên coi 10 cơ Oai thắng Hậu quân ; Di chuyên coi các cơ Cự oai, Bắc Ninh, Bắc Thuận và tượng cơ.


    Cho thự Hiệp trấn Thái Nguyên Trần Thiên Tải bổ thụ Bố chính sứ thự lý Tuần phủ ấn vụ, Tham hiệp Nguyễn Dư thăng thự án sứ, Phó vệ uý Nguyễn Văn Cáo thăng thụ Vệ uý trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Thái Nguyên.


    Cho Hiệp trấn Bình Định Hoàng Văn Quyền đổi sang Binh bộ Thị lang làm Tuần phủ Lạng Bình, lĩnh Bố chính sứ Lạng Sơn, Tham hiệp Lạng Sơn Nguyễn Đình Vũ thăng thự án sát sứ Lạng Sơn, Phó vệ uý Hồ Văn Lân thăng thụ Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Lạng Sơn.


    Cho thự Hiệp trấn Cao Bằng Dương Tam bổ thụ Bố chính sứ Cao Bằng, Tham hiệp Nguyễn Huy Chiêm thăng bổ án sát sứ, thự Phó vệ uý Vũ Văn Lợi làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung chức Lãnh binh quan Cao Bằng.


    Vua sai quan phần việc đúc ấn quan phòng Tổng đốc, Tuần phủ bằng bạc, ấn triện bố chính án sát bằng đồng và ấn quan phòng Lãnh binh bằng đồng ban cấp cho dùng làm việc quan. Rồi thông dụ các Tổng đốc, Tuần phủ ấn định ngày đến lỵ sở cung chức.


    Vua dụ rằng : “Gần đây công việc bận rộn, bọn các ngươi, trước khi đi lỵ sở mới, đều nên gia tâm trù tính làm cho xong xuôi mọi việc, chớ có ý kiến mình đứng ngoài cuộc, xu tay bàng quan phụ lòng uỷ thác của ta”. Khi lũ Đoàn Văn Trường vào bệ kiến, bái từ, vua gọi cả lên trên điện, dụ họ rằng : “Chức trách của người chăn dân, nên lấy việc yêu dân làm cấp thiết. Cốt phân biệt người hay kẻ dở, chính sự công bằng, kiện tụng xét đúng, thì quan lại được xứng đáng chức vụ, nhân dân được yên ổn làm ăn. Lại nên giữ lời răn dạy về đạo làm quan, kính cẩn trau dồi chức nghiệp. Đó là những điều ta rất trông mong. Vả lại, cách làm việc quan, lúc khoan, lúc nghiêm tuỳ theo từng việc : giặc cướp nếu biết hối lỗi đổi mới, cũng nên đối đãi khoan hồng. Nếu uy không đủ cho người sợ, ân không đủ cho người mến, thì không phải là thể cách làm việc quan. Các ngươi nên cố gắng suy nghĩ”.


    Tạm đặt chức Tuần phủ Hà Nội.


    Sai nguyên Bắc Thành Hộ tào Tham tri Đặng Văn Thiêm do chức cũ sung làm việc Tuần phủ Hà Nội, và kiêm lĩnh cả việc Đê chính. Trước kia bàn định : Tuần phủ Hà Nội do Tổng đốc kiêm lĩnh nhưng vua cho rằng Hà Nội là nơi sở tại thành cũ, lúc mới chia đất đặt quan, công việc nhiều hơn nơi khác, cho nên đặc cách tạm đặt chức ấy.


    Sai nguyên Trấn thủ Hải Dương Nguyễn Văn Quyền do nguyên hàm thự Thống chế, hiệp lực với Đặng Văn Thiêm, quản lĩnh công việc Đê chính. Nguyên Trấn thủ Quảng Bình Tống Viết Trì, Trấn thủ Sơn Tây Lê Phước Bảo, Trấn thủ Bắc Ninh Lê Văn Thường, Trấn thủ Tuyên Quang Phan Bá Phụng và Chưởng cơ lĩnh Phó thống coi 10 cơ Chấn định Trung quân là Hoàng Văn ẩn, đều cho về Kinh đợi chỉ chọn dùng. Trấn thủ Cao Bằng Vũ Văn Tình, thự Vệ uý Uy võ dinh Thần sách Nguyễn Hữu Cần và Phó vệ uý vệ Nghiêm võ là Hồ Bôi, đã già yếu được giữ nguyên hàm về hưu trí.


