0060.0029

25/12/15
0060.0029
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    các miếu : lụa hạng nhất 120 tấm, mỗi tấm nặng 2 lạng 6 đồng cân, 1 phân ; lụa hạng nhì 42 tấm, mỗi tấm nặng 1 lạng, 9 đồng cân, 6 phân ; lụa hạng ba 96 tấm, mỗi tấm nặng 1 lạng 3 đồng cân).


    Vua cho rằng thi Hội là điển lễ long trọng, trước đây các Giám sinh ở Quốc tử giám đều do quan ở nhà Giám sát hạch, rồi cho vào thi, như thế sợ chưa được kỹ. Vua bèn sai Thượng thư Lê Đăng Doanh và Phan Huy Thực, sung làm Chánh chủ khảo, Tham tri Bùi Phổ và Trương Đăng Quế sung làm Phó chủ khảo, Lang trung hoặc Viên ngoại lang trong Lục bộ mỗi bộ 1 người sung làm phân khảo, theo danh sách do quan nhà Giám dâng lên, gọi họ họp lại ở nhà tả triều đường, sát hạch lại cho kỹ, chia ra từng hạng, đóng thành bản danh sách dâng lên để đợi chỉ. Khi danh sách dâng lên rồi thì người nào dự vào hai hạng ưu bình, được chuẩn cho cùng với cử nhân vào thi ; hạng thứ nhì vẫn ở lại nhà Giám để học tập, còn hạng liệt thì bổ làm vị nhập lưu thư lại ở Lục bộ. Từ đó mỗi khi tới khoa thi Hội, lại sai quan mở kỳ khảo hạch. Việc này được đặt làm lệ thường.


    Tổng đốc Ninh Thái Nguyễn Đình Phổ tâu nói : “Các địa hạt thuộc tỉnh miền rừng núi đến một nửa, những bọn vô lại phần nhiều gọi nhau tụ họp ở đó, đặc biệt là những tên như Nguyễn Văn Nhị ở Yên Dũng, Trần Đình Thể ở Hiệp Hoà, đều là thổ phỉ trốn tránh đã lâu, chuyên ra oai bằng cách giết hại cướp bóc. Dân sợ như cọp, dẫu căm giận chúng mà không dám nói, sợ để mối lo về sau. Lại như Trần Hữu Thường ở Lương Tài, Nguyễn Văn Lả ở Đông Ngàn, thì bám rễ vào dân gian, cho người nghèo vay, giúp người trong lúc cấp bách ; nếu ai có chút ý khác, thì chúng doạ giết, đốt, cướp để cho sợ hãi, nên bọn tổng lý sở tại đều cam tâm cúi đầu, chịu để sai khiến và giúp cho binh lương. Hễ thấy biền binh đến bắt thì bọn tổng lý đã vội báo cho biết trước, để chúng cao chạy xa bay. Lũ giặc sở dĩ còn được tháng ngày sống sót, là vì ở dân. Muốn tra xét không có tang chứng ; muốn khép vào luật không thể ra tay làm được ! Vả lại những phạm nhân trốn ở địa phương, hoặc bị bắt hiếp phải theo, hoặc vì thù oán chiêu xưng, khi đã lỡ bước, buộc phải dựa vào bọn phỉ. Giặc cướp ngày càng lan tràn, là vì cớ ấy !


    Vậy xin từ nay hễ ai thông phỉ, nếu dò được đích thực, không kể có tang chứng rõ rệt hay không đều nã bắt để buộc vào pháp luật. Còn những phạm nhân đang trốn, trừ hạng chính thứ yếu phạm ra, đều chuẩn hạn trong một năm cho ra thú. Nếu ai dò xét bắt được kẻ phạm thì tâu xin nghị thưởng tuỳ theo phạm nhân ấy tội nặng hay nhẹ. Như thế có thể dẹp được giặc cướp mà yên dân”.


    Vua dụ Phổ rằng : “Ngươi mới tới lỵ sở đã dò xét ngay được tình hình gian phỉ, thực là đích xác. Duy việc xin bắt trị kẻ thông phỉ mà không kể có tang chứng rõ rệt hay không, so vào pháp luật, thật còn có điều chưa hợp. Nhưng nghĩ phát giác ra kẻ gian, vạch ra việc u ẩn, cũng có khi phải dùng quyền nghi, huống chi đã giao cho cai trị một phương mà động làm lại bị pháp luật thành văn gò bó thì còn thi thố gì được ? Vậy chuẩn cho từ nay hễ xét được kẻ nào thông đồng với giặc dẫu chưa có tang chứng, nhưng có hình tích có thể bằng cứ được thì cho bắt để tra xét, nghĩ xử, cốt cho lũ gian biết tội phải phục tình để làm sáng tỏ phép nước. Nhưng nếu lan tràn đến người vô tội thì phạm vào điều “nhập nhân tội” đấy ((1) Khép vào tội một cách oan uổng.1). Luật đã nói rõ, ngươi nên cẩn thận. Còn việc chuẩn cho các đào phạn ra thú, thì cho làm như lời đã tâu xin”.


