0060.0026

25/12/15
0060.0026
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Nguyên Khâm sai, Chưởng hậu quân, Bình tây tham thặng Đại tướng quân, gia tặng Dực vận công thần, Đặc tiến Phụ quốc Đại tướng quân, Thái uý, Tính quốc công, thuỵ Trung Liệt là Võ Tánh, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ Đại tướng quân, Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái sư, tên thuỵ vẫn là Trung Liệt, phong Hoài quốc công.


    Nguyên Khâm sai Lễ bộ, gia tặng Tán trị công thần, Đặc tiến trụ quốc, kim tử Vinh lộc đại phu, Đại lý Tự khanh, Thái tử Thái sư, Chu quận công, thuỵ Trung Y là Ngô Tòng Chu, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Vinh lộc đại phu, Hiệp biện Đại học sĩ, Thiếu sư, kiêm Thái tử Thái sư, đổi tên thuỵ là Trung Mẫn, phong Ninh Hoà quận công.


    Nguyên Khâm sai Ngoại tả Chưởng dinh, Đại đô đốc, tặng Tá mệnh công thần Tả quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Tiếp quận công, thuỵ Trung Túc là Chu Văn Tiếp, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, đổi tên thuỵ là Tráng Liệt, phong Lâm Thao quận công.


    Nguyên Khâm sai thuộc nội Cai cơ, quản Ngũ thuỷ dinh, tặng Tá mệnh công thần, Đặc tiến Thượng trụ quốc, Thiếu bảo, Dính quận công, thuỵ Trung Túc là Võ Di Nguy, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Thuỷ quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, đổi tên thuỵ là Tráng Túc, phong Bình Giang quận công.


    Nguyên Suy trung dực vận công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Khâm sai, Chưởng Trung quân, Bình tây đại tướng quân, tặng Thái bảo, Quyền quận công, thuỵ Uy Dũng là Nguyễn Văn Trương, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ Đại tướng quân, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, đổi tên thuỵ Chiêu Võ, phong Đoan Hùng quận công.


    Nguyên Khâm sai Chưởng Hữu quân kiêm giám Thần sách quân, tặng Dực vận đồng đức công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Thái phó, Khiêm quận công, thuỵ Trung Hiến là Phạm Văn Nhân nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái phó, đổi tên thuỵ là Hiếu Tĩnh, phong Tiên Hưng quận công.


    Nguyên Khâm sai Gia Định thành Tổng trấn, Chưởng Tiền quân, Bình tây tướng quân, tặng Suy trung, Dực vận công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái phó, Đức quận công, thuỵ Trung Nghị là Nguyễn Hoàng Đức, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái phó, đổi tên thuỵ là Chiêu Nghị, phong Kiến Xương quận công.


    Nguyên Khâm sai Chưởng Tượng quân, lĩnh Tượng chính quản lý Thương bạc sự vụ, gia nhị cấp, kỷ lục nhị thứ, Xuyên quận công, tặng Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tả trụ quốc, Thái phó, thuỵ Trung Dũng là Nguyễn Đức Xuyên, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu quân Đô thống phủ, Chưởng phủ sự, Thái phó, đổi tên thuỵ là Hoàn Dũng, phong Khoái Châu quận công.


    Nguyên Trung quân giám quân, tặng Tráng liệt công thần, Vũ huân tướng quân, các cơ, gia tặng Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu trụ quốc, Chưởng dinh, Uất Văn hầu, thuỵ Tĩnh Hùng là Tống Phước Đạm, nay tặng làm Tá vận công thần, Vinh lộc đại phu, Hiệp biện Đại học sĩ, Thiếu sư kiêm Thái tử, Thái sư, đổi tên thuỵ là Văn Cung, phong Tuân Nghĩa hầu.


    Nguyên Khâm sai thuộc nội Cai cơ, quản Tiền trực vệ, tặng Tá mệnh công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Chưởng cơ, gia tặng Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu trụ quốc, Chưởng dinh, Mẫn Đức hầu, thuỵ Uy Dũng là Nguyễn Văn Mẫn, nay tặng làm Tá vận công thần, Tráng võ tướng quân, Tiền phong dinh Đô thống, Thiếu bảo, đổi tên thuỵ là Tương Tráng, phong Duy Tiên hầu.


    Nguyên Khâm sai thuộc nội Cai cơ, quản Tiểu sai đội, tặng Tá mệnh công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Chưởng cơ, gia tặng Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu trụ quốc Chưởng dinh, Hữu Đức hầu, thuỵ Uy Dũng là Đỗ Văn Hựu, nay tặng làm Tá vận công thần, Tráng võ tướng quân, Tiền phong dinh Đô thống, Thiếu phó, đổi tên thuỵ là Tương Liệt, phong Phụ Dực hầu.