    Bổ Tô Huệ Vân làm Vệ uý vệ Tuyển phong Hữu dinh Thần sách, Nguyễn Đăng Thuật làm Vệ uý vệ Túc võ. Vũ Văn Huân làm Vệ uý vệ Nghĩa võ, Tống Phước Minh làm Phó vệ uý, Nguyễn Văn Nghị làm Vệ uý vệ Quảng võ, Nguyễn Văn Chiểu làm Phó vệ uý vệ Oai võ, Nguyễn Văn Lâm làm Phó vệ uý vệ Dương võ.


    Tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Văn Hiếu đi qua phủ Lý Nhân, thấy Quản phủ Nguyễn Văn Sáng già yếu, tâu xin bãi đi.


    Vua dụ rằng : “Ngươi mới đến cung chức đã biết phân biệt phẩm cách từng người thực đáng khen”.


    Sai Binh bộ Thượng thư Lê Đăng Doanh kiêm coi Quang lộc tự, thự Hộ bộ Thượng thư Trương Minh Giảng kiêm quản toà Khâm thiên giám.


    Sai đình thần sát hạch các viên tử ở sổ Hoa danh, ai là người khoẻ mạnh, siêng năng, đã thoát khỏi thói ăn chơi xa xỉ, có thể làm được suất đội, chọn lấy 50 người tâu lên. Rồi phân phát đi Nghệ An 8 người, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, mỗi tỉnh 7 người, đợi bổ làm suất đội. Sau đó các tỉnh có khuyết suất đội, đều bổ dùng những người đã phân phát về đấy.


    Vua bảo bộ Binh : “Triều đình bổ dùng quan chức, nên có phân biệt, mới khỏi quá lạm. Vậy nên truyền dụ cho các địa phương từ nay về sau, có khuyết suất đội, nên trước hết chọn những võ chức thuộc trong ngũ người nào nhanh nhẹn, giỏi giang, từng trải việc quân, thì nêu tên, cử lên. Nếu chưa có người dùng được, mới cho đem những viên tử ở sổ Hoa đanh, chọn lấy người làm nổi việc, tâu xin sung bổ, không nên câu nệ cho là người đã được ở Kinh phân phát về mà không phân biệt kẻ hay người dở, nhất luật xin bổ dùng tràn”.


    Sai lính Kinh đi thú các nơi : Thần cơ trung vệ đi thú Nghệ An, Long võ tả vệ đi thú Thanh Hoa, Tiền phong trung vệ đi thú Nam Định, Hổ oai trung vệ đi thú Hải Dương, Hổ oai tiền vệ đi thú Sơn Tây, Tiền bảo nhất vệ đi thú Bắc Ninh.


    Bắt đầu bỏ tước hiệu ở trong bằng sắc các quan. Vua dụ bộ Lại rằng : “Đời xưa đặt ra quan chức, năm tước phong ((1) Công, hầu, bá, tử, nam), tước nào cũng có thái ấp. Từ trước đến nay, quan chức văn võ được theo nếp cũ phong tước công hầu, bá, tử, nam, chỉ là để gọi cho đẹp, chứ không như đời trước cho đất phong tước. Vậy từ nay cấp bằng sắc cho các quan, nên bỏ tước hiệu đi”.


    Lũ Nguyễn Đức Tuyên, Tư vụ Nội vụ phủ ăn bớt nhựa thơm ((1) Nhựa thơm : dùng để làm hạt bột như tràng hạt nhà chùa hay dùng.) việc phát giác. Vua dụ rằng : “Lại dịch các kho phần nhiều là kẻ tham lam hèn mạt, bớt xén, dối trá, chẳng thiếu cách gì. Xảy ra đến đâu, trừng phạt đến đấy, đã chiếu luật làm tội nặng, lại nhiều lần truyền dụ, dạy bảo hầu đến rát cổ bỏng họng. Cốt muốn cho kẻ gian đổi lòng, đổi dạ, trở thành lương thiện, thế mà không ngờ lòng người khác xưa, ngày thêm gian giảo ? Năm nay có vụ án [ăn cắp] son ở Vũ khố, đã đem nhẹ làm thành nặng vì khinh pháp luật, lừa dối vua. Kẻ phạm tội ấy đã bị xử tử, lại phải chặt một tay để treo ở cửa kho. Gần đây lại xảy ra vụ án mất trộm sa, đoạn, và hổ phách, hiện đương sai tra xét rất khẩn cấp. Nay sai dâng nhựa thơm thì ra lũ Nguyễn Đức Tuyên đã ăn bớt từ trước, lại dám lấy mật trộn lẫn vào để ít hoá nhiều, định lừa gạt che giấu. Trước còn chối cãi, đến lúc cả kho xưng ra, mới chịu thổ lộ thực tình, thì những người tai nghe mắt thấy ai mà không ghét ! Vả lại, vụ mất son chưa nguội, án sa đoạn, hổ phách còn nóng hổi chúng nó mù, điếc, sao lại mất hết lương tâm, cố ý phạm tội như thế. Đáng lẽ cho trói đem giong ra chợ cửa đông chém đầu, nhưng lần này tạm chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xoá tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận, và nhờ đó để làm cho mọi người đều biết tỉnh ngộ răn chừa. Thế cũng là một cách trừng trị kẻ gian”.


