0060.0027

25/12/15
0060.0027
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua chuẩn cho đình thần bàn lại để thi hành.


    (Thân binh : Cẩm y vệ, Loan giá vệ, Vũ lâm dinh và tả hữu lưỡng dực, mỗi người cấp ruộng đất khẩu phần 9 phần, lương điền 1 mẫu. Cấm binh bốn dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ, Hổ oai và Nội thuỷ vệ, mỗi người cấp ruộng đất khẩu phần 8 phần rưỡi, lương điền 9 sào. Cấm binh : viện Thượng trà 2 đội Kim sang, Ngân sang, các đội Giáo dưỡng binh, đội Thượng thiện, đội Tài hoa, thự Hoà thanh, viện Thượng tứ, Kinh tượng và 5 dinh quân Thần sách mỗi người cấp khẩu phần 8 phần, lương điền 9 sào. Tinh binh : các vệ, cơ, đội ở 5 quân Trung, Tiền, Tả, Hữu, Hậu, các vệ, cơ Thuỷ quân, mỗi người cấp khẩu phẩn 7 phần rưỡi, lương điền 8 sào. Tinh binh : 2 vệ Hộ lăng trung, tiền, các kiên, các sai, các dực, thuộc vệ Giám thành và vệ Võng thành, các ty Lý thiện, mỗi người cấp khẩu phần 7 phần, lương điền 8 sào. Tinh binh : các vệ, cơ, đội và lính trạm thuộc các địa phương, mỗi người cấp khẩu phần 7 phần, lương điền 7 sào. Tinh binh : đội Tuần bạc, đội Tân sài, các đội thuộc phủ đệ, thuộc binh các nha, lính coi kho, hộ đánh cá và Thanh bình thự ở Kinh, thuộc binh các nha ở các tỉnh ngoài mỗi người cấp khẩu phần 7 phần, không có lương điền. Phàm các công điền công thổ trong xã đều cấp trước khẩu phần cho những người có quan phẩm, sau mới đến khẩu phần lương điền của các binh lính, thứ mới đến khẩu phần của nhân dân ; không được cho binh lính chiếm lương điền trước, sau mới đến khẩu phần người có quan phẩm).


    Ngày Quý tỵ có lễ Hợp hưởng. Sắc cho bộ Lễ : từ nay hễ gặp lễ tế Giao, lễ Miếu hưởng, phẩm vật có phải dùng đến thú rừng thì đều cho bắt ở vườn Lộc Uyển để làm lễ, còn việc việc săn bắn, phải đợi có chỉ dụ rõ ràng mới được cử hành.


    Chuẩn định : hằng năm, quan thừa tế về những ngày 30 tết Nguyên đán đều do bộ lập thành danh sách, cắt lượt từng ban tâu phái đợi chỉ quyết định (lệ trước do bộ đề thỉnh, đợi chỉ chọn phái).


    Vua dụ bảo Tôn nhân phủ từ trước đến nay, các hoàng tử chư công, hễ gặp ngày sinh nhật, đều dâng phẩm vật và đến tham bái ở chỗ vua ngự và cung Từ Thọ. Đó dẫu không phải là điển lễ xưa nhưng đối với lễ là có ý báo đền từ gốc, hình như không có gì là trái lắm ; nhưng vì noi theo thói quen, đến cả con trai con gái của hoàng tôn hay của các tước công, cũng theo nhau dâng phẩm vật và vào bái yết. Như vậy rất trái với điển lễ. Vậy chuẩn cho bắt đầu từ sang năm những trai, gái, nhà vua chưa xuất các ((1) Xuất các : chỉ hoàng tử ra ở riêng chỗ đất được phong và công chúa đi lấy chồng.) nếu gặp ngày sinh nhật thì cho vẫn làm như cũ theo lễ người nhà, chỉ dâng phẩm vật và yết kiến ở chỗ vua ngự. Hoàng tử nào đã trưởng thành, xuất các rồi, thì đội mũ mặc áo đến cửa cung, tâu vua biết, đợi gọi vào yết kiến, không nên đến trước cửa cung Từ Thọ nữa. Còn trưởng công chúa của các tước công thì chỉ đến cửa cung Từ Thọ tâu lên và đợi chỉ của Từ cung, không phải đến chỗ vua ngự nữa, và không nên dâng phẩm vật. Ngoài ra, con trai con gái của hoàng tôn và con trai con gái của các tước công, đều không được dâng phẩm vật và tâu xin vào tham kiến.


