0060.0028

25/12/15
0060.0028
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Đóng thuyền Thanh tước, làm xưởng bằng ngói đặng để thuyền. Lại làm cầu gỗ ở Doanh Châu luôn với 2 cửa phường môn.


    Đào đường sông ở ba xã Thần Phù, Lê Xá và Văn Giang (đều thuộc huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên).


    (Cửa sông ở bờ bên tả sông Lợi Nông, chỗ mới đào gồm 18 đoạn, dài hơn 471 trượng, phía trên rộng 1 trượng 5 thước, phía dưới rộng 1 trượng 3 thước).


    Bộ Hộ tâu nói : “Từ trước đến giờ, các nha môn hễ có chi tiêu về việc công, bạc từ 10 lạng, tiền từ 30 quan, thóc gạo từ 30 hộc hay phương trở lên, thì phải làm sách tâu rõ về việc chi tiêu, nếu dưới số ấy, chỉ biên vào sổ hằng tháng rồi tư bộ lấy chữ phê làm bằng, để lưu chiểu. Vả lại, các việc chi tiêu một ly một tý, đều là của kho nhà nước, hằng tháng kê tiêu dẫu ít, nhưng chứa chất mãi thành nhiều, nếu cứ để bộ phê làm bằng rồi lặng yên không tâu lên, sợ không phải là có ý thận trọng về của công. Vậy xin từ nay, các nha hễ chi tiêu việc công, bạc không tới 10 lạng, tiền không tới 30 quan, thóc gạo không tới 30 hộc hay phương, thì theo lệ, mỗi tháng, báo lên bộ một lần ; rồi mỗi năm cứ cuối tháng 6 và cuối tháng 12, phải đem tất cả sổ chi trong 6 tháng một, hội lại thành sổ chi tiêu tâu lên, do bộ xét thực, đợi chỉ phê chuẩn về việc tiêu dùng”.


    Vua phê bảo rằng : “Lời tâu phải rồi, nếu trong 3 tháng dồn lại dần dần, thấy đã tiêu nhiều, cũng nên tâu lên, nếu tiêu ít thì một năm một lần tâu cũng được. Còn tiêu tầm thường thì theo lời bàn này mà làm”.


    Quan tỉnh Quảng Trị tâu xin trừ miễn thuế lệ cho những viên chức ở chín châu thuộc Cam Lộ. Vua chuẩn miễn cho những người đang tại chức còn thì cứ chiếu số người trong sổ đinh mà đánh thuế.


    Vua nhân đó nghĩ đến những phủ mới mở thuộc Thanh Nghệ, cũng có người đã liệt vào hàng quan chức, mà còn phải cùng nhân đinh cùng chịu thuế bạc, bèn ra lệnh cho bộ Hộ truyền chỉ miễn cho cả loạt.


    Chuẩn định từ nay phàm sứ bộ sang nhà Thanh, đường đi từ cửa ải đến tỉnh lỵ Hà Nội, thì đồ hành lý riêng cho phép vát dân Lạng Sơn và Bắc Ninh đài đệ, rồi đem số hòm rương ấy tâu lên ; còn tự Hà Nội về Kinh thì do sứ bộ tuỳ tiện đi đường thuỷ hoặc đường bộ, tự chuyển vận lấy, không được do trạm chuyển đệ. Việc này ghi để làm lệnh.


    Dùng Tả thị lang Công bộ Nguyễn Trung Mậu làm thự Hữu tham tri Công bộ, Lang trung Công bộ Trần Văn Trung làm thự Tả thị lang Công bộ. Cho Vũ Tuấn làm Lang trung Lại bộ, Đỗ Huy Cảnh, Nguyễn Bá Thân và Lê Trường Danh đều làm Lang trung Hộ bộ, Nguyễn Trương Đạt và Trịnh Văn Nho, đều làm Lang trung Lễ bộ, Nguyễn Công Hoán làm Đại lý tự Thiếu khanh.


    Dùng Nguyễn Công Trứ người đã có chỉ giánh bổ kinh huyện, làm Viên ngoại lang ở Nội vụ phủ.


    Đổi bổ : Vệ uý vệ Hậu nhất dinh Vũ lâm là Tôn Thất Bằng làm Chưởng cơ thự Thống chế Thần sách Hữu dinh, Trấn thủ tỉnh Quảng Ngãi là Nguyễn Khả Bằng làm Chưởng cơ thự Thống chế Thần sách Hậu dinh. Dùng : Chưởng cơ lĩnh Phó thống quản 10 cơ Chấn định thuộc Trung quân là Hoàng Văn ẩn làm Vệ uý vệ Hậu nhất dinh Vũ lâm, nguyên Trấn thủ Bắc Ninh là Lê Văn Thường làm Trấn thủ Quảng Ngãi. Cho nguyên Trấn thủ Tuyên Quang là Phan Bá Phụng tuổi đã già ở lại Kinh đô, xuân thu vào chầu, rồi đó cho được nguyên hàm về hưu trí.