    Nguyên Khâm sai Chưởng Hữu quân, tặng Dực vận đồng đức công thần, Đặc tiến Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc Thái bảo, Nhân quận công, thuỵ Trung Cần là Nguyễn Văn Nhân, nay tặng làm Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, đổi tên thuỵ là Mục Hiến, phong Kinh Môn quận công.


    Nguyên Khâm sai, Hậu dinh Đô thống chế, tặng Dực vận công thần, Đặc tiến Khai phủ Phụ quốc Thượng tướng quân, Thiếu bảo, Nghị quận công, thuỵ Trung Liệt là Mai Đức Nghi, nay tặng làm Tá vận công thần, Tráng võ tướng quân, Thần sách quân Hậu dinh Đô thống, Thiếu bảo, đổi tên thuỵ là Cung Cẩn, phong Vĩnh Lại hầu).


    Vua cho rằng từ tỉnh Quảng Trị trở ra Bắc lúc đầu mới chia đặt quan chức việc thay thế bàn giao còn bề bộn, chuẩn cho nhằm ngày 30 tháng 12 năm nay thì phong ấn ; ngày mồng 1 tháng giêng sang năm thì khai ấn.


    Ban áo quần cho biền binh sáu đội Thường trực và bốn đội Ngân sang.


    Nguyễn Huy Diễm, nguyên Tham hiệp Sơn Nam, bị lỗi nhiều án, phải giáng đến 10 cấp. Vua ra lệnh cách chức, phái theo bộ Hộ, để gắng sức làm việc chuộc tội.


    Bộ Hộ tâu nói : “Từ trước đến nay có ân chiếu rộng miễn cho những thuế để thiếu đã lâu ; các địa phương, có nơi đem tiền thóc mà bản án đã xử cho miễn thu, lại liệt vào hạng phải đóng, có nơi thì xếp vào hạng không phải đóng, việc làm không nhất trí”.


    Vua nói : “Ra ơn rộng miễn là chỉ riêng về thuế chính cung. Còn như các hạng thuế truy thu thì sao lại vin cớ cho miễn được. Sắc cho từ nay hễ có ban ơn thì nên phân biệt làm cho rõ ràng, không được lộn xộn như trước, sẽ bị giao đình thần bàn xử”.


    Bộ Công bàn tâu cho rằng thuyền mành ở Bắc Thành cũ và các hạt Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên, thuộc Bắc Thành ; các hạt Quảng Trị, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình thuộc phía bắc kinh kỳ đều có số ngạch nhất định. Nay lựa đất chia hạt, Bắc Thành đổi là Hà Nội, mà Ninh Bình thì lệ thuộc vào Nam Định có Hưng Yên mới đặt ; Nghệ An có Hà Tĩnh mới đặt mỗi hạt đều có thuỷ quân. Vậy thuyền mành nên lựa tinh quân cấp để đủ sai phái ; xin đem cả 151 chiếc thuyền nguyên ngạch ở các hạt từ Ninh Bình trở ra bắc, chia cấp cho các nơi thống hạt như : Hà Ninh, Hải Yên, Định Yên, để làm định ngạch (Hà Ninh 31 chiếc, Hải đạo thuyền 4 chiếc, Lê thuyền 10 chiếc, Ô thuyền 10 chiếc và Sam bản 7 chiếc. Hải Yên 54 chiếc : Điện hải thuyền 10 chiếc, Hải đạo thuyền 4 chiếc, Lê thuyền 10 chiếc, Ô thuyền 10 chiếc, Sam bản 10 chiếc, tuỳ thuyền Sam bản 10 chiếc. Định Yên 66 chiếc : Bắc an hiệu thuyền 5 chiếc, đổi là Đinhâtn ; Bắc tĩnh hiệu thuyền 10 chiếc, đổi là Định tĩnh ; Hải đạo thuyền 4 chiếc, Lê thuyền 12 chiếc, Ô thuyền 12 chiếc, Sam bản 8 chiếc, tuỳ thuyền tiểu Sam bản 15 chiếc). Ninh Bình, Hưng Yên và Quảng Yên xin là những tỉnh kiêm hạt đều sung tuỳ các quan Tổng đốc liệu cấp. Còn Quảng Bình, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hoa vẫn để định ngạch như cũ, Hà Tĩnh thì do Nghệ An liệu lượng cấp cho.


    Vua y theo lời bàn ấy. Lại sai trích lấy 4 đội pháo thủ thành cũ chia cho lệ thuộc vào Hà Nội 2 đội, Sơn Tây 1 đội và Bắc Ninh 1 đội ; còn các pháo hiệu đang lệ thuộc vào Nam Định và Hải Dương mỗi hạt 1 đội, đều theo như ngạch cũ.