    Lê Đại Cương, Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên, tâu nói : “Thuộc hạt có phủ Quốc Oai, nguyên coi 5 huyện. Trước kia, định đặt phủ thành ở xã Trung Thuỵ, thuộc huyện Đan Phượng là hạt kiêm lý ; tới lúc chia đặt ra tỉnh hạt, lại trích lấy huyện Từ Liêm cho thuộc về Hà Nội, thế là thuộc hạt chỉ còn có 4 huyện. Thần đã đi xem địa thế, thì các huyện An Sơn, Mỹ Lương và Thạch Thất đều ở phía đông sông Hát mà huyện Đan Phương riêng ở phía tây, địa thế Đan Phượng chưa phải là trung độ. Vậy xin dời đặt phủ thành ở địa phận xã Hoàng Xá, huyện An Sơn, và lấy An Sơn làm phủ nha, kiêm lý phủ cũ và vẫn dùng là huyện lỵ Đan Phượng, nhưng thôi việc xây đắp thành huyện thành”. Vua chuẩn y.


    Vua đi tuần du ở sông Lợi Nông, thưởng tiền cho các biền binh đi hộ giá. Sắc cho từ nay đi tuần du, nếu có ân thưởng [tiền] thì hạng Ngân bài thị vệ hay Nha bài thị vệ ((1) Hạng thị vệ đeo thẻ bạc và hạng thị vệ đeo thẻ ngà (tham khảo Thực lục, Đệ nhị kỷ, quyển 78, tờ 13a).) được thưởng thêm gấp đôi, hạng hộ vệ được gấp rưỡi.


    Hoàng Văn Quyền, Tuần phủ Lạng Bình, tâu nói : “Thổ Tri châu ở 7 châu (Văn Uyên, Thất Tuyền, Thoát Lãng, Ôn Châu, Văn Quan, Lộc Bình, An Bác) thuộc tỉnh Lạng Sơn, từ trước đến nay chưa có lỵ sở, chỉ do chỗ “Thịnh Hậu công vụ sở” ở tỉnh thành để giục giã đốc thúc mọi việc binh lương, nhưng vì đường đất rất xa cách hay sinh chậm trễ. Vậy xin theo dặm đường, chỗ nào vừa độ thì đặt một lỵ sở để làm nơi cư trú và làm việc ; rồi liệu trích những dân không đủ ghi vào sổ ở sở lại làm thuộc lệ, lại hạ lệnh cho chiêu mộ thủ hạ để lệ tòng và phân phái. Đối với bốn châu (Thạch Lam, Quảng Uyên, Thượng Lang, Hạ Lang) thuộc Cao Bằng là tỉnh kiêm hạt cũng xin chiếu theo cách đó mà làm. Vả lại, châu An Bác địa giới giáp Bắc Ninh và Quảng Yên, rừng núi chi chít nhiều đường xung yếu. Vậy xin đặt một đồn ở xã Đông Quan, phái lính đến đóng giữ”.


    Vua đều chuẩn y cả.


    Cho Võ Khánh được truy khai phục hàm tập ấm Khinh xa đô uý.


    Vua bảo bộ Binh : “Hoài Quốc công Võ Tánh, hết lòng trung đền ơn nước, công nghiệp rực rỡ, con là Võ Khánh đã từng được tập ấm chức hàm Khinh xa đô uý Tòng nhị phẩm. Ta để ý xây dựng, khiến cho nối được nghiệp nhà, không thẹn với cha nhưng Khánh tính vốn tầm thường, năm trước đã tự ý làm càn, can vào phép nước, theo lý không thể bỏ luật pháp mà gia ơn được, bèn ra lệnh giáng truất, rồi cho con là Võ Mỹ nối tập ấm làm Kiêu kỵ đô uý, tưởng triều đình đền đáp công lao, đã hết lòng lắm. Nay Khánh vừa mắc bệnh nặng, đã vội qua đời, rất đáng thương xót. Vậy gia ơn cho truy khai phục hàm tập ấm trước, rồi theo ngay hàm ấy cấp tiền tuất cho”.