    Đổi cấp con dấu bằng gỗ cho các kho ở tỉnh, từ Quảng Trị trở ra Bắc (y theo mẫu triện cấp cho kho ở các trấn trước : tỉnh nào thì khắc thương ký tỉnh ấy, như Quảng Trị thì khắc là “Quảng Trị tỉnh thương ký” v.v…).


    Khai đường sông ở tỉnh Nam Định.


    Trước đây quan tỉnh tâu nói : “Về bên tả ngoại thành có sông Vị Hoàng, một dải quanh co, thế nước chảy xói vào làm cho bờ sông ngày một lở dần. Vậy xin đào một đoạn sông mới, để chia xẻ dòng nước khiến dòng nước chảy thẳng, thì tỉnh thành mới đỡ lo ngại”.



    Vua sai giám thành đi xem xét địa hình và vẽ địa đồ dâng lên, bèn chuẩn cho đào một con sông mới, từ sông Phụ Long đến bến đò Lương Xá, rồi cùng hợp vào sông cũ (dài hơn 528 trượng, trên rộng 5 trượng, dưới rộng 3 trượng 8 thước, hai bên đất đắp đều 3 trượng. Phụ Long và Lương Xá đều là tên xã). Đến đây, sai quan tỉnh thuê dân làm.


    Vua cho rằng từ Quảng Trị trở ra Bắc, mới chia đất đặt quan, chính thể đổi mới. Vậy chuẩn định từ nay hễ Tổng đốc các hạt có thân hành đi tuần các địa phương thuộc hạt kiêm lý thì giao cho Bố chính, án sát và Lãnh binh coi giữ chỗ tỉnh thành mình thống trị và giao cho Bố chính, án sát tạm giữ ấn quan phòng Tổng đốc. Nếu gặp việc quân cơ quan trọng thì chuẩn cho Bố, án, cùng Lãnh binh bàn bạc cùng làm : một mặt làm tập thể đề tâu cùng ký tên và đóng ấn quan phòng Tổng đốc rồi tâu lên, một mặt báo cho Tổng đốc biết rõ. Đến như các việc về tài chính, thuế khoá, hình luật thì Bố chính, án sát cứ chiếu theo chức vụ mà làm. Nếu có việc nên tâu thì dùng riêng ấn triện của nhà nước cấp, không cần phải hội nhau đứng chung một bản tâu nữa. Vả, Tổng đốc đã đến các hạt kiêm lý, nếu có việc gì nên làm thì hội đồng ngay với Tuần phủ mà làm cho được ổn thoả, rồi tạm dùng dấu quan phòng Tuần phủ. Khi việc công xong, trở về, ai nấy lại đều làm việc như cũ. Việc chuẩn định này ghi để làm lệ mãi.


    Bổ Lang trung Công bộ Phan Đình Sỹ làm Lang trung Binh bộ, tham dự cùng coi công việc ở hai kho súng ống và thuốc đạn. Từ trước đến nay hai kho ấy, riêng sai võ quan kiêm quản đến đây mới đặt quan văn tham dự trông coi.


    Tuần phủ Lạng Bằng là Hoàng Văn Quyền tâu nói : “Kho tỉnh chưa chứa được đầy đủ, thường phải đặt mua thêm thóc gạo để chi dùng. Vậy xin trích lấy thóc thuế ở 2 huyện Lục Ngạn và Bảo Lộc thuộc tỉnh Bắc Ninh là nơi tiếp giáp sung vào và lấy đồn Quang Lang ở Ô Châu làm chỗ thu chứa”. Vua ưng cho, sau vì đường đất xa xôi chuyển vận khó khăn, lại chuẩn cho Tổng đốc Ninh Thái là Nguyễn Đình Phổ dựng kho tạm chứa ở phủ thành Lạng Giang, để trưng thu tiền và thóc thuế ở ba huyện Lục Ngạn, Bảo Lộc và Phượng Nhãn. Phàm các biền binh ở Lạng Sơn đều đến đấy mà lĩnh lương thưởng.


    Định rõ lại lệ duyệt binh về đầu năm.


    (Năm trước có bàn định ngày duyệt binh các hạng Kinh binh theo ban thứ xếp hàng ở trước Nam đài, tư viên ở bộ Binh cùng thuộc viên ở Nội các 5 người, Thị vệ 20 người trước hết gọi tên xét điểm xong rồi sau tâu lên, để rước vua ra điểm duyệt. Đến đây đổi định lại, tra điểm vào ngày hôm trước, thuộc viên Nội các tăng thêm 5 người, Thị vệ tăng thêm 10 người, các biền binh chỉ mặc áo thường, đến ngày duyệt mới mặc quân phục, từ quân dụng đến khí giới đều nghiêm chỉnh để đợi vua ra điểm duyệt, ngoài ra đều y như lệ trước).


    Ngày Canh ngọ, duyệt binh.