    Bộ Binh dâng sổ tổng kê tất cả các biền binh năm ấy.


    Vua xem và bảo : “Binh quý tinh nhuệ không quý không nhiều. Binh số nước ta chỉ có hơn 100.000 dẫu không nhiều bằng con số hơn 300.000 của nhà Thanh, nhưng nếu thao diễn được thạo, khí giới được tốt, cũng đủ vô địch, nếu chỉ hư trương con số trống rỗng, thì dẫu nhiều, cũng chẳng làm gì”.


    Nguyên quyền giữ ấn triện Bắc Thành là bọn Lê Đại Cương, bắt được kẻ phóng hoả đốt nhà cửa người ta, lập tức sai chém rồi mới tâu lên.


    Vua bảo bộ Hình : “Đối với quyền lớn sinh sát, bề tôi Bắc Thành khinh suất như thế, đáng lẽ giao bộ nghiêm ngặt bàn xử, nhưng nghĩ hiện nay đương chia phái biền binh đi đóng giữ các nơi, hoặc giả những kẻ côn đồ vô lại, nhân dịp gây sự đó cũng là tuỳ tiện tạm làm chứ không phải là tự tiện chuyên quyền. Vậy gia ơn, chỉ phạt mỗi người một năm bổng”.


    Chuẩn định : “Từ nay, tới kỳ thi Hội, những cử nhân và giám sinh đợi bổ mà chưa được bổ, hễ ai tình nguyện đi thi Hội, thì nếu là giám sinh thì cho quan địa phương sát hạch, đáng được dự thi thì cho cùng với cử nhân, làm thành danh sách tâu lên, tới kỳ vào thi. Việc này đặt làm lệ mãi”. (Năm trước, thi Hội, chỉ những hành tẩu, làm việc ở bộ, các cử nhân các khoa hiện còn học tập ở quê quán và các giám sinh đã trúng hạch, mới được dự thi).


    Bộ Lễ tâu nói : “Hằng năm, có hai tết là Nguyên đán và mồng 5 tháng 5, Hoàng thượng đều thân đến Thái miếu ((1) Thái miếu : thờ Nguyễn Hoàng (Thái tổ Gia Dụ).1) và Thế miếu ((2) Thế miếu : thờ Gia Long Nguyễn Phước ánh (Thế tổ Cao hoàng đế).2) làm lễ, thiết nghĩ : việc phụng thờ tôn miếu đều rất thành kính, nhưng hễ có khi long trọng, có khi giảm bớt, nên so sánh với nghi lễ cho được hợp nghi. Xét theo điển lệ Bắc triều, thì tế miếu chỉ có năm lễ tế hưởng, còn các thời tiết hằng năm, chưa từng thấy chép Hoàng đế thân đến. Nay đối với hai tết ấy, xin sai hoàng tử các tước công đến tế thay, còn lễ phẩm đều theo y như cũ. Lại ngày 30 tết và ba ngày tiết khai xuân ((3) Ba ngày tiết khai xuân là mồng 1 mồng 2, mồng 3 tháng giêng âm lịch.3) làm lễ ở các miếu và điện Phụng Tiên xong, theo lệ, có bắn ống lệnh và đốt pháo giấy. Kể ra, người xưa đốt pháo ống tre, là để trừ lệ khí, và đón Phước xuân, thế tục nhân đấy dùng làm trò vui chơi tết là phải. Xét các đời Minh, Thanh, lễ tế miếu đều không có lệ đốt pháo. Vì thần đạo cốt tĩnh, trong các thời tiết hằng năm dâng tiến, tinh thần bàng bạc như xuống như lên lờ mờ nghi ngút, nay nếu sau khi làm lễ, tiếng pháo vang ầm, e không phải là tỏ rõ ý nghiêm kính. Vậy xin đình chỉ việc đốt pháo”. Vua đều chuẩn y.


    Đổi tên các trạm ở Hà Tĩnh và Hà Nội (Hà Tĩnh có 6 trạm, trước thuộc Nghệ An, nay trạm An Thần đổi làm Tĩnh Thần, trạm An Sa làm Tĩnh Sa, trạm An Lạc thành Tĩnh Lạc, trạm An Khê đổi làm Tĩnh Khê, trạm An Đan đổi làm Tĩnh Đan, trạm An Liêu đổi làm Tĩnh Liêu. Hà Nội có 5 trạm, trước thuộc Sơn Nam, nay trạm Sơn Phú đổi làm Hà Phú, trạm Sơn Cầu đổi làm Hà Kiều, trạm Sơn Khoái đổi làm Hà An, trạm Sơn Hồi đổi làm Hà Hồi, trạm Sơn Mai đổi làm Hà Mai. Và mới đặt một trạm ở ngoại thành, gọi tên là trạm Hà Trung).