    Đổi bổ Tống Viết Trì, nguyên Trấn thủ Quảng Bình làm Vệ uý Tiền vệ dinh Thần cơ và Tống Phước Bảo nguyên Trấn thủ Sơn Nam, làm Vệ uý ở Hữu vệ Hổ oai.


    Định lại lệ thưởng bạc cho con trai, con gái của hoàng tử và các thân công, được đầy năm, ẵm đến ra mắt (Lệ trước con trai của hoàng tử được thưởng 50 lạng bạc, con gái 40 lạng ; con gái của thân công cũng thế. Nay chuẩn định : con trai trưởng của hoàng tử được thưởng 60 lạng, con gái trưởng 50 lạng ; còn con cái về hàng vợ lẽ vẫn theo lệ trước ; con trai trưởng của thân công thưởng 50 lạng, con gái trưởng 40 lạng, con trai vợ lẽ 40 lạng, con gái vợ lẽ 30 lạng).


    Sai Vũ lâm Hữu dực Thống chế Nguyễn Tăng Minh kiêm coi Kim sang và 2 kho súng ống thuốc đạn. Vũ Văn Giải, Vệ úy Tiền phong tiền quyền coi 4 ty Hộ vệ, Cảnh tất, Loan nghi và Kỳ cổ thuộc vệ Loan giá.


    Định lệ lựa cử các chức phủ, huyện.


    Trước đây, vua dụ bộ Lại : “Chức phủ huyện rất gần gụi với dân, trăm họ được trị an thực do ở đó, nhân thế ta nghĩ : địa hạt có chỗ nhiều việc, ít việc không nhất định, nhân tài có người hơn người kém không giống nhau ; cần phải người và địa hạt cùng hợp nhau mới mong xứng chức. Trước đây việc cất nhắc phủ huyện chỉ chuyên trách cứ vào sự đề cử của đình thần, đã gây ra nhiều nỗi rối rắm về sự thể, huống chi nhân viên bổ ra ngoài, theo làm việc ở địa phương sở tại, tài cán hay dở, thượng ty chắc đã biết rõ, còn đình thần há hay biết khắp từng người được ư ? Phải nên lựa định chương trình, để về lâu dài. Vậy ra lệnh cho đình thần xét số ngạch đã định của các phủ huyện, xem chỗ nào khuyết nên do đình thần cử, chỗ nào khuyết nên do bộ chọn, chỗ nào khuyết nên do địa phương để tâu xin bổ, bàn rõ tâu lên”.


    Tới đây lời bàn dâng lên, xin từ nay phàm các phủ khuyết 49 người, Kinh huyện khuyết 3 người, các huyện chỗ rất cần, chỗ cần hiện khuyết 45 người, đều thuộc đình thần lựa cử, tâu xin bổ dùng. Còn các huyện cần vừa và cần ít cùng các phủ, huyện, châu ở ven biên thuỳ, đều cho phép quan địa phương xét những người sở thuộc và những cử nhân, giám sinh đã phân phái, xem người nào đáng sung vào chỗ khuyết nào, thì chỉ rõ tên, bảo cử lên.


    Lại đình thần cử người bổ các chỗ khuyết, nếu hạt nào đích xác có người xuất sắc, đáng được cử sung vào thì cũng cho đề tên rõ để cho người tài được xuất hiện. Đến như các nhân viên đợi thăng, đợi bổ, xét ngạch khuyết bàn bổ, đều do bộ Lại vẫn chiếu lệ mà thi hành”.


    Vua theo lời bàn.