    Cho Nguyễn Hựu Xuyến trong chánh chi công tính ((2) Công tính : họ nhà vua.) làm Từ tế phó sứ ty Từ tế, để coi giữ Nguyên miếu ((3) Nguyên miếu : miếu thờ Nguyễn Kim.).











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển lxvii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Tân mão, Minh Mệnh năm thứ 12 [1831] mùa đông, tháng 11. Vua cho rằng từ trước tới nay, quyển lịch của vua dùng, Khâm thiên giám theo sách Hiệp kỷ biện phương làm để dâng lên, ở trong phần nhiều theo thói quen chép những việc thường làm của dân gian, bèn chuẩn định : Bắt đầu từ sang năm, quyển lịch của vua dùng bỏ bớt những điều như : thu nộp của cải, đặt sản thất khơi ngòi, đào giếng, đặt cối giã gạo, quét nhà, trồng cây, chăn nuôi, thu nhận súc vật, dựng cột nhà, cất nóc” ; còn chữ “nhập học” thì đổi là “ngự kinh duyên”.


    Quan thành Gia Định tâu nói : “Ruộng đất ở các dân xã mới lập tại đồn Châu Đốc khó khai khẩn”.


    Vua bảo bộ Hộ : “Đồn ấy là chỗ địa đầu quan yếu, đã từng sai chiêu tập dân chúng và nhà buôn, cho vay tiền thóc, để họ khẩn ruộng, lập ấp, họp nhau cư trú, làm ăn sinh sống nơi biên thuỳ của ta cho được bền vững. Song lại nghĩ lúc mới khai khẩn, sự thế hơi khó, nên nhiều lần gia hạn thêm. Năm ngoái, quan thành tâu xin cho dân đồn ấy, ta cũng để ý thể tất càng hơn, nên lại khoan tha cho thuế thân và tạp dịch trong 3 năm, sức cho làm nhiều cách để chiêu dụ vỗ về, khiến cho đồng ruộng ngày một khai khẩn, sinh kế càng được dồi dào. Nay vừa hơn một năm, chưa thấy làm được việc gì, đã có tình trạng sợ khó như thế, chẳng cũng làm cho qua loa xong chuyện ư ?


    Vậy truyền dụ quan thành Gia Định phải nghiêm sức cho viên coi đồn ấy, hết lòng xếp đặt, cốt sao đất được khai khẩn, dân được đông đúc, hết hạn 3 năm, lập tức làm thành tập tâu lên, không được cho là khó mà thoái thác nữa.


    Sai Thống chế Đỗ Quý quyền việc giữ ấn ở Thần sách Trung dinh, Đề đốc Nguyễn Xuân quyền việc giữ ấn ở Hữu dinh, Chưởng cơ Hoàng Đăng Thận quyền việc giữ ấn ở Hậu dinh.


    Rút thú binh ở vệ Ngũ thuỷ Nam Định, về Kinh.


    Lệ trước : hằng năm ở Kinh phái 3 đội thuộc vệ ngũ thuỷ, đến đóng đồn thuỷ Nam Định, mỗi năm một lần thay đổi, đến đây Nam Định đã đặt thuỷ sư, nên rút về.


    Sai Nguyễn Văn Thi, Vệ uý Tả vệ ở dinh Hổ oai, kiêm coi các tượng : Nghĩa, Bình, Phú, Hoà, Thuận, Định.