    Vua thân đến Nam đài coi duyệt binh. Có đội binh Dực tín thiếu mặt, rồi lại ra thú. Vua chuẩn cho bộ Binh nghĩ xử tâu lên, phạt ngay 100 trượng, rồi cho sung vào hàng ngũ. Từ đó về sau, cứ chiếu lệ ấy thi hành.


    Sai Lê Thuận Tĩnh, Nguyễn Trọng Tính và Vũ Văn Giải hội đồng kiêm quản các Ngân bài và Nha bài thị vệ. Lại cho rằng bọn thị vệ, ngày thường hầu hạ nên thiếu người sai khiến, vậy chuẩn cho ai nấy đều được mộ một người dân ngoài sổ đinh làm thuộc binh, mỗi tháng cấp tiền 1 quan, gạo 1 phương.


    Sai Nội vụ phủ Viên ngoại lang Nguyễn Công Trứ và Bạch Xuân Nguyên hiệp cùng Thị lang Trần Chấn làm hộ lý ấn quan phòng của Nội vụ phủ, hễ có tấu sớ chuẩn cho cùng ký tên tâu lên.


    Dùng Phòng ngự đồng tri ở phủ Trấn Ninh là Thiều Huống làm Phòng ngự sứ, cho họ là Kiệu, tên là Huống ; thổ Tri huyện Khâm Quyết làm Phòng ngự đồng tri, cho họ là Khâm, tên là Quyết vẫn hiệp đồng trông coi việc phủ. Những chỗ mới mở thuộc phủ Trấn Ninh, vài năm nay, địa phương yên ổn. Vua cho là lũ Huống đều làm chức vụ, hoà yên được dân, rất khen ngợi, nên có mệnh lệnh ấy.


    Lại cho rằng các viên phủ huyện ở những nơi mới mở thuộc Thanh Nghệ đã bổ quan chức mà tên gọi còn theo thổ tục, nên nay cũng đều ban cho họ tên.


    (ở Nghệ An : thổ Tri huyện ở Liêm huyện phủ Trấn Ninh tên là Uẩn, nay cho họ là Triển, tên là Uẩn ; thổ Huyện thừa là Đông Xỉ nay cho họ là Đông, tên là Hỉ ; thổ Tri huyện Khâm huyện tên là Xá nay cho họ là Định, tên là Xá ; thổ Huyện thừa là Xỉ La Điếm, nay cho họ là Đa, tên là Điếm ; thổ Tri huyện ở Khang huyện là Trình Tuận nay cho họ là Trình, tên là Tuấn ; thổ Huyện thừa là Kiển Khâm Ma, nay cho họ là Kiện, tên là Hoà ; thổ Tri huyện ở Cát huyện tên là Khâm Phanh nay cho họ là Sầm, tên là Hanh ; thổ Huyện thừa là Uất Ta Mã La Huân nay cho họ là Uất, tên là Huân ; thổ Tri huyện ở Quang huyện là Tạo Thiệt, nay cho họ là Tạo, tên là Cát ; thổ Huyện thừa là Khâm Tự nay cho họ là Thành, tên là Tự ; thổ Tri huyện ở Xôi huyện tên là Điếm, nay cho họ là Cát, tên là Chiêm ; thổ Huyện thừa tên là Phả nay cho họ là Nham, tên là Phả ; thổ Tri huyện ở Mộc huyện là Tạo Tha nay cho họ là Trác, tên là Tha ; thổ Huyện thừa tên là Bòng, nay cho họ là Sơn, tên là Phong ; thổ Tri huyện ở huyện Xa Hổ, phủ Trấn Biên tên là Tạo La nay cho họ là Hào, tên là La ; thổ Huyện thừa là Phìa Than Thả Xiển, nay cho họ là Khả, tên là Thiện ; Thổ Tri huyện ở huyện Sầm Tộ, là Tạo Phanh, nay cho họ là Hảo tên là Hanh ; Thổ Huyện thừa là Phìa ấn, nay cho họ là Tri, tên là ấn ; thổ Tri huyện ở huyện Man Soạn, là Tạo Công Nho Tha, nay cho họ là Mỹ, tên là Tha ; thổ Tri huyện là Phìa Hướng nay cho họ là Mộ, tên là Hướng ; thổ Tri huyện Mường Lan là Tạo Sâm nay cho họ là Thanh, tên là Sâm ; thổ Huyện thừa là Tạo Bông nay cho họ là Dụ, tên là Phong ; thổ Tri huyện ở huyện Cam Cát, phủ Trấn Định là Lang Khâm Đinh nay cho họ là Lang, tên là Đinh ; thổ Huyện thừa là Lang Khâm Vu, nay cho họ là Khâm, tên là Vu ; thổ Tri huyện ở huyện Cam Môn là Lang Khâm Đinh nay cho họ là Cầm, tên là Thanh ; thổ Huyện thừa là Lang Khâm Phả, nay cho họ là Lương, tên là Khả ; thổ Tri huyện ở huyện Cam Lộ là Lang Khâm Ly, nay cho họ là Lang, tên là Vi ; thổ Huyện thừa là Lang Khâm Thả, nay cho họ là Hâm, tên là Thả; Tuyên uý Đồng tri phủ Trấn Tĩnh là Phọc Khâm Thuần La Ni nay cho họ là Tuân, tên là Kỳ ; thổ Tri châu là Khâm Xỉ, nay cho họ là Sâm, tên là Thuý ; thổ Tri huyện ở huyện Thâm Nguyên là Tạo Phiến nay cho họ là Tư, tên là Phấn ; thổ Huyện thừa là Thiệt Tây, nay cho họ là Cổ, tên là tây ; thổ Tri huyện ở huyện Yên Sơn là Sân Noa Chức nay cho họ là Cần, tên là Chân ; thổ Huyện thừa là Tạo Hinh, nay cho họ là Cáo tên là Hinh ; thổ Tri huyện, huyện Mộng Sơn là Tạo Hề nay cho họ là Cáo, tên là Hề ; thổ Huyện thừa là Thiệt Bút, nay cho họ là Thiệt tên là Khả ; Tuyên uý Đồng tri phủ Lạc Biên là Phọc Bô Lâm Thiều Mang, nay cho họ là Chuyên, tên là Cương.