    Xây bó phía mặt trong bên hữu Kinh thành.


    Sai thự Tiền quân Trần Văn Năng, thự Hậu quân Phan Văn Thuý, thự Trung quân Tống Phước Lương, và Phó tướng Nguyễn Văn Xuân chia ra trông nom công việc. (Xây bằng gạch đặt mức hạn là trên rộng 1 thước 8 tấc, dưới rộng 2 thước 8 tấc, chân thành rộng 2 thước 9 tấc 5 phân).


    Dùng Cai cơ Lê Hữu Lực làm Phó vệ uý ở vệ Tả bảo nhị thuộc Tả quân. Đó là theo lời xin của Lê Văn Duyệt Tổng trấn Gia Định.


    Tổng đốc Hà Ninh Nguyễn Văn Hiếu tâu nói : “Hai phố Hàng Buồm và Quảng Phước ở huyện Thọ Xương, tỉnh Hà Nội, phần nhiều là người Thanh, hiện đã gây thành cơ sở, nên các thương nhân nhà Thanh thường tới đấy buôn bán để sinh sống. Trước kia thuyền bè sang ta trước hết do đồn cửa Lác xét hỏi, rồi tường trình với Nam Định, cho hộ tống lên Bắc Thành để đánh thuế. Khi thuyền trở về, lại giao về Nam Định hộ tống ra hải cảng. Mọi việc đã thành lệ cả. Nay đã chia đặt tỉnh hạt, thì Hà Nội với Nam Định, sự thể ngang nhau, vậy phải nên châm chước quy định để tiện làm theo”. Việc ấy giao xuống đình thần bàn. Đình thần xin từ nay hễ thuyền người Thanh sang đến tấn sở cửa Lác thuộc Nam Định, thì viên tấn thủ ((2) Tấn thủ : Chức viên trấn giữ đồn trại ở ven sông hoặc ven biển.2) theo lệ xét hỏi kỹ càng, rồi báo lên tỉnh. Nếu thuyền buôn ấy muốn ở lại Nam Định dỡ hàng đem bán thì xem xét rõ ràng rồi đánh thuế, nếu họ muốn đi Hà Nội thì uỷ giao Hà Nội khám xét mà thu thuế. Tới khi họ trở về, lại do Nam Định hộ tống ra đến tấn sở cửa Lác. Vua chuẩn y lời bàn ấy.


    Dời kho gỗ làm ra chỗ khác


    (Nguyên trước kho gỗ ở ngoài quách, cửa đông nam Kinh thành, nay dời đến chỗ ngoài quách giữa hai cửa Quảng Đức và Chính Nam, dài 78 trượng, bên tả từ chỗ đầu nhọn ngoài quách, cách sông 16 trượng, 3 thước, bên hữu từ chỗ đầu nhọn ngoài quách, chỗ cách xa sông 13 trượng 3 thước. Rào gỗ nhà kho ngang đến bờ sông, chừa ra một chỗ đất rộng 5 trượng để làm đường đi. Phía trong rào gỗ tuỳ theo thế đất rộng hẹp, dựng nhà xưởng và sở thu, phát).


    Tuần phủ Hưng Yên Nguyễn Đức Nhuận tâu nói : “Các mộ binh thuộc tỉnh, cơ Hưng Yên chỉ có 3 đội, nay xin mộ thêm dân ngoại tịch từ Quảng Bình trở vào Nam, dồn lại thành đội ngũ, xếp thứ tự sung bổ cho đủ số 10 đội”. Vua chuẩn y.


    Cấp quân phục bằng đoạn lông các màu cho 4 dinh Cấm binh. (Năm vệ dinh Thần cơ, mỗi vệ 220 cái áo, quần áo của lính pháo thủ 220 bộ, 3 dinh Tiền phong, Long võ và Hổ oai, mỗi dinh 5 vệ, mỗi vệ đều 440 cái áo).


    Vua dụ rằng : “áo quân phục ấy sắm bằng tiền kho tốn kém rất nhiều. Đó là muốn cho áo mặc của quân ta được tươi đẹp, để phòng vệ cho nghiêm, nên không ngại tốn. Các ngươi là chưởng lĩnh đại thần và những người coi quản phải nên chắt chiu những của ấy, truyền bảo các biền binh ; khi theo hầu, mặc trong việc công đều nên để ý giữ gìn, phơi phóng cất giữ cho đúng cách. Nếu chưa đến hạn đỏi phát lượt khác mà đã rách nát thì tất phải phân biệt bắt đền và giao bộ nghị xử”.