    Cho Phạm Thế Hiểu, Viên ngoại lang bộ Lại, làm Lang trung bộ Lại.


    Quốc trưởng nước Nam Chưởng dâng thư nói : “Nước ấy có các dân man Chấp Vị, Mang Nhụ, trước đây bị người Xiêm quấy nhiễu, phải sang kiều ngụ ở hạt phủ Trấn Ninh, thuộc Nghệ An, nay xin gọi về quê cũ”. Vua y cho.


    Điều bổ Lang trung bộ Binh là Dương Văn Phong, làm Lang trung bộ Hộ, hiệp lý Hộ tào ở thành Gia Định ; nguyên Lang trung Hộ tào Bắc Thành là Lê Phước An làm Tham hiệp Quảng Ngãi.


    Cho Phan Văn Cần, Phó vệ uý vệ Tả dực Tiền nhất dinh Vũ lâm làm Phó vệ uý vệ Trung nhị ; Nguyễn Đức Trường thự Phó vệ uý vệ Tả nhị làm Phó vệ uý vệ Tiền phong hậu.


    Hồ Văn Lân là Phó vệ uý vệ Diệu Võ dinh Thần sách mới thăng thụ Vệ uý, sung chức Lãnh binh Lạng Sơn mắc bệnh, không đến nhận chức được, vua chuẩn cho được nguyên hàm, về quê hưu trí. Dùng Quản cơ cơ Tả hùng thuộc Hữu quân Vũ Văn Hựu làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung chức Lãnh binh Lạng Sơn.


    Bộ Binh tâu nói : “Theo lệ định trước, Chánh đội trưởng, Đội trưởng, quyền sai Đội trưởng thuộc các vệ, cơ, đội ở Kinh và ở ngoài các trấn đều có lệ xét công ((1) Nguyên văn : “Khoá lệ”.). Nhưng nghĩ : quan cốt ở được người, không cần phải nhiều ; nay trong một đội chỉ có 50 người, mà đã có suất đột lại có 4 suất thập, 1 thư lại, viên chức có đến 6 người. Phải nên giảm bớt, để đỡ cồng kềnh. Vậy xin từ nay về sau, định lệ xét công đợi có lệnh sửa đổi lại sẽ tuân hành”. Vua y lời tâu.


    Sai chọn 36 người thuộc ty ở bộ và Thái thường tự chia đi các hạt thuộc Bắc Kỳ, sung làm công việc thanh tra (Thanh tra : ba trường thuộc Bắc Thành và Tràng tiền (Bảo tuyền cục) thuộc Hoài Đức phủ, thì Chủ sự 1 người, Bát, Cửu phẩm thư lại đều 2 người. Nguyên cục Tạo tác thì Tư vụ 1 người, Bát phẩm thư lại 1 người, Cửu phẩm thư lại 2 người. Nguyên trấn Sơn Nam thì Bát, Cửu phẩm thư lại đều 1 người. Nam Định, thì Tư vụ 1 người, Bát Cửu phẩm thư lại đều 1 người. Sơn Tây và Hải Dương thì Tư vụ mỗi hạt một người, Cửu phẩm thư lại mỗi hạt 1 người. Bắc Ninh, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hoá, Quảng Yên, Lạng Sơn và Cao Bằng thì Bát Cửu phẩm thư lại, mỗi hạt đều đình 1 người). Các Trấn thủ hạt ở Bắc Thành, lấy những năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu làm khoá lệ thanh tra, phái đổng lý 1 người, chuyên biện ty viên 36 người. Đình thần bàn bạc cho rằng các hạt đều có Tổng đốc, Tuần phủ thay thế bàn giao rồi, xin rút bớt chức đổng lý, chỉ theo lệ, phái ty thuộc ở các nha cứ chiếu hạt mình đi theo Tổng đốc, Tuần phủ để làm việc tra xét. Bộ Hộ tiếp tục bàn các công việc nên làm, tâu lên. Vua ưng thuận.