    Dùng Hộ bộ Chủ sự Phạm Viết Cao làm Đốc học Quảng Trị, thăng Giáo thụ Lý Nhân Vũ Thúc làm thự Đốc học Hà Tĩnh, Giáo thụ Hà Hoa Vũ Đình Tuấn được lên thự Đốc học Hưng Yên, Giáo thụ Thuận An Đặng Văn Đồng lên thự đốc học Thái Nguyên. Cho viên bị cách là Vũ Phan được khai phục làm Giáo thụ Thuận An.


    Sai chế mũ áo cấp cho con các thân công. (Phàm các thân công, tuổi đã 15, thì cấp cho 1 chiếc mũ xuân thu, 1 bộ áo giao lĩnh, 1 cái xiêm, 1 đôi giày và bít tất. Trang sức ở mũ thì dùng 3 đoá hoa bằng vàng 5 tuổi, 2 bức đính thêu lối cổ đồ ((1) Cổ đồ : lối thêu, vẽ cổ, ví dụ như : lối chữ công, lối chữ triện, lối chữ thọ v.v…), con trưởng thì có 4 con giao long, có thứ thì có 2 ; áo có bổ tử ((2) Bổ tử : bức thêu hình vuông đính ở trước ngực, hay sau lưng áo, trên bức ấy có thêu các hình con giống, tuỳ theo chức tước phẩm hàm khác nhau.), xiêm cũng có bổ tử, con trưởng thêu sư tử, con thứ thêu hình con hổ. Còn 3 bông hoa trang sức ở mũ sau đổi làm 2 bông).


    Tháng 12, điều Nguyễn Hữu Gia, nguyên thự Binh bộ Hữu thị lang, lĩnh Bắc Thành Binh tào làm thự Công bộ Hữu thị lang sung giữ việc Đê chính.


    Quan thành Gia Định tâu nói : “Dân mán chàm ở Sỉ Khê thuộc châu Quang Hoá, do con Chưởng cơ Sơn Cố là Phủ Vi, cháu gọi Phủ Nộn bằng cậu, nối đời cai quản, lệ thuộc vào sổ dân man Phiên An, về thuế lệ, vẫn chưa châm chước quy định, nay dân ấy sinh tụ vẫn chưa đông đúc, ruộng đất cũng chưa mở mang, vậy xin lại rộng hoãn cho việc đóng thuế”.


    Vua bảo bộ Hộ : “Dân mán ấy, trước kia nhân xiêu tán, trở về đất cũ, đã cấp cho vay tiền công để làm ăn sinh sống, tới khi hết hạn, không nộp trả được đã cho khoan miễn ngay, chính là muốn cho họ ở yên làm ăn, để làm dân biên giới lâu dài; đến nay đã hơn 8 năm, còn nói sinh tụ vẫn chưa đông đúc, ruộng đất cũng chưa mở mang, không thể định thành ngạch thuế đó chẳng phải là do quan địa phương thừa hành không nên công trạng gì mà đến thế ư ? Nay hãy gia ơn cho rộng, hoãn thêm một năm nữa, nhưng phải nghiêm sức sở tại, để ý phủ dụ khiến dân man ngày càng thấm nhuần phong tục người Kinh, vui đóng thuế khoá”.


    Bộ Lại tâu nói : “Về giấy tờ ở các nha môn trong, ngoài, từ năm Gia Long thứ 18 (1819) trở về trước, những tờ chiếu, sắc, chỉ, dụ, gián hoặc có ghi rõ tên nhà vua và những chữ đồng âm khác, nay xin cho sao theo nguyên bản, nếu có kính gặp chữ ngự danh nào thì chiếu theo lối chữ do bộ Lễ chép đưa mà đổi lại điền vào, còn chữ đồng âm khác thì theo nghĩa câu văn mà đổi đi điền vào ; rồi làm sớ kính đệ một thể. Về bản giao do bộ đối chiếu cho xác thực. ở cuối tờ giấy, viết rõ những chữ “năm, tháng, ngày, đình thần phụng sao tống” rồi đóng dấu triện nhỏ có 4 chữ “đồng di hiệp cung” đưa giao cho giữ lấy. Còn nguyên bản thì thu lấy tiêu huỷ đi. Đến như lời truyện cộng đồng sớ, văn, bẩm văn và các giấy tờ cũng theo đó tẩy đi, điền vào, rồi để lưu chiểu”.


    Vua cho lời tâu là phải.