    ở Thanh Hoa : thổ Tri huyện, huyện Trình Cố, phủ Trấn Man tên là La, nay cho họ là Cảm, tên là Hoá ; thổ Huyện thừa là Phìa Cam Bôn, nay cho họ là Cam, tên là Côn ; thổ Tri huyện, huyện Sầm Nưa là Tạo Mường, nay cho họ là Bảo, tên là Cương ; thổ Huyện thừa là Tạo Nam nay cho họ là Đạo, tên là Nam ; thổ Tri huyện, huyện Man Xôi là Tạo Y Xán, nay cho họ là Huy, tên là Xán ; thổ Huyện thừa là Tạo ấn, nay cho họ là Cát, tên là ấn).


    Ruộng Phú Vinh thuộc phủ Thừa Thiên có sâu nước cuốn chặt lá lúa, lá dần úa vàng. Vua sai Kinh doãn, bày cách để bắt sâu. Phủ thừa Trương Phước Đĩnh, đến tận nơi, thăm dò những nhà làm ruộng, họ đều nói : “Sâu ấy chưa từng hại lúa, không như các loài sâu lúa khác ; năm nào mùa xuân mà rét, thì sâu ấy sinh ra nếu gặp tạnh nắng, rồi có trận mưa, thì sâu hết sạch ngay, lúa lại tươi tốt như thường, không những không hại lúa, lại là điềm triệu được mùa nữa. Cho nên ngạn ngôn có câu : “Sâu lúa thì mới cắn hại, sâu nước thì thóc lại đầy bồ !”. Có khi dân gian lại lấy làm mừng, không nỡ bắt”.


    Phước Đĩnh trở về, đem việc ấy tâu lên, vua bảo : “Cho rằng sâu ấy là điềm được mùa, ta chưa tin, duy bảo hễ gặp mưa, thì sâu hết, lúa tốt, còn có lẽ. Các ngươi nên gắng sức là hơn, không những sâu không làm hại mà sẽ lại có cảnh tượng được mùa nữa. Nếu đến cuối tháng còn chưa mưa thì nên hết lòng thành cầu đảo, khiến sớm được mưa để đi đến chỗ được mùa mới được”. Sau đó nắng rồi được trận mưa xuống, quả nhiên hết sâu.


    Vua bảo bộ Binh : “Đô thống chế, tặng Thiếu bảo Tống Viết Phước, đầu đời trung hưng có công đi trận đánh giặc, bỏ mình, lòng trung nghĩa ấy thật rất đáng thương. Con lớn là Tống Viết Trì đã được vượt bậc cất bổ Vệ uý, ơn nước báo đền, tưởng đã ưu hậu, nay hỏi ra biết rằng Phước còn có người con thứ là Tống Viết Thư, hiện ở Gia Định, tuổi đã trưởng thành. Vậy truyền chỉ cho Tống Viết Trì báo cho hắn biết để tự liệu : nếu tài lực khó làm nổi việc quan mà cứ cam chịu làm ruộng thì cho tuỳ theo ý muốn, còn nếu muốn trổ sức giúp nước, mong nối nghiệp nhà, thì lập tức cho về Kinh, đợi chỉ, lựa tài bổ dụng”.


    Tổng đốc Định Yên là Hoàng Kim Xán chết.


    Vau bảo bộ Lại : “Hoàng Kim Xán từng trải làm việc ở trong Kinh và ngoài trấn, khó nhọc đã lâu. Nay được tin Xán mất, lòng ta cảm động rớt nước mắt, rất thương tiếc. Vậy gia tặng cho Xán làm Hiệp biện đại học sĩ, thưởng cho bạc 100 lạng, gấm Tống 3 cây, vải và lụa 10 tấm, tế 1 tuần. Con là Tư vụ Hoàng Kim Thảng được gia ơn tập ấm cho làm Viên ngoại lang”.