    (1. Hạt nào có quan cũ, thì do quan cũ làm thành sổ sách, liệt kê số tiền, thóc, của cải, cũ còn lại, mới sẽ thu, tiêu đi, và thực số hiện còn, luôn với hạn định đóng góp từng năm, kể từ mồng một tháng giêng, năm Minh Mệnh thứ 10 (1829) đến cuối tháng 12 năm ấy, giao cho những người thanh tra kiểm xét. Hạt nào mà quan cũ đã thăng hay đổi nơi khác, thì do viên tá lĩnh cũ cứ xét từng khoản trước ngày quan mới tiếp nhận làm việc kê khai ra. Còn từ ngày quan mới tiếp nhận đến cuối năm, đều do quan mới tính ghi vào sổ sách, thanh toán niên khoá ấy.


    2. Các tào Bắc Thành cũ cùng phủ Hoài Đức và 2 cục Tạo tác, Bảo tuyền, với Sơn Nam trấn cũ đều do Tổng đốc Hà Ninh đôn đốc làm, còn các hạt khác thì do các Tổng đốc, Tuần phủ đôn đốc làm.


    3. Việc thu chi ở kho Xích Đằng và 2 hạt Sơn Nam, Hải Dương cũ, thì do Tổng đốc Hà Ninh, Hải Yên trích lấy, chuyên biện thanh tra đều 1 người cho đến Hưng Yên theo viên Tuần phủ đôn đốc làm. Khi công việc khám xét xong, viên Tuần phủ tức thì cứ số thực tại, làm thành sách riêng tâu lên để kiêm giữ lấy, rồi tư cho Tổng đốc Hà Ninh, Hải Yên xét làm.


    4. Các hạt có phủ huyện mới lệ thuộc vào thì những của công hiện trữ đều do bọn thanh tra nguyên hạt khám xét. Khi công việc xong, lại giao cho viên phủ, huyện giữ lấy, Tổng đốc, Tuần phủ hạt cũ cứ chiếu số thực tại, tư cho Tổng đốc, Tuần phủ hạt mới ghi vào sổ và trông coi.


    5. Ninh Bình lấy những năm sửu, thìn, mùi, tuất làm khoá thanh tra, vẫn theo nguyên lệ).


    Cấp lễ phục cho Tả Từ tế ty và Hữu Từ tế ty định hạt cứ 5 năm 1 lần thay đổi. Việc này ghi lại làm lệnh.


    Hộ bộ Tả thị lang, sung làm việc Nội các là Hà [Tông] Quyền, bị tội, mất chức. Quyền, trước kia được giao bài thơ “Thu thành phân số” của nhà vua làm, dưới chỗ chú thích có chữ “Thanh Xuyên huyện ” người thuộc viên ở Nội các viết lầm là “Thanh Châu ”. Vua đem hỏi Quyền. Quyền hoảng sợ, tâu : “Trót theo tờ sớ của trấn. Sau biết là lầm, bèn lén đem chữa lại tờ sớ để cho đúng với lời tâu”. Thuộc viên ở Nội các là bọn Trần Lý Đạo đàn hặc Quyền về tội dối trá lừa gạt. Vua giao xuống đình thần luận tội, đáng xử tội đồ nhưng vua đặc cách ra lệnh cách chức, cho làm lính phát đi đường biển để gắng sức làm việc chuộc tội. Thị lang Thân Văn Quyền, người cùng làm việc ở Nội các biết mà không mách bị giáng 3 cấp ; Học sĩ Nguyễn Huy Chiểu vì thất sát ((1) Thất sát : có lỗi vì không xem xét.) bị giáng 2 cấp.


    Sai bọn thuỷ quân Vệ uý Trần Văn Lễ, Phó vệ uý Phan Văn Mẫn và Đoàn Khác, chia nhau đi các hiệu thuyền Uy phượng, Thanh dương và Bình dương, đến Giang Lưu Ba ((2) Giang Lưu Ba : tức Gia Các Ta.) Hòn Cau và Hạ Châu ((3) Hạ Châu : tức Xinhgapo.), làm việc công. Viên bị cách là Phan Thanh Giản cũng phái theo đi để gắng sức làm việc chuộc tội.


    Đổi phủ Quy Nhân, làm phủ Hoài Nhân ; phủ Bình Hoà làm phủ Ninh Hoà, phủ Quảng Bình làm phủ Quảng Ninh, phủ Quảng Ngãi làm phủ Tư Ngãi, phủ Phú Yên làm phủ Tuy An, phủ Bình Thuận làm phủ Hàm Thuận, huyện Bố Chính thuộc Quảng Bình làm huyện Bố Trạch.