    Định lệ về tiền và thóc cần dùng cho thợ bồi tranh, thợ vẽ, sở đốc công thuộc Vũ khố (cục thợ bồi tranh mỗi năm cấp cho 8 phương gạo ; cục thợ vẽ, mỗi năm cấp cho tiền 3 quan, gạo 3 phương).


    Các tỉnh Nam Định và Sơn Tây phái dẫn 3 người yêm hoạn ((1) Yêm hoạn : người bị thiến mất bộ phận sinh dục.1) đến Kinh. Vua sai sung vào việc quét tước ở Nội đình. Vua nhân bảo bộ Lễ : “Hoạn thụ dẫu là những kẻ hèn mọn, nhưng chốn cung cấm phải có hạng người này, gần đây lũ ấy có ít không đủ sai khiến, tình thế có lẽ phải sẽ làm như đời xưa là có lệnh cho vào buồng tắm ((2) Buồng tắm : nơi người xưa dùng nhốt những tội nhân bị thiến để giữ cho kín gió.2) mới được nhưng hình phạt ấy bỏ đi đã lâu, nếu lại làm nữa thì người có lòng nhân không nỡ”.


    Bắt đầu đặt chức tri sự và lại mục ở phủ huyện các địa phương. Phàm chỗ nào rất cần và chỗ cần thì đặt một người tri sự và 2 người lại mục ; chỗ cần vừa và chỗ cần ít thì đặt 2 lại mục. Do thượng ty sở tại chọn lấy bát, cửu phẩm thư lại thuộc nha mình, người nào quê ở hạt khác, thì bổ tri sự, đề lại hay thông lại cũ, làm được việc thì bổ lại mục, cấp cho bằng thí sai, đợi đủ 3 năm, không có lỗi, mới tâu xin cho thực thụ. Còn thông lại thì chuẩn cho theo ngạch cũ, liệt vào hạng vị nhập lưu((3) Vị nhập lưu : chưa được vào chính ngạch.3).


    Lê Đại Cương, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên tâu nói : “Biền binh ở 5 đội Tùng thiện nhất, nhị, tam, tứ, ngũ thuộc Bắc Thành trước đều là tù phạm dồn lại và bổ sung. Nay chia đặt tỉnh hạt, chưa có lệ thuộc vào đâu. Vả, bọn ấy chỉ để dùng ở nơi ven biên giới là phải, xin đổi cho lệ thuộc về Sơn Tây, để phòng sai khiến”. Vua chuẩn y. Lại cho rằng quân đội phần nhiều không đủ số ngạch, bèn sai dồn làm 4 đội nhất, nhị, tam, tứ.


    Định lệ về số thuộc binh của Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát và Lãnh binh ở các tỉnh. Tổng đốc 30 người, Tuần phủ 20 người, Bố chính và án sát đều 10 người, Lãnh binh 5 người, mộ những dân ngoài sổ, từ Quảng Bình trở vào Nam để sung vào ; mỗi người, mỗi tháng cấp lương cho 1 quan tiền, và 1 phương gạo. Rồi sắc cho từ nay viên nào được thăng đổi đi hạt khác, đều chuẩn cho đem theo số lính mình được có ấy. Nếu thăng đổi vào làm việc ở Kinh, thì chiểu theo lệ quan Kinh mà đem lính vào còn thừa thì bỏ bớt đi.


    Nhà dân ở trong Kinh thành bị cháy thì thị vệ theo lệ nổi trống hiệu, đương đêm làm náo động lên. Vua bèn quy định lại từ nay, trong Kinh thành hễ có nhà nào cháy thì lập tức do Tấu sự xứ tâu lên, đợi được chỉ, mới cho nổi hiệu. Lại sắc cho ngoại thành, nếu có bị cháy, như ở kho gỗ đầu nơi phụ quách, hay xưởng thuyền ở bờ phía nam sông Hương, cho chiếu theo lệ trong thành, phải kíp đến dò thăm để báo ; nếu không phải ở hai nơi ấy thì thôi.


    Lê Đại Cương, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên tâu nói : “Số binh 2 cơ kiêm hạt Tuyên Quang chỉ có hơn 200 người, không đủ phân phái. Trước kia đã bàn định lấy 1 cơ Bắc Thành ở Sơn Tây, chia đi phòng giữ Hưng Hoá. Nay xin trích lấy 500 biền binh ở cơ Hậu dũng Hữu quân, chia 300 người lệ thuộc Hưng Hoá, 200 người lệ thuộc Tuyên Quang ; đợi sau khi Tuyên Quang mộ đủ cơ binh, sẽ lại rút về Hưng Hoá cho đủ số 1 cơ”.