    Vua dụ bộ Hộ : “Trước kia lựa định cái ống gạt ((1) Cái ống gạt để gạt lúa gạo.), cái thùng ((2) Cái thùng (dõng ): đóng bằng gỗ, hoặc tròn, hoặc vuông, mỗi thùng ăn 6 thăng.), cái hộc ((3) Cái hộc ( ) : đóng bằng gỗ, hoặc tròn, vuông, mỗi hộc ăn 26 thăng.), cái phương ((4) Phương ( ) : đóng bằng gỗ, hoặc vuông tròn, mỗi phương ăn 13 thăng (theo Thực lục, Chính biên, Đệ nhị kỷ, quyển 51, trang 35).) kiểu mới, ban cấp cho trong Kinh và các tỉnh ngềai là ý muốn khi phát ra, thu vào đều được công bằng ổn thoả mãi mãi. Gần đây nghe nói nha lại và lính coi kho ở các hạt xoay xở nhiều cách làm gian, như đắp sơn vào góc hộc ; làm mặt cái ống gạt lệch lạc, hoặc chỗ mặt để gạt khoét hơi rộng ra, dùng mẹo đổ mạnh, mà quan địa phương không hề phát hiện được ra. Xưa có câu : “Hữu trị nhân, vô trị pháp” ((5) Về việc thống trị, cốt ở người tốt, chứ không cốt ở pháp độ.) đủ biết pháp không phải là không hay mà chỉ bởi tại người thừa hành không hay đấy thôi. Đó há chẳng phải là bỏ thiếu chức trách ư ? Vậy truyền chỉ cho các địa phương phải để tâm xem xét những lại dịch ở kho tàng thuộc hạt mình, hễ có kẻ nào làm bậy chút nào, một khi dò xét được thực trạng, thì lập tức bắt xích lại nghiêm xử tâu lên ; nếu còn cứ mong làm cho xong việc, có người phát giác ra thì kẻ phạm bị chém đầu ngay, quan địa phương không chịu xem xét cũng bị nghiêm xử”.


    Quan thành Gia Định tâu nói : “Lệ tô ruộng các trấn ở thành hạt, về nộp tiền lá dừa, trước đây đã được chuẩn cho đình chỉ hẳn ; duy quân dân ở đồn điền, chỉ có nộp thóc dao dịch không như các hạng ruộng khác có tiền thuế nhất định. Vậy xin nên đổi định lại”. Vua sai bộ Hộ bàn, bèn chuẩn cho cứ thóc dao dịch, mỗi người 2 hộc, 14 thưng, 8 cáp, nay định là 2 hộc, 15 thưng. Còn tiền lá dừa cũng cho miễn trả.


    Chuẩn định từ nay hễ hết năm, từ ngày phong ấn đến ngày khai ấn, văn võ đại thần đều miễn túc trực ban đêm ; ngày tuế trừ ((6) Tuế trừ : ngày 30 tết.) và 3 ngày tết Nguyên đán, cộng 4 ngày, đều miễn cho vào trực tiến bài. Tất cả tấu sớ, nếu không phải là việc quan trọng khẩn cấp nên tâu đệ thì đều cho hoãn đến ngày mồng 4 sẽ tiến trình. Lệnh này ghi để làm lệ.


    Đổi đắp lại đê mới (dài hơn 70 trượng) ở xã Lê Xá (huyện Duy Tiên) thuộc Sơn Nam.


    Vua bảo Nội các : “Trước đã chuẩn định mỗi năm, cứ ngày mồng 1, mồng 2 tháng giêng và ngày 30 tháng 12, trong 3 đêm ấy, các cửa ở cung thành, hoàng thành và Kinh thành đều rộng mở để cho ra vào. Nhưng nghĩ chỗ cung cấm nhà vua là nơi nghiêm kính, nếu để cho đi lại cả đêm, sao cho tỏ ra kính cẩn ? Vậy, từ nay các cửa cung thành và hoàng thành đều theo lệ thường canh giữ, không nên mở toang, còn các cửa Kinh thành vẫn theo như chỉ dụ trước”.


    Lại sắc cho từ nay cứ năm hết tết đến, đêm [Trừ tịch], ở sân điện Thái Hoà, mỗi khắc, nổ 20 tiếng ống lệnh, suốt đêm đủ 1.000 tiếng, còn các đêm mồng 1 mồng 2 năm mới thì thôi.








    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXVIII



    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] (Thanh, năm Đạo Quang thứ 12), mùa xuân, tháng giêng. Dụ cho bộ Lại, bộ Binh, xét những quan viên lớn nhỏ ở Kinh và ở ngoài từ năm Minh Mệnh thứ 12 [1831] trở về trước, vì việc công bị phạt bổng, làm thành danh sách tâu lên, để liệu cho khoan miễn.


    Thưởng tiền và gạo 6 tháng cho các trạm ở các địa phương bắt đầu từ tháng giêng mùa xuân năm nay, tuỳ theo việc công, trạm ít mà phân biệt cấp cho.