    Bắt đầu đặt Tri phủ Cam Lộ, nhưng vẫn đóng ở thành Vĩnh Ninh, chuẩn cho theo lệ huyện to, cấp tiền công nhu là 60 quan. Sau đó, đổi thành Vĩnh Ninh làm phủ thành Cam Lộ.


    Thăng Binh bộ Viên ngoại lang Nguyễn Công Hoán lên thự Đại lý tự Thiếu khanh.


    Thự Hiệp trấn Hà Tiên là Nguyễn Hựu Dự bị tội, mất chức. ở trấn hạt, có thuyền người Thanh đến buôn bán, buôn lậu thuốc phiện. Ban đầu tịch thu tài sản của phạm nhân trị giá tiền là hai vạn, đến khi nộp vào nhà nước chỉ có ba nghìn. Việc phát giác. Quan thành Gia Định cho là Dự chuyên làm cái việc xẻo xén ấy, bèn vạch ra và tham hặc. Vua hạ lệnh lập tức cách chức, giao cho tra xét. Điều thự Lại bộ Tả thị lang Phạm Xuân Bích đi làm thự Hiệp trấn Hà Tiên.


    Thăng Tham hiệp Bình Định là Trịnh Đường lên thự Hiệp trấn, thự Lang trung Công bộ là Tôn Thọ Đức làm Tham hiệp Bình Định.


    Gia tặng chức tước cho các công thần họ thân và có huân lao trong cuộc khai quốc ((4) Khai quốc : chỉ thời kỳ từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn Thuận, Quảng.) và trung hưng ((5) Trung hưng : chỉ thời kỳ từ khi Nguyễn Phước ánh đánh nhau với nhà Tây Sơn lập lại triều Nguyễn.).


    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Quốc gia ta được trời yêu mến thêm mãi, nhân tài ra nhiều. Những người trong họ tôn thất thân cận thì giúp rập vương thất, che chắn như phên giậu. Các đại thần thì có công lao rõ rệt, thí dụ như : buổi đầu khai quốc, có bọn Tôn Thất Khê và Nguyễn Hữu Tiến ; buổi đầu trung hưng có bọn Tôn Thất Mân và Võ Tánh, công nghiệp rực rỡ, nghĩa liệt rõ ràng, lần lượt đã được dự thờ ở Tôn miếu, vẻ vang nơi suối vàng, lại ban thưởng cho con cháu sau, và truy tặng cho bậc cao, đền đáp công lao cũng đã ưu hậu. Nay nước nhà được nhàn hạ, ân đức rộng khắp sáng ngời, trong ngoài thịnh trị yên ổn, bốn phương êm lặng ; thì những bề tôi ngày trước giúp nước bày mưu, công không phải là nhỏ. Tưởng đến việc xưa, lòng ta cảm động. Lại các bề tôi dẫu có tước hiệu công, hầu, nhưng đó là theo điển lễ nhà Lê, phần nhiều gọi theo tên tước cho đẹp, chứ không cho đất để ăn lộc. Đến như phép đặt tên thuỵ, phải xét hành trạng từng người rất quan hệ đến việc đổi tên, thế mà trước kia quan bộ Lễ chưa kê cứu tinh tường tỉ mỉ nên ở trong đó hãy còn có nhiều chỗ chưa hợp. Và, về phẩm trật gián hoặc cũng có những quan chức mà bản triều không có. Thế mà từ trước đến nay cũng chưa từng sửa đổi ! Ta nay nhớ đến công cũ ban ra ơn mới, tặng cho tước vương, tước công, tước hầu có thứ bậc khác nhau, và đều được có đất ăn lộc. Vậy phải xét kỹ hành trạng, đổi lại phép đặt tên thuỵ và liệt vào quan chức hiện hành, tặng cho cấp bậc tôn trọng để tỏ rõ công to thưởng hậu, ngày càng rực sáng công lao người trước, để lại dài lâu sau này. Bộ Lễ các ngươi nên theo ngay lời dụ mà làm”.


    (Nguyên Tá lý tôn thần, Đặc tiến Thượng trụ quốc, Bình chương quân quốc đại sự Tổng trấn, Tường quận công, thuỵ Trung Nghị là Tôn Thất Khê, nay tặng Khai quốc công thần, Tôn nhân phủ tôn thân, đổi tên thuỵ là Trung Chính, phong Nghĩa Hưng quận vương.