    Lại số người coi kho ở Sơn Tây theo lệ thì phái một suất đội 50 biền binh cứ 3 năm tới kỳ thanh tra thì thay đổi một lần. Nay chia đặt tỉnh hạt sự trưng thu thuế khoá ở 7 huyện thuộc thành cũ đều gộp cả vào tỉnh, thì số tiền và thóc thu vào, phát ra nhiều bội hơn trước. Vậy xin tới kỳ thanh tra sang năm, phái 2 suất đội và 100 biền binh ở Hữu quân sẽ cùng với những người giám phủ cũ, giao nhận với nhau. Từ nay về sau, tới kỳ thanh tra, cũng theo lệ ấy.


    Vua đều ưng thuận.


    Lê Văn Quý, Tổng đốc Thanh Hoa tâu nói : “Tỉnh hạt có phủ Tĩnh Gia, là chỗ đất xung yếu, khi có thành trì kho tàng, theo lệ, phái 2 vệ lính tỉnh đến đồn thú, mỗi năm một lần thay phiên. Gần đây trong cõi yên ổn, những lính ở lại canh giữ phần nhiều nhàn rỗi. Vậy xin mỗi năm chỉ phái một vệ, cho đỡ phiền phí”. Vua chuẩn y lời tâu ấy.


    Quy định cho các nha môn ở trong Kinh và các tỉnh ngoài về cách thức viết đài ở các tờ tấu, sớ. (Phàm những tập tấu, để không 1 khoản, chữ chỉ, chữ văn thì đài vào khoản thứ 1, chữ tấu đài vào khoản thứ 2, viết niên hiệu vào khoản thứ ba ; trên đầu giấy viết, nên để trống, chia làm ba khoản : khoản thứ nhất để đài chữ “chỉ” , chữ “văn” ( ) ; khoản thứ hai để đài chữ “tấu” ( ) ; khoản thứ ba để đài niên hiệu. Khi gặp chữ “thiên” ( ), chữ “tổ” ( ) là những chữ cực tôn thì đài lên khoản trên cùng đầu giấy. Vì còn viết giấy tờ mừng, biểu mừng, biểu tạ, thì dùng những chữ “khể thủ, đốn thủ” ngoài ra các việc thường chỉ ghi chức hàm, họ, tên, người đứng gửi và “cẩn tấu” mà chức, hàm, họ tên đều viết vào hàng bình thường, giấy trình bày và đơn trạng của nhân dân cũng thế. Đến như trong tờ dụ, tờ chỉ có nói đến những chữ miếu đế vương các đời, hay Văn miếu, đều đài vào khoản thứ nhất mà gặp có dụ chỉ của đế vương các đời thì cũng đài ở khoản thứ nhất chỗ để trống trên đầu tờ giấy.


    Bộ Lễ tâu nói : “Các địa phương ở ngoài, hằng năm gặp tiết Thánh thọ ((1) Thánh thọ : ngày sinh nhật bố mẹ vua.) và 3 tiết lớn là Vạn thọ ((2) Vạn thọ : ngày sinh nhật vua.), Nguyên đán, Đoan dương ((3) Đoan dương : ngày mồng 5, tháng 5 âm lịch.), các tờ mừng, biểu mừng đều thấy có đóng ấn triện. Nay ấn triện đặt ra là để làm bằng chứng. Phàm việc gì có quan hệ đến chính sự thì dùng là phải ; đến như tờ mừng, tờ biểu là lời của tôi con, tán dương chúc tụng, không phải như tấu sớ, sổ sách. Vậy xin từ nay về sau mỗi lễ khánh tiết, dâng biểu mừng, chỉ nên kính cẩn ghi chức hàm, bỏ dùng ấn quan phòng và ấn triện đi”.


    Vua cho là phải.


    Bắc Ninh và Hải Dương, có nhiều giặc cướp. Bộ biền ((4) Bộ biền : biền binh đi đánh bắt giặc cướp.) truy nã, chúng lại trốn thoát sang hạt khác. Các đốc thần tâu báo việc ấy và viện cớ nói là : không dám vượt sang hạt khác, đuổi đến tận cùng.