    Hữu quân Phó tướng, Gia nô thống hàm Nguyễn Văn Xuân, tuổi đã 80. Nhân gặp sinh nhật của Xuân, vua thưởng cho sa đoạn các màu mỗi thứ 4 cuộn, lụa và sa ta mỗi thứ 4 tấm, đồ chơi bằng vàng ngọc 4 thứ, đồ bằng pha lê 4 thứ, đồ uống rượu và đồ uống trà mỗi thứ 1 bộ.


    Vua dụ rằng : “Nguyễn Văn Xuân năm nay đã 80 tuổi thọ, thế mà đi lại khoẻ mạnh, ngày thường tới hầu, vả lại năm trước có hai lần làm việc ngoài biên đều thành công cả. Nay gặp ngày sinh của ngươi, ta được biết thật đáng vì ngươi mà vui mừng, bèn sai Thị lang Nội các là Hoàng Quýnh và Lãnh thị vệ là Nguyễn Trọng Tinh tới ban các đồ thưởng để tỏ lòng ta đoái thương, ưu đãi người bề tôi kỳ cựu có công lao”.


    Phó lãnh binh Hà Nội Nguyễn Văn Phượng, săn bắt được tên giặc trốn là Nguyễn Văn Dậu ở hạt huyện Phú Xuyên, giết đi.


    Sửa lại thành tỉnh Lạng Sơn.


    Tuần phủ Hoàng Văn Quyền tâu nói : “Thành tỉnh Lạng Sơn không rõ bắt đầu xây đắp từ đời nào, tra theo sử sách thì đời Lê Thánh Tông, năm thứ 26 (1495) có sửa chữa lại ; năm Cảnh Hưng thứ 17 [1756] đắp thêm nữ tường ((1) Nữ tường : Tường xây trên mặt thành.1). Nay đã lâu đời đất gạch ở bốn chung quanh thành có nhiều chỗ đã long lở sứt mẻ. Vả lại quy cách kiến trúc thành này so với các hạt khác rất rộng lớn. (Thân thành chu vi 636 trượng, 7 thước, 2 tấc, cao 9 thước ; xây nữ tường trên thành cao 2 thước, 4 tấc ; mặt thành dầy 1 trượng, 8 thước, nữ tường dày 1 thước 2 tấc, chân thành dày 3 trượng 2 thước, trong đắp đất vàng, ngoài xây gạch). Nền móng hiện còn rất là chắc chắn. Nhân đó sửa lại, cũng đủ làm cho bức thành được coi như phên giậu che chắn nước nhà trở nên hùng tráng và phô trương được chỗ địa thế hiểm yếu thiên nhiên. Vậy xin theo nếp cũ sửa đắp lại.


    “Lại nữa, chỗ hành cung, gỗ ván lâu ngày đã mọt nát, xin cũng gọi thợ sửa chữa lại”.


    Vua đều ưng thuận.


    Cấm mua bán thóc gạo lương của quân lính.


    Trước đây Bắc Kỳ chia đặt hai kho ở Sơn Tây và Bắc Ninh chứa nhiều lương thực, chuẩn cho biền binh 2 tỉnh ấy tới lĩnh lương tháng. Lính Bắc Ninh mượn cớ là đường xa, phần nhiều đem bán đi, rồi đong gạo ở chợ nên giá gạo cao vọt lên, việc đến tai vua. Tổng đốc là Nguyễn Đình Phổ và bọn Lãnh binh quản suất đều bị phạt bổng 3 tháng.


    Vua nhân đó dụ bộ Hộ rằng lương tháng của binh lính là để chi dùng khi tại ngũ mà lại bán cái nọ, mua cái kia, lúc bán thì giá hạ, bán tống bán táng, lúc mua thì giá cao, cần mua lấy được, thành thử phải chịu cả hai đằng. Đó chẳng qua bọn đầu mục cai quản và thư lại xui khiến để đứng giữa mua thầu làm kế lợi riêng cho nhà mình ! Còn binh lính thì quen lười biếng, không chịu đài tải đó thôi. Vả lại đồng tiền đã vào tay binh lính rất dễ phung phí, sinh kế hằng tháng trông nhờ vào đâu ? Vậy muốn cho chúng không sách nhiễu hương thôn và nhân đó mà trốn tránh phỏng có được không ? Nay thông dụ cho binh lính ở Kinh và ngoại, các tỉnh : từ nay hễ đã lĩnh thóc gạo lương tháng, không được đem bán lại nếu trái lệnh thì không kể số tang vật nhiều hay ít, người mua và người bán đều bị phạt 100 trượng, còn binh lính phải đóng gông 1 tháng, người đầu mục cai quản và thư lại nếu là kẻ xui khiến thì trị tội thêm lên một bậc ; viên thống quản và quan địa phương vì sơ sót về việc xem xét, cũng giao cho bộ phân biệt nghị xử.