    Nguyên Minh nghĩa Tuyên lực tôn thần, Khai phủ, Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Tả quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Thiếu uý, Hiệp quận công, thuỵ Toàn Tiết là Tôn Thất Hiệp, nay tặng làm Khai quốc tôn thần, Tôn nhân phủ Tả tôn chính, Đặc tiến Tráng võ Đại tướng quân, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, đổi tên thuỵ là Hiến Nghị, phong Quốc Uy công.


    Nguyên tặng Trang công, thuỵ Trung Nghĩa là Tôn Thất Hiệu, nay tặng làm Tá vận tôn thần, Tôn nhân phủ Hữu tôn chính, đổi tên thuỵ là Cung Mục, phong Tương Dương quận vương.


    Nguyên tặng Uy công, thuỵ Trung Tiết là Tôn Thất Đồng, nay tặng làm Tá vận tôn thần, Tôn nhân phủ Hữu tôn chính, đổi tên thuỵ là Cung ý, phong Hải Đông quận vương.


    Nguyên Hiệp mưu Đồng đúc công thần, Đặc tiến kim tử Vinh lộc đại phu, Nội tán Lộc Khê hầu, tặng Vĩ quốc gia mưu, Phù vận tán trị tôn thần, thuỵ Trung Lương là Đào Duy Từ, nay tặng làm Khai quốc công thần, Đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các Đại học sĩ, Thái sư, vẫn thuỵ là Trung Lương, phong Hoằng Quốc công.


    Nguyên Hiệp mưu Tá lý công thần, Đặc tiến Tả quân, Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Tiết chế, Thuận quận công, thuỵ Chính Cần là Nguyễn Hữu Tiến, nay tặng làm Khai quốc công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, đổi tên thuỵ là Tương Võ, phong Anh Quốc công.


    Nguyên Tán lý, Tĩnh nạn công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ, Tả quân Đô đốc phủ Tả đô đốc, Chưởng phủ sự, Lưu đồn đạo đốc suất Chưởng doanh, Chiêu quận công, thuỵ Cần Tiết là Nguyễn Hữu Dật, nay tặng làm Khai quốc công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái phó, đổi tên thuỵ là Nghị Võ, phong Tĩnh Quốc công.


    Nguyên Tuyên lực công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty Đô chỉ huy sứ, Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Phó tướng chưởng cơ, Lễ Tài hầu, thuỵ Tuyên Võ là Nguyễn Hữu Kính, nay tặng làm Khai quốc công thần, Tráng võ tướng quân, Thần cơ dinh, Đô thống, Thiếu phó, đổi tên thuỵ là Tráng Hoàn, phong Vĩnh An hầu.


    Nguyên tặng Dực vận tuyên lực tôn thần, Khai phủ Phụ quốc nguyên suý, Thái phó, Nghị công, thuỵ Trung Hiến là Tôn Thất Mân, nay tặng làm Tá vận tôn thần, Tôn nhân phủ Tôn nhân lệnh, đổi tên thuỵ là Trung Hoài, phong An Biên quận vương.


    Nguyên tặng Dực vận tĩnh nạn tôn thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thái bảo, thuỵ Trung Mẫn là Tôn Thất Điển, nay tặng làm Tá vận tôn thần, Tôn nhân phủ Tôn nhân lệnh, đổi tên thuỵ là Trung Tráng, phong là Thông Hoá quận vương.


    Nguyên Tá mệnh tôn thần, Chưởng tả quân, Thiếu phó, Đặc tiến Thượng trụ quốc Thượng tướng quân, Tả quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, tặng Thái phó, Huy quận công, thuỵ Trung Tĩnh là Tôn Thất Huy, nay tặng làm Tá vận tôn thần, Tôn nhân phủ Tả tôn chính, Đặc tiến Tráng võ Đại tướng quân, Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, đổi tên thuỵ là Tĩnh Hiến, phong An Tây công.


    Nguyên Nguyên phụ công thần, Khâm sai Chưởng tiền quân dinh, điền bát chư đạo bộ Binh, gia tặng Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tả trụ quốc, Thái phó, Hội quận công, thuỵ Trung Túc là Tôn Thất Hội, nay tặng làm Tá vận tôn thần, Tôn nhân phủ Tả tôn chính, Đặc tiến Tráng võ Đại tướng quân, Tiền quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, đổi tên thuỵ là Túc Võ, phong Lạng Giang quận công.
  • Chia sẻ trang này