    (Trước đây, Kinh đô vào Nam đến Vĩnh Giai, ra Bắc đến Sơn Mai, có 99 trạm, mỗi tháng cấp tiền 30 quan, gạo 20 phương. Đến nay, Bắc Kỳ chia đặt tỉnh hạt, số trạm thêm nhiều đến 133 trạm, là : Thừa Thiên 6 trạm, Quảng Nam 7 trạm, Quảng Ngãi 5 trạm, Bình Định 6 trạm, Phú Yên 6 trạm, Bình Hoà 11 trạm, Bình Thuận 16 trạm, Biên Hoà 5 trạm, Phiên An 3 trạm, Vĩnh Thanh, Vĩnh Giai 1 trạm, Quảng Trị 4 trạm, Quảng Bình 6 trạm, Hà Tĩnh 6 trạm, Nghệ An 5 trạm, Thanh Hoa 5 trạm, Ninh Bình 2 trạm, Hà Nội 6 trạm, cộng 100 trạm, trong đó có trạm Ninh Đa thuộc Ninh Bình, số binh trạm mới thêm, mỗi tháng cấp tiền 40 quan, gạo 25 phương, còn các trạm khác mỗi tháng cấp tiền 30 quan, gạo 20 phương. Hải Dương 4 trạm, Nam Định 2 trạm, Hưng Yên 1 trạm, Bắc Ninh 5 trạm, Thái Nguyên 1 trạm, Sơn Tây 10 trạm, Lạng Sơn 8 trạm, Cao Bằng 2 trạm. Cộng 33 trạm, việc công hơi ít, mỗi tháng cấp tiền 15 quan, gạo 10 phương, về mùa hạ ân thưởng cũng thế).


    Tỉnh Quảng Bình có mưa, lúa ruộng thấm nhuần. Tổng đốc Đoàn Văn Trường đem việc ấy tâu lên, Vua phê bảo : “Đầu xuân được tin mừng báo mưa, Trẫm cùng thần dân một địa phương đều vui mừng”.


    Lại tha thuế điền thổ 5 năm cho xã Văn Xá.


    Vua đi tuần du phía đông Giao ngoài thành, sắp lên ngựa, để chân vào bàn đạp, thì bàn đạp rơi, sai thay ngựa khác. Khi trở về vua dụ bộ Binh : “Các đồ vật của vua dùng, đều ở phần việc coi giữ, thế mà để sơ suất như thế, thì đặt viện Thượng tứ để làm gì ? Lãnh viện Hoàng Đăng Thận bị giáng 2 cấp, không cho tra xét, chống cãi, còn bọn cai đội, đội trưởng chuyên ty đều bị cách lưu”.


    Đình lại việc đắp đê ở huyện Phú Xuyên thuộc Hà Nội. Huyện Phú Xuyên có một dải đê tư (từ xã An Khoái đến xã Tường Lân), sạt lở đã lâu, thường vẫn có nạn nước sông tràn lụt. Năm ngoái quan Bắc Thành cũ dâng sớ xin đợi sau sẽ trù tính làm. Đến nay bọn Tổng đốc Nguyễn Văn Hiếu, Đê chính Nguyễn Văn Quyền tâu nói : “Đê ấy nên đắp dài hơn 4.400 trượng, tính giá tiền hơn 55.200 quan, một phen sửa sang như thế, tiền công không phải là nhỏ, mà dẫu nước có tràn đến (51 xã thôn), đều là ruộng cấy chiêm, không có lúa mùa, xin hãy tạm đình hoãn lại, nhưng sai dân sở tại theo cũ mà sửa đắp nhỏ thôi, để ngăn nước mưa lụt về mùa hè mà giữ lấy lúa chiêm là đủ”. Vua theo lời bàn ấy.


    Cuối mùa đông, ở hạt Nghệ An được yên tĩnh, Tổng đốc Tạ Quang Cự đem việc ấy tâu lên. Vua phê bảo rằng : “Xem lời tâu cũng đủ yên lòng, ngươi cố gắng mà làm, cốt sao giặc hết, dân yên mãi mãi. ấy là ngươi báo đáp ơn tri ngộ của ta nhiều lắm đó”.