    Lê Văn Duyệt Tổng trấn Gia Định, vì tuổi già sức yếu dâng sớ xin cáo lão. Và nói : “Hiện nay từ phía bắc kinh kỳ trở ra đã chia hạt đặt quan, có các nha Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát cùng giữ gìn nhau ràng buộc nhau rất hợp với chức phương bá ((1) Phương bá : chức quan đứng đầu một địa phương.1) liên suất ((2) Liên suất : người đứng đầu chư hầu mười nước, tức như chức án sát sứ đời sau.2) đời xưa. Thần dân già yếu, trong lòng cũng biết mưu kế dài lâu không gì hay hơn thế, thực muốn chính mình được trông thấy. Vậy xin sắc sai các đình thần bàn xét về các trấn ở thành hạt Gia Định để kiến thiết một thể, tỏ ra một chính sách chung, đại đồng, khiến thần được nghỉ việc thành, điều dưỡng cho khỏi sẽ xin về Kinh chầu hầu”.


    Vua dụ rằng : “Khanh nên cố gắng làm việc, đợi sau sẽ xuống chỉ quyết định”.


    Trong kinh kỳ có mưa.


    Vua dụ bộ Lễ : “Từ khi sang xuân tới nay, mong mưa rất nhiều. Lần lượt thấy các hạt Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình Hoà tâu báo ít mưa, lòng ta rất áy náy. Nay ở Kinh, may được mưa nhuần thấm suốt ngày chắc lúa má trong đồng ruộng đều được tươi tốt. Vậy truyền chỉ sức hỏi từ Quảng Nam đến Bình Hoà hiện nay đã được mưa chưa, và việc làm ruộng có được thuận tiện hay không, cứ thực tâu lên cho lòng ta được yên ủi”.


    Lính ở Kinh có kẻ hai lần bỏ trốn và bị bắt lại. Bộ Binh đem việc ấy tâu lên, vua sai phát đi sung quân chỗ đất mới mở thuộc Trấn Ninh. Khi tới nơi, quyết đánh ngay 100 trượng. Từ đấy về sau cứ theo lệ này thi hành.


    Ngày Giáp ngọ, tế Trời Đất ở đàn Nam Giao. Những người dự vào việc tế đều đội mũ mặc áo làm lễ, khi diễu, khi quanh, khi tiến, khi dừng đều đúng nghi lễ.


    Vua khen và xuống dụ thưởng cho những người dự việc tế đó, từ hoàng tử đến quan nhị phẩm, mỗi người được 1 cuốn đoạn đậu 8 sợi tơ, quan tam phẩm mỗi người một cuốn đoạn đậu 5 sợi tơ.


    Tập thơ đầu của vua làm, khắc in đã xong (từ cuối năm Minh Mệnh thứ 11 [1830] trở về trước, 10 quyển vừa thơ cổ thể vừa thơ kim thể gồm 845 bài và hai quyển mục lục). Ban cho các hoàng tử, các tước công, các đình thần, nhà Quốc tử giám và các nha học chính ở các địa phương đều 1 bộ ; còn học trò và thứ dân muốn in bản riêng cũng cho. Thưởng chung 100 lạng bạc cho người coi làm, thợ khắc in và người giúp việc.


    Tuần phủ Quảng Trị Trần Danh Bưu tâu nói : “Viên bị cách chức là Vũ Huy Quýnh, do khoa mục xuất thân, trước đây có bị phát đi Cam Lộ để hết sức làm việc chuộc tội, nhưng ở đấy công việc hơi ít, không bởi đâu xét được thực trạng, vậy xin cho về tỉnh sai phái, tưởng không đến nỗi là người bỏ đi”.


    Vua bảo rằng : “Vũ Huy Quýnh, trước can án để tù phá ngục ở Sơn Nam, bị cách chức phát đi Cam Lộ để gắng sức chuộc tội, đã thấy là xử nhẹ rồi. Nay cứ lời tâu việc phủ hơi ít, không bởi đâu xét được thực trạng, thế thì đối với những người phát vãng từ trước đến nay sao không kêu xin cho, mà chỉ riêng xin cho một mình Quýnh. Lời xin ấy không hợp lý, không chuẩn cho được”.


    Vừa được 2 tháng, Bưu lại chứng minh thực trạng của Quýnh trong việc làm công văn viết tờ trát, rồi Bưu làm thành tập tấu tiếp tục dâng lên. Vua ghét Bưu có ý mua ơn, cầu xin gấp gáp, bèn phạt 6 tháng lương, không cho tra xét chống cãi. Quýnh thì bị đổi đi Quảng Yên để gắng sức làm việc chuộc tội.


    Xây lát sân gạch đường gạch ở ngoài cửa miếu Thái miếu và Thế miếu.