    Đổi bổ Hộ bộ Hữu tham tri, quyền biện Tuần phủ Hà Nội Đặng Văn Thiêm, làm Binh bộ Tham tri, lĩnh Tuần phủ Nam Định thự lý Tổng đốc Định Yên quan phòng. Còn chức Tuần phủ Hà Nội thì chuẩn cho Nguyễn Văn Hiếu, Tổng đốc Hà Ninh, kiêm lĩnh.


    Diên Khánh công tên là Tấn, lầm nghe lời cầu xin của tên con buôn giảo quyệt là Diệp Liên Phong, giả làm thuyền của nhà Thanh, mạo nhận là thuyền miễn thuế, để mong được khoan miễn. Việc ấy đến tai vua, có chỉ gọi về để tâu bày. Diên Khánh công sợ hãi dâng sớ xin nhận tội.


    Vua cho rằng Tấn rất biết hối hận, không giấu giếm chút nào, nên đặc biệt miễn tội cho. Nhân đó dụ các hoàng tử và các thân công rằng : “Diên Khánh Công Tấn sở dĩ được miễn tội là vì đã biết sợ lỗi hối lỗi, thẳng thắn tâu bày, cũng được kể như điều luật đối xử với người đã biết tự thú không phải là vì cớ các ngươi là con em mà ta uốn cong phép nước ! Này, ta là chủ trong thiên hạ nếu vì con em không tốt mà bỏ phép nước, thì lấy gì làm nêu ngay thẳng cho muôn phương, ta nay thiết tha bảo rõ, không những lũ ngươi đều có lương tâm mà các thần dân cũng có thể tin được lòng Trẫm. Vậy từ nay, ai nấy ai nên yên phận giữ phép, chớ lầm nghe kẻ gian, cũng không được rông rỡ làm càn. Nếu mắc tội lỗi thì phép nước rất nghiêm, ta quyết không thể vì lũ ngươi mà làm trái pháp luật được. “Làm lành thì được rất vui, làm ác thì chuốc lấy tai hại vào mình”, câu ấy, lũ ngươi nên suốt đời nhớ lấy. Cố gắng làm người hoàn toàn mới không phụ lòng ta nhiều lần dạy bảo cặn kẽ”.


    Điều Hộ bộ thự Hữu tham tri lĩnh Gia Định thành Hộ tào Ngô Bá Nhân làm thự Binh bộ Hữu tham tri, bảo hộ Chân Lạp quốc ấn, đóng giữ đồn Châu Đốc, kiêm lĩnh việc biên giới trấn Hà Tiên. Lại điều Lễ bộ thự Hữu tham tri Đặng Chương làm thự Hộ bộ Hữu tham tri, lĩnh Gia Định thành Hộ tào kiêm coi công việc phòng Công và Tạo tác cục. Triệu nguyên bảo hộ Bùi Đức Minh về Kinh để lựa dùng. Đức Minh liền bị các quan làm việc ở Chân Lạp kiện vì đã làm nhiều việc tệ hại, nhũng nhiễu. Vua hạ lệnh lập tức cách chức, giao cho thành tào tra rõ nghiêm nghị tâu lên. Vua nhân đó bảo quan hầu rằng : “Từ trước đến nay quan ở Gia Định, thường hay mắc tội, là tại sao ? Hoặc giả công việc bận rộn, nhân dân ngoan ngạnh, cũng là do phong thổ xui nên thế chăng ?”. Bùi Phổ thưa rằng : “Thần trước có ở Gia Định, thấy công việc đơn giản, dân tục thuần hậu. Dần dần về sau bọn Vũ Huy Đạt, Nguyễn Duy Cần và Phạm Vũ Phác, đều bị tội vì tham tang, thực là do họ tự gây nên tội cả”.


    Vua nói : “Gia Định ở khơi, lũ ấy cho rằng cửa vua cách xa muôn dặm, không còn sợ hãi gì, nên mới tha hồ làm càn, phạm vào phép nước đó thôi”


    Sai bọn thành thủ uý là Nguyễn Đăng Huyên và Lê Văn Khánh, đi chiếc thuyền chữ Bình, hiệu 8, sang Hạ Châu ((1) Hạ Châu : Xinhgapo.1) làm việc công.


    Định lệ cày ruộng tịch điền và chăn tằm ở các địa phương. Vua dụ bộ Lễ : “Ta nghe nói các vua và hoàng hậu đời xưa đều trọng nghề làm ruộng và trồng dâu, để phụng thờ Giao miếu, làm gương mẫu cho muôn dân. Năm Minh Mệnh thứ 9 [1828] đã cử hành lễ cày ruộng tịch điền, hằng năm đặt làm thường lệ. Đồng ruộng đầy của ngọc thực, kính dùng để cung vào việc tế tự. Hiện nay Trung cung tuy chưa kiến lập, nhưng cũng có thể phỏng theo lối cổ, tự mình chăn tằm. Năm nay, bèn sai các phi tần đốc suất các cung nhân, lựa đất chăn tằm, quả thấy được tốt : tơ kén đầy nong, định dệt thành lụa, từ lễ Thu hưởng năm nay trở về sau có thể kính dâng ngay được đồ tơ lụa ; nay ta muốn mở rộng công việc ấy để khuyến khích nghề làm ruộng và tằm tang. Vậy việc cày tịch điền và nuôi tằm ở các địa phương nên làm thế nào, bộ Lễ các ngươi nên bàn kỹ tâu lên”.