    Ngày Bính thìn làm lễ Xuân hưởng. Vua dụ Nội các rằng : “Tháng này có lễ miếu hưởng phỏng theo lối cổ bày đủ nghi lễ đồ thờ như : nậm, liễn, bát ; nhạc cụ như : chuông, khánh, sáo, và chuông nhỏ v.v., cho đến múa văn, múa vũ, đều đầy đủ cả. Nhân nghĩ : việc tế lễ cốt ở thành kính, mà một phen sắp xếp đầy đủ cả hình thức lẫn tinh thần càng thêm tỏ rõ lòng thành cảm cách được thần linh, thực yên ủi được lòng ta. Vậy đáng phân biệt mà khen thưởng”. Quan bộ Lễ đã châm chước xét định, và bọn bộ ty nhạc công đã thừa hành. Vua bèn thưởng Lễ bộ đường quan Phan Huy Thực kỷ lục hai thứ, Đặng Chương và Tôn Thất Bạch mỗi người kỷ lục một thứ. Bộ ty thì thưởng bổng tiền, Hoà thanh thự thì thưởng bạc lạng có thứ bậc khác nhau. Thưởng chung ca nhạc công 200 quan tiền. Sau dó quần thần cho là lễ nhạc đã sửa sang rõ ràng, dâng biểu chúc mừng.


    Vua nghĩ đến đức tính nghĩa liệt của Quan Vân Trường, bèn chính mình làm bài thơ “Vân Trường chúc” ((1) Đuốc Vân Trường : Tào Tháo bắt Cam phu nhân và Mi phu nhân là hai vợ Lưu Bị giam cùng 1 phòng với Quan Vân Trường, Vân Trường đốt đuốc đứng hầu 2 phu nhân suốt đêm, để tỏ lòng trung nghĩa.1) khắc vào biển vàng, sai quan đem treo ở đền thờ Quan công.


    Quy định lại thể lệ thao diễn kinh tượng ((1) Kinh tượng : Theo Minh Mệnh chính yếu (quyển XIV phần Chế binh tờ 14a-b) thì các vệ, các cơ ở kinh đô có voi dùng vào chiến trận gọi là “Kinh tượng”. Ví dụ năm Minh Mệnh thứ 10 [1829], ba vệ ở Kinh gồm có 1.500 biền binh và 150 thớt voi.1)


    Năm ngoái chuẩn định về Kinh tượng, cứ hằng tháng, một lần hội lại thao diễn, hai lần chia ra thao diễn. Nay vua cho là quá phiền phức đổi định lại, bắt đầu từ năm nay, tháng giêng, tháng 4 và tháng 12, đình chỉ cuộc hội lại thao diễn, còn việc chia ra thao diễn thì mỗi tháng giảm đi một lần. Phàm khi hội lại thao diễn hoặc chia ra thao diễn voi chiến có mạnh tợn hay không, quân sĩ có thành thạo hay không, thì bộ Binh đều căn cứ vào quản quan mà tổng kết, một năm chia 4 tháng quý hội lại làm sổ dâng trình. Nếu khi hội lại thao diễn mà có sai đại thần đi giám thị thì do đại thần ấy cứ thực làm phiến tâu lên.


    Tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Văn Hiếu, tâu nói : “Huyện Từ Liêm ở phủ Hoài Đức, nguyên là một huyện lớn thuộc Sơn Tây, đất rộng, dân nhiều, thường xảy giặc cướp, thực là chỗ xung yếu, bận rộn, vất vả khó khăn. Vả lại, tiếp giáp địa đầu hai bên xứ tây bắc, công việc cầm phòng rất là trọng yếu. Thần đã thân đi ngắm xem hình thế, duy có xã Dịch Vọng, ở giữa huyện hạt, chỗ ấy sáng sủa cao ráo, có thể đặt đồn trại để đóng trọng binh. Vậy xin lập phủ thành ở đấy để quản phủ, và Tri phủ cùng đóng và lấy huyện Từ Liêm làm phủ nha kiêm lý. Đến như hai huyện Thọ Xương, Vĩnh Thuận đều ở trong ngoài thành Đại La thuộc tỉnh lỵ, đinh thưa ruộng ít, công việc hơi giản dị. Vậy xin theo lệ như 2 huyện Sơn Dương và Đăng Đạo thuộc Sơn Tây, đặt 1 viên Tri huyện Thọ Xương kiêm lý cả Vĩnh Thuận. Còn phủ lỵ Hoài Đức cũ đổi làm huyện lỵ Thọ Xương”.


    Vua cho lời tâu là phải. Lại cho huyện Từ Liêm làm chỗ rất cần yếu, đặt thêm viên Tri huyện nữa.