    Trước đây bộ Lễ tâu nói : “Từ trước tới nay các lễ tế hưởng ở miếu, rước vua thân đến Thái miếu làm lễ, ngự giá đi từ cửa Tả Túc rồi qua cửa Hưng Khánh, tới cửa Nội vụ phủ rồi do phố Đông Nhất, đến cửa Hiển Thừa xuống xe,thành ra quanh co. Vậy xin từ nay về sau, ngự giá đi qua cửa Tả Túc, đến đầu đông nam cung thành, chuyển về phía nam, do con đường dài ở ngoài tường phía tây Thái miếu đến ngoài tường phía nam, quay ra phía đông, đến ngoài cửa hữu cổng miếu, xuống xe, do cửa tả vào Tả Phương đường. Nếu rước tới Thế miếu thì ngự giá ra từ cửa Hữu Túc, đến đầu tây nam cung thành, chuyển về phía nam, cũng do con đường dài ở ngoài tường phía đông Thế miếu, tới ngoài tường phía nam, quay sang phía tây, đến ngoài cửa tả công miếu xuống xe, rồi do cửa tả vào Tả Phương đường. Phàm con đường xe vua đi qua từ phố dài ở ngoài tường phía tây Thái miếu, qua ngoài tường phía nam, đến trước cổng miếu. Phố và phố dài ở ngoài tường phía đông Thế miếu từ cửa Khái Địch, qua ngoài tường phía nam, đến trước cổng miếu, đều xin xây đường gạch và trước cổng miếu đều lát thêm sân gạch để quan chiêm được nghiêm túc”. Vua y theo lời bàn.


    Quan thành Gia Định tâu nói : “Đất Chân Lạp cấy được thóc, làm được muối, không đâu bằng Ba Thắc, sự ăn dùng trong nước ấy phần nhiều đều trông ở đó, mà đường chuyển vận ở biển phải do cửa trấn Định An đồn An Thái thuộc Vĩnh Thanh((1) Vĩnh Thanh : sau đổi làm Vĩnh Long.1). Vua Phiên sợ người coi đồn tấn ngăn trở nên đã khẩn khoản xin được thông hành. Vả, nước Chân Lạp là phiên thuộc của ta, cần gì phải câu nệ bờ cõi. Vậy xin nên chuẩn y lời thỉnh cầu. Nhưng tờ dẫn văn để thông hành có Binh bộ Lang trung, biện lý công việc ngoài biên ở thành Nam Vang là Trần Thái Tín xét thực ký nhận, để làm bằng chứng”. Vua ưng thuận.


    Lại dùng Nguyễn Công Tú làm Tuyên phủ sứ ở phủ Lạc Hoá (Tú có tang về nghỉ, hết hạn, lại về ra làm chức cũ).


    Dựng nhà vuông ở trên đài quan canh (xem cày), sở tịch điền, xây lại bậc bệ. Lại dựng một cửa phường môn ở mặt trước.


    Sai Thuỷ quân trích lấy hạng thuyền tiểu khoái ở trong số ngạch đã định, cấp phát cho vệ Cẩm y dinh Vũ lâm, 4 dinh Cẩm binh, ty Hộ vệ và đội nhất ở ty Hộ vệ cảnh tất, đều 1 chiếc thuyền, ty Trấn phủ 2 chiếc, giữ để đi theo hầu vua.


    Đổi trấn Vĩnh Thanh làm trấn Vĩnh Long, vì tránh tên lăng ((2) Vĩnh Thanh : lăng Hiếu Minh hoàng hậu.2).


    Sắc cho bộ Lễ, truyền chỉ cho các địa phương xét rõ xem phủ, huyện, tổng, xã, thôn, phường thuộc hạt mình có tiếng gì trùng với tên các sơn lăng, cung, điện, lâu, các (nhà vua) thì tâu xin đổi lại trừ ra có trùng danh hiệu với ly cung ((1) Ly cung cũng như hành cung. Biệt quán cũng như công quán, đều là chỗ để vua ở khi đi tuần du.1) về biệt quán như Trừng tâm, Lục ấm và tên các cửa miếu thì không phải đổi.


    Định lại nghi chương về triều hạ :


    (1. Về nhạc cụ. - Lễ đại triều đặt ở điện Thái Hoà : nhã nhạc 1 bộ, chuông to 1 chiếc, khánh lớn 1 cái, chuông nhỏ 1 bộ 12 cái, khánh nhỏ 1 bộ 12 chiếc, trống có trụ 2 cái, chúc ((2) Chúc : hình giống thùng sơn, vuông 2 thước 4 tấc, sâu 1 thước 8 tấc, giữa có cái giùi liền đến đáy, cầm rung lên thì cái dùi ấy đập sang bên tả, bên hữu thành tiếng. Chúc, dùng đánh vào lúc mới tấu nhạc.2) 1 cái, ngữ ((3) Ngữ : hình giống con hổ nằm phục, trên lưng có 27 cái răng cưa, lấy miếng gỗ cọ vào thì thành tiếng. Ngữ, dùng đánh nhằm khi tấu nhạc sắp xong. 3) 1 cái, trống bồng 2 cái, đàn cầm 4 cái, đàn sắt 4 cái, cái tiêu bằng tre có 16 ống 2 cái, tiêu có 23 ống 2 cái, ống sênh 2 cái, ống huyên 2 cái, ống trì 2 cái, phách 2 cái. Đại nhạc 1 bộ : trống 20 cái, kèn 8 cái, tù và 4 cái, sa la ((4) Sa la : một nhạc cụ bằng đồng. Hình giống cái chậu.4) 4 cái, sa la lớn 4 cái, vỏ ốc biển ((5) Vỏ ốc biển : nguyên văn là “hải loa”, dùng để thổi như tù và bằng sừng trâu.5) 2 cái. Còn các đồ nhạc cụ nhỏ chỉ dùng để hợp tấu ở sân điện Cần Chính, dùng bao nhiêu thứ, vẫn cứ trình bày như cũ.