    Vua bảo bộ Hình : “Không được tự tiện kéo nhau vượt sang hạt khác, là chỉ riêng những kẻ mượn cớ quấy nhiễu, những việc đề phòng tầm thường mà thôi, đến như dẹp giặc cướp, cốt phải truy nã đến cùng, nếu cứ phân chia địa giới, không khỏi có chỗ ngăn cản, mà sau việc xảy ra, lại thêm khó làm ! Vả lại việc bắt kẻ phạm trong chỗ tiếp giáp giới, luật đã nói rõ, có cấm về sự vượt cõi đâu ? Đó chẳng qua lũ kia trong lòng sợ sệt, may thấy bọn cướp trốn đi hạt khác, đã tránh được nạn, lại dễ đổ lỗi, thế mà đốc thần cũng không biết răn bảo từ trước. Vậy khi truyền chỉ cho đốc phủ các địa phương từ Quảng Trị trở ra Bắc, nghiêm sức cho các bộ biền và các dân xã thuộc hạt từ nay về sau, hễ có trộm cướp lén lút ló ra thì lập tức phải hết sức đánh bắt, nếu chúng chạy trốn sang hạt bên cạnh thì cho phép một mặt phi báo lên thượng ty hội họp nã bắt, một mặt đuổi riết đến kỳ cùng, cốt bắt được cả bọn. Không được mượn cớ là không dám vượt quá địa giới rồi tự rút lui. Còn bộ biền ở hạt bên cạnh, hễ thấy đuổi bắt, không được lấy nê là chưa có thượng ty liên lạc hội tiễu, bèn tự ý cản trở việc nã bắt. Nếu kẻ nào đun đẩy lẫn cho nhau đến nỗi để cho giặc cướp xa chạy cao bay thì sẽ bị tội”.


    Bộ Hộ tâu nói : “Những vị nhập lưu thư lại thuộc bộ Hộ chỉ có 50 người, đã chuyên bổ làm chủ thủ ở Kinh thương Nội tàng, thế mà nhiều lần lại phải lựa ra để sung bổ vào chân chủ thủ ở Nội vụ Vũ khố, do đấy thiếu người làm việc. Vậy xin từ nay, phàm ngạch, tư dịch Nội vụ Vũ khố có thiếu người cũng miễn cho bản bộ không phải sung điền nữa”.


    Vua ưng thuận.


    Đổi tấn Lang Lung thuộc Bình Thuận làm tấn Long Vĩnh. Lại cho rằng tấn này với tấn Vị Nê, đều có thuyền thông qua lại hạ neo, việc công cũng nhiều, vậy chuẩn cho đặt thêm mỗi tấn 1 hiệp thủ.


    Gia tặng Hoài công Tôn Thất Hy làm Tôn nhân phủ Tả tôn chính, vẫn thuỵ là Đôn Mẫn và phong là Thuận An công.


    Vua bảo bộ Lễ : “Từ xưa các bậc minh vương, để tỏ lòng yêu mến trước hết phải thân người thân, mà tôn người có đức, đền người có công, đối với lễ thế là chính đáng, nghĩ đến Khâm sai lưu trấn thành Gia Định, tặng Hoài công Tôn Thất Hy là thứ huynh của ta, lúc trẻ đã nhận chuyên trách ở cõi ngoài, ngờ đâu tuổi tới cập quán ((1) Cập quán : theo lễ xưa con trai 20 tuổi thì đội mũ. Đây có nghĩa là tới 20 tuổi.1) không được hưởng Phước ấm lâu dài, đã từng được Hoàng khảo ta, Thế tổ Cao hoàng đế, ban cho tước phong vinh hiển, tưởng cũng đã thêm rực rỡ ở dưới suối vàng. Ta nhớ lại việc trước, trong lòng cảm động, bèn gia phong thêm chức hàm và đất ăn lộc, để lâu dài về sau này, cốt tỏ ý nghĩa chia sẻ vinh quang với anh em, thêm mãi không thôi”.


    Đổi cấp tín bài bằng ngà từ Quảng Trị trở ra Bắc : (Tín bài ấy một mặt khắc những chữ : tên tỉnh và tín bài hiệu thứ mấy, một mặt khắc những chữ : Minh Mệnh thập nhị niên quan cấp”.


    Tám tỉnh : Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây và Bắc Ninh, mỗi tỉnh 10 cái, giao Tổng đốc giữ. Chín tỉnh : Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên và Lạng Sơn, mỗi tỉnh 5 cái, giao Tuần phủ giữ. Tỉnh Cao Bằng 3 cái, giao Bố chính và án sát cùng giữ. Còn tín bài cũ cấp cho thành và trấn thì thu lại và tiêu huỷ cả.