    Sai biền binh ở 5 quân thuộc các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây và Bắc Ninh đều lấy mồng 1 tháng 2 chia làm 3 ban, lần lượt thay phiên cho nhau.


    Tổng đốc các tỉnh bèn tâu xin : hễ phái đi các hạt kiêm lý, chia ra phòng thủ và đóng giữ ở các nơi đồn trại ; vẫn theo lệ cũ phái đi, đồn thú của Bắc Thành : mỗi năm một lần thay đổi, còn những lính lưu lại hàng ngũ ở tỉnh thì cứ chia ban. Theo như lệ định. Vua ưng thuận.


    Vua dụ bộ Binh : “Các hạng biền binh thuộc Bắc Thành cũ trước đã nghị định : mỗi năm cứ chiếu theo số lính trốn tránh trong năm ấy đem quản suất và phủ huyện mà phân biệt nghị xử. Nay nghĩ từ mùa đông năm ngoái, chia đặt tỉnh hạt, việc tuyển lựa binh lính trở thành mới mẻ cả, cũng có thể châm chước cho điển lệ khoan thứ. Vậy các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn và Cao Bằng, nội năm Minh Mệnh thứ 12 [1831] trong số giản binh hễ có kẻ nào trốn tránh, quản suất đáng phải phân xử, và các phủ huyện làm việc bắt giải, còn để thiếu, đáng phải nghĩ xử, nay đều chuẩn cho gia ơn khoan miễn. Từ năm nay về sau, cứ chiểu lệ đã định mà tuân hành”.


    Thân Văn Quyền Hộ bộ Tả thị lang, sung làm việc ở Nội các, phạm tội bị mất chức. Trước đây cục Bảo tuyền (tràng tiền) ở Bắc Thành cũ, đúc tiền đồng thiếu nhiều, án xử chuyên biện cục vụ Chủ sự Chế Công Hoạt, trông nom công việc từ trước đến sau, bị tội chém, được chuẩn cho giảm xuống tội đồ 5 năm, Viên ngoại lang Lưu Công Nghị và thự Tư vụ Nguyễn Doãn Thông tiếp nhận làm chỉ mới vài tháng, xử giảm một bậc phải tội lưu, chuẩn cho xuống tội đồ 4 năm, Hộ tào Trần Thiên Tải có trách nhiệm kiêm quản, xử cho giáng chức và đổi đi, đã giao bộ Hình Phước lại và Nội các duyệt lại, đều cho là đúng. Khi án này dâng lên, vua đặc cách gia ơn cho Trần Thiên Tải, đổi xuống giáng chức nhưng được lưu lại làm việc. Thân Văn Quyền, nhân đó tâu nói : “Công Nghị và Doãn Thông mới nhận chức ít ngày, còn có một chút đáng tha, xin nên lượng giảm”. Vua không bằng lòng. Khi đã bãi triều, xuống dụ bảo : “Chế Công Hoạt, Lưu Công Nghị và Nguyễn Doãn Thông, đều là lũ tham ô, thấy lợi quên nghĩa, dối việc công mưu lợi riêng, tội đáng xử vào tội chém và lưu mà chuẩn cho giảm xuống tội đồ, đã là nhẹ rồi, thế mà Thân Văn Quyền còn tâu ở trước mặt ta, cầu xin gia ơn, như vậy hình như có ý gây kéo bè để mua danh. Huống chi Nội các là nơi gần cung cấm, làm chức quan giữ chiếu chỉ, nếu thấy chỗ nào không hợp sao không làm tờ phiến phụ vào phiến nghĩ của bộ Hình để tâu bày ? Nay thấy cho Trần Thiên Tải được đổi ra “giáng lưu, bèn dám viện dẫn để cầu ơn ; vả lại Thiên Tải là kiêm quản thôi, không phải là thực phạm như Công Nghị và Doãn Thông, mà đấy lại là chỉ dụ đặc biệt ban ra há là điều nhân thần được nói, thế mà lại dám tâu ngay ở chốn đại đình, bảo luôn phải trái, làm hãi người nghe, là ý thế nào ? Vậy ra lệnh cho Hà Duy Phiên, tuyên lời dụ, sức hỏi Văn Quyền, bảo phải tâu lại cho rõ”.