    2. Về bản nhạc. - Các lễ tiết hằng năm như 3 tiết lớn, tiết Đại khánh, ngày ban lịch, ngày truyền lô ((6) Truyền lô : lễ xướng danh những người đỗ đại khoa, như trạng nguyên, bảng nhãn, thám hoa, tiến sĩ…6) ngày sóc vọng ((7) Sóc : mồng một. Vọng : ngày rằm. Tục xưa. Hai ngày sóc, vọng đều có cúng bái.7) thường hằng tháng ngày ngoại phiên dâng lễ xin quy thuận, ngày rước vua ra ngự lên ngai, phàm những tiết tế ấy đều tấu bản nhạc “Lý bình”.


    Các lễ tiết trăm quan theo ban thứ, xếp hàng làm lễ thì tâu bản nhạc “Túc bình”. Hằng năm 3 tiết lớn và tiết đại khánh các quan làm lễ mừng thì tâu bản nhạc “Khánh bình”. Mỗi năm tết Nguyên đán vâng lệnh tuyên chỉ dự yến và ban thưởng, tiết Đại khánh, đọc ân chiếu xong các quan làm lễ tạ ơn, thì tâu bản nhạc “Di bình”.


    Mỗi năm ngày ban lịch, Khâm thiên giám làm lễ, thì tâu bản nhạc “Nguyên bình”.


    Mỗi năm ngày ban lịch, trăm quan vào tạ ơn thì tâu bản nhạc “Hàm bình”.


    Phàm khoa thi Điện khi truyền lô, quan khâm mệnh vào tâu lại thì tâu bản nhạc “Doãn bình”. Khi các tiến sĩ mới vào làm lễ thì tâu bản nhạc “Xiển bình”.


    Gặp tiết Đại khánh, các ngoại phiên vào làm lễ, và nước ngoài mới quy thuận làm lễ triều bái thì tâu bản nhạc Long bình”.


    Các ngoại phiên mới quy thuận tạ ơn thì tâu bản nhạc “Bình hoà”. Các lễ triều hội, khi làm xong, rước vua về cung thì tâu bản nhạc “Hoà bình”.