    Quan bộ Lễ đều hết lòng tham khảo lựa nghị. Sau khi được chỉ, sao chép ra đưa các địa phương bắt đầu cử hành từ năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], ghi thành điển lệ. Vua chuẩn y.


    1. Việc cày ruộng tịch điền. - Các địa phương nên chọn đất ở phía ngoài thành của tỉnh hay trấn, đặt làm 3 mẫu tịch điền, chung quanh đắp tường đất, phía trước và hai bên tả hữu đều mở 1 cửa. Chính giữa chỗ đầu ruộng, đặt một chỗ vọng khuyết ((1) Vọng khuyết : nơi để bái vọng về cung vua.1) hướng về phía nam. Phía tây ruộng, chọn 3 sào đất, chung quanh trồng tre, đằng trước và hai bên tả hữu cũng đều mở một cửa. Chính giữa xây đàn Tiên Nông, hướng về phía nam, về phía đông bắc đàn, đặt kho Thần thương, trước kho xây đình thu thóc, lấy dân sở tại 15 người, sung làm nông phu tịch điền và giữ đàn sở, trừ miễn dao dịch cho. Lại dự bị một con trâu đen để cày ruộng tịch điền và 2 con trâu đen để làm trọn khu ruộng ấy. Đồ cày ruộng và thóc nếp đều có đủ. Mỗi năm trên bộ báo cho biết ngày cày tịch điền thì các viên Tổng đốc, Tuần phủ hay trấn quan đem các văn võ thuộc hạt, mặc triều phục, tới đàn Tiên nông làm lễ. Khi lễ xong thì thay triều phục, đội mũ văn công, mặc áo bào hàng màu, hẹp tay, thắt dây lưng, vận quần ngắn đi giày và bí tất, tới chỗ tịch điền thân hành cầm cày, 2 người kỳ lão dắt trâu, 2 người nông phu đỡ cày ; thông phán, kinh lịch bưng hòm, một người gieo thóc. Cày 9 luống lại ; khi xong, lại đổi mặc triều phục làm lễ ở vọng khuyết 5 lạy. Lễ xong, thì nông phu cày trọn khu ruộng ấy. Đến khi gặt xong thì lựa thóc giống cất riêng, còn thì chứa vào kho Thần thương, phái lính coi kho trông giữ, để làm xôi cúng tế.


    2. Việc chăn tằm. - Các viên Tổng đốc, Tuần phủ hay trấn quan đều dựng 1 nhà chăn tằm ở trong dinh mình, chọn đất trồng dâu, mượn người sung vào làm tàm mẫu và tàm phụ để giữ việc nuôi tằm. Mỗi năm đến tháng mạnh xuân ((1) Tháng giêng âm lịch.1) chọn ngày tốt, sai người làm lễ tế Tiên tàm ở chính giữa nhà tằm, người nuôi tằm thì đi hái dâu nuôi tằm, từ đó về sau tới kỳ lại tiếp tục theo làm như vậy. Cuối năm, việc tằm đã xong, ai nấy đều xem số tơ đã thu được, phái người đem lên nộp bộ. ở Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hưng Yên, Quảng Nam, Bình Định và Vĩnh Long 12 hạt lựa định mỗi năm đều nộp tơ trên dưới 100 cân. ở Phú Yên, Bình Hoà, Phiên An và Định Tường 4 hạt mỗi năm đều nộp trên dưới 70, 80 cân. ở Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Quảng Yên, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Biên Hoà và Hà Tiên 13 hạt mỗi năm đều nộp trên dưới 40, 50 cân.


    3. Về việc tế lễ. - Đàn thờ Tiên nông, lễ phẩm dùng trâu, lợn, xôi, rượu, quả, đàn thờ Tiên tàm, lễ phẩm dùng lợn, xôi, rượu, quả.


    Tháng 2, lính Ninh Thiện thuộc tỉnh Nghệ An làm phản. Bốn đội Ninh Thiện gồm hơn 200 lính đóng giữ ở phủ Trấn Ninh, có tên Trần Tứ và Đỗ Bảo nhận nguỵ thư của tên tướng giặc Lê Duy Lương (con nghịch phạm Lê Duy Hoán, trốn ở miền thượng giữa Sơn Tây, Ninh Bình) và Quách Tất Tế người xã Sơn Âm, huyện Lạc Thổ, tỉnh Ninh Bình thuộc đảng Duy Lương cùng nhau ngấm ngầm mưu phản, đứng đầu xướng suất lính các đội cùng giết cai đội Đỗ Trọng Thai và 8 người biền binh, đốt đồn trại, cướp khí giới, rồi do đường núi Kỳ Sơn và Hội Nguyên, chia nhau lẩn ra Bắc.