    Quyền sợ hãi, dâng sớ xin nhận tội, và nói : “Thần từ khi được ơn tha lỗi, lại dùng dự vào làm việc ở Nội các, vẫn sợ tuổi già sức yếu, không báo đền được nên hễ thấy nghe điều gì thì liền nhất thiết cứ thực tâu bày, mong hết chức phận, chứ không dám có mảy may nào tư tình thiên vị để phụ ơn nước”. Vua phê bảo rằng : “Những việc lợi nước yên dân, chưa từng thấy ngươi nói đến ; từ khi ngươi vào Nội các đến giờ, công việc phần nhiều chậm chễ lầm lỡ. Kiến thức hẹp hòi, không được một điều gì khả thủ ! Thế bảo là hết chức phận được không ? Ngươi vì Lưu Công Nghị cầu ơn, chẳng qua đã từng cùng nhau làm việc ở bộ, nếu không phải vì hối lộ thì cũng là chuyện tư tình, sao gọi là công được ? Người quen làm thầy dạy học đọc được một câu : “Người quân tử cũng có cách để lừa dối được”, sao ngươi không vuốt bụng tự hỏi mình, trước kia đã phạm tội gì, mà nay lại cho mình là công bằng, ngay thẳng, liêm khiết để trơ cái mặt già nua suy yếu”.


    Vua bèn cách chức, giao bộ Hình trị tội, nhưng chuẩn cho theo bộ ra sức làm việc để chuộc tội. Sau đó lại khai phục cho làm Hàn lâm viện Biên tu sung vào Quảng Phước đường, dạy học các hoàng tử còn nhỏ.


    Lãnh binh Lạng Sơn là Vũ Văn Hựu chết. Dùng Phó vệ uý vệ Tuyển phong Hậu dinh Thần sách là Phạm Văn Lưu làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung chức Lãnh binh Lạng Sơn.


    Đổi bổ Binh bộ Tả thị lang quản lý Vũ khố là Hoàng Quýnh làm Lễ bộ Hữu thị lang, sung làm công việc ở Nội các và thự Tả tham tri Hộ bộ Trương Đăng Quế quyền coi việc công ở Vũ khố.


    Cấm các thuyền buôn không được bắt chước kiểu thuyền nhà Thanh.


    Vua bảo bộ Hộ thuyền buôn ở các địa phương, nhiều cái giống thuyền của nhà Thanh, gọi là kiểu chiến thuyền, đã là không hợp, mà bọn con buôn giảo quyệt ẩn núp trong đó làm việc gian trá, lén chở gạo sang nhà Thanh buôn bán đổi chác, tệ ấy phải nên trừ bỏ. Vậy ra lệnh cho ty Tào chính, truyền chỉ cho trong Kinh và ở ngoài các tỉnh, phàm các thuyền buôn chỉ theo kiểu thuyền bằng đầu thông thường ở nước ta. Còn đầu thuyền và hai bên mạn thuyền không được bắt chước như kiểu thuyền của nhà Thanh. Nếu trái lệnh thì thuyền hộ sẽ bị khép vào tội trái phép mà thuyền và của cải đều bị sung công. Viên trấn thủ và các quan địa phương không chịu xem xét, cũng đều bị giao nghị tội.


    Định lại thuế lệ chín châu ở Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị.


    Các thổ Tri châu ở chín châu tình nguyện xin mỗi năm đóng ngạch thuế như các phủ các phủ mới mở ở Thanh Nghệ nhưng xin tha cho việc tiến cống. Tỉnh thần tâu lên. Vua ưng thuận.


    (Châu Mường Vanh 2.084 người, châu Na Bôn 2.000 người, châu Thượng Kế 1.500 người, châu Tầm Bồn 1.100 người, châu Ba Lan 980 người, châu Mường Bổng 740 người, châu Tá Bang 300 người, châu Xương Thịnh 227 người, châu Làng Thìn 203 người, mỗi năm nộp thuế bằng bạc mỗi người 2 đồng cân, duy có 3 châu Tầm Bồn, Ba Lan và Mường Bổng đều cho nộp thay bằng tiền mỗi người 7 quan).


    Lại chuẩn y lời bàn định của bộ Lễ, cho các thổ Tri châu, cứ nhằm những năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu, 3 năm một lần vào chầu.
  • Chia sẻ trang này