    3. Về nghi tiết. - Mỗi năm gặp tiết Vạn thọ, thì trước 1 ngày, người phần việc đặt 1 cái án đỏ hơi lui về phía bắc, ở trên thềm, gian Tả nhị trước điện Thái Hoà. Lại đặt một cái án đỏ ở Mái tây và trên thềm gian Tả nhất Hữu nhất đặt chiếu để hoàng tử và các công đứng lạy, bên tả bên hữu sân rồng đặt cái biển chua phẩm trật của các quan văn võ để theo phẩm mà đứng. Nhã nhạc đặt ở phía đông và phía tây biển ghi phẩm ấy. Đại nhạc đặt ở phía nam sân rồng, đông tây đều hướng vào nhau. Đến ngày hôm ấy, vào khoảng canh năm, sau khi trống điểm 3 hồi và đốt ống lệnh, bày đồ lỗ bộ đại triều ở sân điện Thái Hoà, bày nghi lễ thường triều ở sân điện Cần Chính. 16 người hát chia ra đứng ở hai bên tả hữu sân rồng, về phía bắc chỗ treo nhạc, các người ở ban nhã nhạc, ban đại nhạc đều theo ban thứ đứng xếp hàng. Ty Lễ bộ kính bưng hòm biểu mừng của trăm quan đặt trên cái án ở giữa Tả nhị, còn hòm biểu mừng của các địa phương thì đặt trên cái án đỏ ở Mái tây. Ty Loan nghi sửa soạn đặt xe vua ở dưới thềm gian chính giữa trước điện Cần Chính. Những người theo xe và ban nhạc nhỏ đều theo vào, đứng đợi đến giờ, một viên thị vệ đại thần mặc triều phục, quỳ tâu ở bên tả đường giữa trước điện, tâu hai tiếng : “trung nghiêm”, một viên đường quan Lễ bộ mặc triều phục, quỳ ở bên hữu con đường giữa điện tâu 2 tiếng “ngoại biện”. Tiếp đó nội giám tâu hầu vua đội mũ cửu long, mặc áo hoàng bào, đeo đai ngọc, cầm ngọc khuê lên ngự trên bảo toạ ở điện Cần Chính, viên quản vệ ở vệ Loan giá đội mũ đầu hổ, mặc phẩm phục, cầm thanh kim đao vâng mệnh truyền cho các hộ vệ sửa soạn xe loan và đồ hành ngơi rước vua đi xe từ thềm giữa tiến lên, đặt ở gian chính giữa triều điện. Viên quản vệ vệ Loan giá quỳ tâu : xin vua lên xe. Điện Càn Nguyên khua chuông đánh trống, xe ra đi, quân cảnh tất dẫn trước theo sau đúng nghi tiết. Đến thềm phía bắc điện Thái Hoà, rước vua xuống xe, ban đại nhạc ở cửa cảnh môn tấu lên, chuông trống ở điện Càn Nguyên dừng lại, bắn 9 tiếng ống lệnh, rước vua lên ngai, ban đại nhạc dừng lại, tấu bản nhạc “Lý bình”. Trước điểm 3 tiếng chuông to rồi đánh 3 tiếng chúc, nhã nhạc hợp tấu, người hát ca hát khúc nhạc xong, thì nhạc thôi, đánh ba tiếng ngữ, rồi lại đánh 3 tiếng khánh to. Sau đó cùng trăm quan đứng xếp hàng theo ban thứ. Đâu đó tề chỉnh rồi thì tấu bản nhạc “Túc bình” ; khi làm lễ mừng thì tấu bản nhạc “Khánh bình”, hai tiết ấy đều làm lễ 5 lạy. Còn biểu mừng của trăm quan thì Nội các bưng lên đặt trên cái án sơn vàng ở trước chỗ vua ngự, và miễn không phải tuyên đọc ; biểu mừng của các địa phương, thì Nội các tiếp nhận, trăm quan chia ban quay ra. Hai ty Hộ vệ và Cảnh tất bắn 9 tiếng súng mừng. Lễ xong tấu bản nhạc “Hoà bình”. Đại nhạc nổi lên, rước vua vào điện Cần Chính lên ngự bảo toạ. Những quan viên chưa đủ phẩm phục, những nhân viên nhàn tản trong họ Tôn thất, các viên cống sinh, giám sinh cứ theo thứ tự vào sân làm lễ 5 lạy.


    Hằng năm, tết Nguyên đán, tết Đoan dương, nếu có tuyên chỉ cho ăn yến và ban thưởng, thì làm thêm lễ tạ ơn, tấu bản nhạc “Di bình” mà không bắn súng. Còn các nghi tiết khác đều như thế. Nếu gặp nghi tiết Đại khánh lại có truyền chiếu ban ơn thì cũng làm thêm lễ tạ ơn, tấu bản nhạc “Di hình”. Tuyên đọc biểu mừng của trăm quan xong, lại cho riêng các ngoại phiên dâng biểu làm lễ tạ ơn, tấu bản nhạc “Long Bình”. Còn nghi tiết khác đều như nhau.


    Ngày sóc, ngày vọng hàng tháng, nếu có đặt nghi tiết đại triều, thì chiếu theo như nghi tiết Vạn thọ, bỏ các tiết mục dâng biểu và bắn súng.


    Hằng năm ngày ban chính sóc, Khâm thiên giám làm lễ dâng lịch thì tấu bản nhạc “Nguyên bình”. Quan tuyên chỉ tuyên bố rằng lịch đã xong, ban cho trong ngoài rồi đoạn làm lễ tạ ơn, tấu bản nhạc “Hàm bình”.


    Khoa thi Đình, ngày truyền lô, quan khâm mệnh làm lễ tâu trình lại, thì tấu bản nhạc “Doãn bình”. Quan truyền lô gọi tên lần lượt xong, các tiến sĩ làm lễ tạ ơn thì tấu bản nhạc “Xiển bình”.


    Tuyên đọc xong bài biểu tiến cống, làm lễ tạ ơn, tấu bản nhạc “Thuận bình”, còn nghi tiết khác cùng giống với lễ sóc, vọng.


    Đối với Từ Thọ cung, khi gặp ba tiết lớn, có tờ dâng mừng thì không phải đọc, làm lễ thì dùng đàn sáo và các nhạc cụ hạng nhỏ ; duy gặp tiết Đại khánh thì tuyên đọc tờ chúc mừng, nhạc thì dùng múa bát dật.


    Bộ Binh tâu nói : “Từ trước đến nay ngạch binh kỳ 4 tháng ở các địa phương cũng như các hạng thuế biệt nạp và 9 bang ở Bắc tào đều có ghi chép đăng vào sổ cả. Vả lại số đinh nhiều hay ít, thuế khoá tăng hay giảm đều là việc hộ, không quan hệ đến việc binh, thế mà hằng năm đã có sổ hộ, lại có ngạch binh cũng thêm thừa. Vậy xin nên giảm bớt đi”. Vua nghe theo.