    Tổng đốc Tạ Quang Cự được tin báo, tức thì phái quản vệ dinh Thần sách là bọn Trần Đức Lộc và Lê Văn Tề đem binh chia đường chặn bắt.


    Việc đến tai vua. Vua bảo bộ Binh rằng : “Lũ ấy nguyên là bọn tử tù đã nhiều lần được gia ơn tha bỏ xiềng xích, dồn sung làm lính, cấp cho tiền, lương, quần áo và binh khí, cho đi đóng giữ, tưởng thế nào cũng biết cảm khích hối lỗi yên phận ở chốn hàng ngũ, để phòng dùng khi có việc, không ngờ chúng mất hết lương tâm, không bằng chim muông, càn rỡ ngông cuồng, dám toan cắn trả. Tội ác của chúng không thể dung thứ ở trong vòng trời đất được. Phải kíp nên đánh giết, không để sống sót mống nào, cho rõ phép nước”. Vậy dụ sai Tạ Quang Cự kíp đem đại đội binh và voi phân phái đi đuổi bắt. Và truyền chỉ cho các địa phương Thanh Hoa, Ninh Bình, Hà Nội, Sơn Tây, nghiêm sức cho quân và dân trong hạt đón chặn cả đường thuỷ lẫn đường bộ, không cho sống sót một tên phạm nào. Rồi treo trọng thưởng : hễ ai bắt sống được một tên chính yếu phạm, thưởng 50 lạng bạc, chém được thưởng 40 lạng ; bắt sống được tên thứ yếu phạm thưởng 30 lạng ; chém được thưởng 20 lạng ; bắt sống được tên yếu phạm thưởng 15 lạng, chém được thưởng 10 lạng ; bắt sống được đồ đảng của chúng thưởng 5 lạng, chém được thưởng 2 lạng. Nếu ai chứa chấp giấu giếm thì khép vào cùng tội với giặc.


    Vua lại nghĩ đến Đỗ Trọng Thai và 8 người biền binh không may bị giết thê thảm, tình cũng nên thương, vậy sắc cho quan tỉnh, phái người thu nhặt hài cốt, đem vải lụa khâm liệm và lấy quan ván chôn cất.


    Tỉnh Thanh Hoa mới nghe tin báo, Tổng đốc Lê Văn Quý phái Phó vệ uý vệ Nghĩa võ là Tống Phước Minh đem quân đi ngăn chặn. Vua cho rằng Phước Minh là hạng thiếu niên tân tiến, sợ làm lỡ việc, bèn giục Văn Quý phải thân chinh đi. Lại dụ cho Bố chính Nghệ An Hà Thúc Lương và Bố chính Thanh Hoa Nguyễn Đăng Giai đều phải tra xét minh bạch và bí mật dò la : phàm những đường lối giặc đi, làm những việc gì, đêm ngày trú ngụ nương náu nơi nào, được ai cung cấp lương ăn dọc đường, nhờ ai hướng dẫn đường sá… Và các thổ ty ở châu huyện, kẻ nào nhút nhát không chịu chặn bắt đều phải nghiêm ngặt tham hặc để trừng trị.


    Rồi đó giặc sổng đến Ninh Bình. Có bọn đào phạm ((1) Đào phạm : kẻ phạm tội mà trốn tránh.1) ở xã An Chí (thuộc huyện Lạc Thổ) là Quách Công Chinh và Quách Công Thự chứa chấp giặc. Tuần phủ Hồ Hựu cùng với quan binh 2 đạo Thanh Nghệ hội lại nã bắt. Các thổ ty sở tại cũng đều đi tòng quân, truy nã bắt được hết bọn giặc. Còn 1, 2 tên sót lại trốn về Sơn Tây và Hà Nội, cũng lần lượt bị bắt, không lọt lưới một tên nào.


    Vua được tin cả mừng, xuống dụ khen ngợi, sai đem chính yếu phạm là Trần Tứ, Đỗ Bảo và oa phạm ((2) Oa phạm : kẻ phạm tội chứa chấp giặc.2) là Quách Công Chinh, Quách Công Thự, giam vào cũi sắt và trích lấy 15 tên thứ yếu phạm. gông xiềng đưa về Kinh, giao cho đình thần xét lại để định tội. Khi bản án dâng lên thì Trần Tứ và Đỗ Bảo bị tội lăng trì, trăm dao xẻo vụn từng miếng thịt ; Công Chinh, Công Thự cũng bị tội lăng trì rồi lấy đầu đem đến địa phương mà chúng đã làm việc phạm pháp để bêu cho mọi người biết. Còn bọn thứ yếu phạm và tòng phạm đều chém cả ; lại cho là tên giặc phạm tội là Lê Duy Lương và Quách Tất Tế, vẫn chưa bị án, vậy sắc cho các Tổng đốc, Tuần phủ ở Thanh Hoa, Ninh Bình, Sơn Tây và Hà Nội, hạn trong 3 tháng phải lập kế bắt cho bằng được.