    Bộ Hộ tuân theo chỉ dụ, đem việc Kinh thương biền binh thay thế, bàn giao và công việc nên làm tâu lên. Vua hạ lệnh cho đình thần bàn lại. Đình thần xin từ nay phàm lính coi kho, khi được thay đổi, thì biền binh ban trước hội đồng với giám đốc chủ thủ xét xem kho các hiệu đã từng so lường và chứa đầy rồi giao cho ban kế tiếp nhận giữ. Nếu thóc gạo ban trước đã đăng thu chứa ở kho nào và số thóc gạo dẫu không phải chính tay [ban trước] đăng thu mà đã mở ra, phát đi, thì cũng tâu xin lần lượt so lường. Duy hiện nay, thóc gạo chứa ở kho, so với con số ở sổ sách, chưa rõ có phù hợp không, ban trước và ban sau, không khỏi đổ lẫn cho nhau, nếu có việc án xảy ra thì lại dây dưa lan rộng mãi. Còn nguyên do của kho nhà nước thiếu hụt không biết lỗi bởi tại đâu. Vậy phải nên so lường tất cả cho rõ thiếu đủ. Tra theo điển lệ nhà Thanh, kho có từng ngao, vì trong kho chia ngăn làm giới hạn, ghi rõ số mục để tiện so lường. Nay xin ở kho các hiệu chiếu theo số gian, cứ 5 gian ngăn ra làm 1 ngao (nếu lẻ loi, không đủ 5 gian, cũng đặt làm 1 ngao) xây tường ngang bằng gạch, cao đến xà ngang, trên xà lát ván để làm giới hạn. ở gian giữa ngao, mở một cửa. Phàm thu chứa, dưới từ chỗ lát phên tre, lên đến cửa sổ làm mức gạt, gạt cho đầy phẳng. Các số hiện chứa là bao nhiều đều khắc chữ vào thẻ gỗ, đóng ở ngoài cửa ngao để làm ghi. Chỗ khoá ở cửa phải niêm phong, đóng triện của bộ, làm đúng phép. Trước hết hãy làm ở kho hiệu Quảng Thịnh tam hiệu còn để không, rồi so lường thóc ở kho gần đấy đem chứa vào, giao cho bọn giám thủ mới nhận giữ. Còn các kho khác cứ lần lượt mà làm. Kho Quảng Tích nhất hiệu đương chứa muối, cũng xin từ chái phía tây đến gian thứ nhất kho ấy làm một ngao, để chứa muối Ba Thắc, từ gian thứ 2 đến gian thứ 11, chia làm 2 ngao, để chứa muối, theo y như cách thức kho chứa thóc. Về cách chứa muối, bỏ hết ván lát và những cát cũ, rồi đổ đầy đất, ở trên rải 1, 2 lượt lá dừa, mặt trên và bốn bên cũng đều lót lá dừa.


    Chủ thủ và thư lại ở kho đều theo hiệu kho, chia phái cùng với biền binh đương ban hội nhau mà làm, để có chuyên trách. Sáu cửa ở tường chung quanh kho, phái riêng 1 suất đội và 30 biền binh, lần lượt canh giữ, cứ 1 tháng lại thay phiên nhau ; nếu thấy có tình tệ gì khác thì lập tức bắt giải. Vả, kho tàng là việc quan trọng, tiết mục rất nhiều, nếu không đặt một viên quan to để đối phó khi việc chợt xảy ra và ngăn ngừa lúc việc còn nhỏ thì sợ khó làm được chu đáo. Vậy xin đặt riêng một Thương trường Thị lang, phàm các chức văn võ và lại dịch ở kho và hết thảy mọi việc ở kho đều do viên ấy trông coi và đốc suất. Vua theo lời bàn, xuống dụ bảo kho Quảng Thịnh tam hiệu chuẩn cho sang năm xây dựng nhà ngao, còn kho hiệu khác, đều gạt cho đầy phẳng ; nếu có thừa thì đong lường đem chứa nơi khác, rồi phải khắc rõ thước tấc làm ghi, giao cho chủ thủ mới tiếp nhận, đợi sau này có kho nào bị dột ướt phải sửa chữa lại, thì theo thứ tự mà thi hành.


    Định rõ lại lệ quân cấp khẩu phần lương điền ((1) Ruộng lính được hưởng theo khẩu phần.). Đầu niên hiệu Gia Long [1802-1819], chế độ ruộng khẩu phần : Từ trên bậc văn võ Nhất phẩm đến Tòng cửu phẩm cho tới quan dân, người già, người tàn tật, người không vợ, kẻ goá chồng, chiểu theo ngạch bậc, phẩm thứ trước sau, lấy công điền, công thổ ở trong xã, quân cấp cho có thứ bậc khác nhau. Còn lương điền thì cứ biền binh ở dinh, vệ, cơ, đội các quân, tuỳ hạng mà chia cấp ; nhưng có quan phẩm thì không được dự. Duy trước đây chỉ có hai hạng cấm binh và tinh binh, gần đây lại có quân hiệu thân binh, cũng có mới cũ không phù hợp nhau, bộ Binh bàn xin nhân phép đã lập thành, chiếu theo danh sắc hiện đặt, lựa định quân cấp phân số để làm thứ bậc, còn quan viên và các hạng người cùng với trai, gái, già, trẻ vẫn cứ theo phép chia ruộng như cũ.
  • Chia sẻ trang này