    Chuẩn định : “Từ nay phàm nhân viên họ Tôn thất, nếu ai nghỉ dưỡng bệnh, hay hưu trí hoặc làm chức nhàn tản, đều chuẩn cho chi lương Tôn thất, còn áo mặc mùa xuân thì không cấp nữa. Việc này ghi để làm lệ”.


    Sửa đền Sơn thần ở núi Ngọc Trản, sai phủ Thừa Thiên thuê thợ để làm.


    Tên tướng giặc trốn ở Quảng Yên là Nguyễn Bảo, cùng với tên phỉ người nhà Thanh là Chung A Phát, tụ tập các thuyền chài, lấy núi Tràng Sơn ở phía đông và phái tây làm nơi sào huyệt. (Núi Tràng Sơn có tên là Giáp Chân, ở giữa biển cả thuộc hải phận Vân Đồn, liên tiếp với Bạch Long Vĩ ở Trúc Sơn nhà Thanh). Thường nhân lúc sơ hở tạm đóng ở ngoài biển, làm nguy hại dân buôn. Phó quản cơ ở cơ Tiền nhuệ là Nguyễn Văn Thẩm do tỉnh sai phái đã đem binh thuyền đi tuần tiễu, trông thấy 6 chiếc thuyền giặc đang chạy ra ở ngoài biển, thì những thuyền ấy Thẩm đuổi theo chạy cả về phía đông.


    Thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng được tin báo, lại sai Phó quản cơ ở cơ Quảng Yên là Đỗ Văn Giai, cùng với thổ Tri huyện và Tri châu hiệp sức cùng đi bắt giặc. Việc đến tai vua. Vua dụ rằng : “Hạt ngươi gần đây hơi được yên ổn, nay có lũ thuyền giặc ấy lảng vảng ở trên mặt biển thế tất nhân chỗ sơ hở quấy nhiễu gây sự. Ngươi nên để tâm tính toán và nghiêm sức cho các bộ biền đã phái phải hết sức lùng bắt, để quét sách mây mù ở ngoài biển. Bọn đầu mục ở Thổ Luyện, thuộc châu Vân Đồn là Phạm Đình Thịnh và Nguyễn Đình Thanh, gặp giặc ở đảo Cửu Đầu, bắt được 6 tên trong bọn, thu được 1 chiếc thuyền và súng lớn cùng khí giới đem nộp.


    Vua cho là Đạo Quảng sai phái được người trước, hãy thưởng gia 1 cấp ; thưởng cho bọn Thịnh 50 lạng bạc ; còn dân phu đi trận ấy thì chia ra từng hạng thưởng cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau (hạng nhất thưởng bạc mỗi người 2 lạng ; hạng nhì mỗi người 1 lạng ; hạng ba mỗi người 3 quan tiền).


    Sai Quản vệ Thuỷ quân là Đoàn Văn Suất quản lĩnh binh thuyền, chở các của kho ở Bắc Kỳ về Kinh.


    Vua dụ bộ Công rằng : “Từ trước đến nay các địa phương sửa chữa thuyền bè, phần nhiều giao phó cho biền binh thuỷ quân, tới khi xong, lại không chính mình kiểm tra xem xét, lại hờ hững coi như đau ngứa không quan hệ gì đến mình để đến nỗi lâu ngày sinh tệ, mà trong bọn biền binh lại nhiều kẻ không tốt, chỉ toan giảm bớt hoặc lấy cắp vật liệu để chia tay nhau, sửa chữa thuyền bè làm qua loa cho xong việc. Tới khi sai phái, chợt gặp sóng gió thường hay xảy ra tai nạn, lại lót miệng là biển khơi nguy hiểm, sức người khó chống lại được ! Dẫu rằng việc xảy đến đâu cũng đã trừng phạt đến đó, nhưng ta vẫn cho là vì có sóng gió, nên khoan tha cho đã nhiều. Từ năm ngoái trở về trước, tổng cộng tiền của đổ xuống biển đông có tới hàng chục hàng trăm vạn ! Nếu không hỏi qua đến các quan địa phương và các biền binh để chung quy họ không đền bồi mảy may nào, thì e ngày càng thêm nhiều, bọn kia sẽ coi của nước như vật bỏ đi. Vậy cần phải thiết tha nghiêm dụ : Từ đây trở về sau, hằng năm để làm việc hải vận, thuyền bè phải do đốc phủ thành, trấn đốc thúc sửa chữa từ trước kỳ hạn, khi làm xong, phải thân hành xem xét, nếu quả được mười phần bền chặt, mới cho chuyên chở ; nếu có chỗ không chu đáo thì chuẩn cho một mặt chỉ rõ những nhân viên nào thừa hành việc sửa chữa, nghiêm ngặt tham hặc để trừng trị, một mặt thượng khẩn bắt phải sửa đền cho được bền chặt đầy đủ, để kịp thời kỳ chuyển vận trên đường biển. Nếu không chịu xét nghiệm thật kỹ để
  • Chia sẻ trang này