    Bàn xét công và lỗi về việc bắt bọn tội phạm.


    Thưởng thụ Ninh Bình thổ ty Phòng ngự đồng tri Cao Viết Chế làm Phòng ngự sứ, vẫn sung Phó quản hiệu ở Ninh Hùng nhất hiệu và gia thưởng cho mũ áo thường triều hàng Ngũ phẩm ; Phòng ngự sứ Quách Công Chuyên, Quách Công Huynh, Phòng ngự đồng tri Quách Công Hạt đều chiếu theo phẩm hàm, thưởng cấp cho mũ áo thường triều. Về quan quân đi trận ấy giao cho hai bộ Binh, Hình chiếu sổ công trạng phân biệt bàn thưởng. Còn quân và dân bắt được kẻ phạm phản nghịch đều chiểu theo thể cách đã định, thưởng cấp cho bạc lạng. Hồ Hựu điều khiển được việc, trước kia dưới tên trong quan tịch có ghi bị giáng 4 cấp, nay cho khai phục lại cả. Tạ Quang Cự trước kia loanh quanh chậm trễ để giặc vượt địa giới, đáng bị tội nặng nhưng sau lại đi được mau chóng góp sức bắt giặc. Vậy gia ơn cho tội trước. Lê Văn Quý mới tới xã An Chí, đã vét lấy thóc gạo của dân làm lương quân, dỡ nhà cửa của dân làm trại sách, việc làm cũng như cướp bóc, vậy giao cho bộ Binh nghị xử. Trần Tư là Quản phủ phủ Tương Dương thuộc Nghệ An, gặp giặc đã vội rút lui phải khép vào tội trảm giam hậu. Đặng Lưu Thân là Quản phủ phủ Thiệu Hoá thuộc tỉnh Thanh Hoa và Vũ Đình Uyên là Tri phủ bất lực trong việc đuổi bắt giặc để giặc sổng qua địa giới đều bị cách chức, phát làm lính ở tỉnh.


    Vua lại dụ bộ Binh rằng dân xã An Chí tuy ở nơi biên giới hẻo lánh, nhưng cũng là con đỏ của triều đình. Khi chợt nghe đại binh thình lình kéo đến, họ vội vàng chạy trốn, bỏ cả gia sản, không đến ! Nghĩ tới tình hình bấy giờ, ta rất thương xót. Vậy ra lệnh cho Hồ Hựu trước hết chi ra 500 quan tiền kho, sai người vận chuyển tới, rồi gọi dân họp lại ngay trước mắt họ tuyên dương đức ý của triều đình, khiến ai nấy đều hiểu rõ cả. Đoạn giao cho bọn đầu mục, đem số tiền ấy chia cấp cho dân, lại gia tâm vỗ về yên ủi, để dân yên ổn tụ tập lại.


    Đổi lính ở các đội Phú, Thuận, cộng 76 người, (trước đây vì can án về kho tàng ở Kinh, bị khổ sai) làm hai đội nhất, nhị ở cơ Trấn an, cấp cho áo quần, lương ăn đường, đưa đến tỉnh Nghệ An, sai quan tỉnh lựa lấy những người am hiểu thông thuộc tình hình biên giới, mỗi đội đặt 1 suất đội, 2 Đội trưởng và 2 Ngoại uỷ đội trưởng đặt dưới quyền thống suất của Cai đội An Thuận là Hoàng Nghĩa Uyển được dùng làm quản cơ. Lại phái riêng hai Suất đội và 100 biền binh dinh Thần sách với khí giới đầy đủ, giao cả cho Nghĩa Uyển đem đi đóng giữ phủ Trấn Ninh : mỗi tháng thay phiên một lần. Còn biền binh tỉnh phái đi mỗi khi đến đóng giữ địa phương thì liền sung làm hai đội tam, tứ ở cơ Trấn an, đến khi mãn ban rút về, vẫn nhập vào hàng ngũ trước. Từ nay những ai nếu được đi làm lính ở Trấn Ninh đều chuẩn cho dồn vào các đội ở cơ Trấn An.


    Chuẩn định từ này, phàm lễ tế Giao và lễ Miếu hưởng, các thứ lụa chế để cúng đều chiếu theo số phân, lạng của tơ nặng là bao nhiêu ? Hạng nhất : lấy tơ do trong cung nuôi tằm, sai Thái thường tự đưa thợ dệt thành. Hạng 2 và hạng 3 lấy tơ do bộ Lễ tư cho các địa phương làm ra. Việc này chép để làm lệnh.


    (Mỗi năm dùng lụa cộng tất cả là 273 tấm, nay đổi định sổ nhận tơ. Đàn tròn Nam Giao : lụa hạng nhất 15 tấm, mỗi tấm tơ nặng 2 lạng, 3 đồng cân 4 phân ; ở
  • Chia sẻ trang này