0060.0030

25/12/15
0060.0030
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    thuyền không được bền chặt mà hỏng việc, thì sẽ tính tất cả của cải và giá vật liệu nhân công làm thuyền, bắt các đốc phủ thành, trấn và các biền binh theo từng tên, chia suất ra mà bồi thường, quyết không cho mượn tiếng là bởi sóng gió. Vậy truyền dụ cho tất cả đều biết”.


    Tuần phủ Ninh Bình Hồ Hựu tâu nói : “Những dân thuộc hạt mới về, chưa cư tụ được đầy đủ, mà số ngạch binh lính còn thiếu nhiều, không lấy đâu sung điền được. Nay xin xét theo các xã thôn, trước kia số đinh không đủ, mà nay đã thêm lên nhiều, thì theo lệ lựa chọn để bổ sung vào số lính cơ”. Vua cho lời tâu là phải.


    Đổi bổ Vệ uý vệ Tiền phong tiền là Vũ Văn Giải làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm vẫn lĩnh Viện sứ ở viện Thượng trà và quyền coi vệ Loan giá, kiêm coi các đội Ngân bài, Nha bài, Thượng thiện, Hoà thanh và Thanh bình. Bổ nguyên Vũ lâm Tiền nhất vệ Phó vệ uý, Tham biện đê chính Nguyễn Văn Khoa làm Tiền phong Tiền vệ Vệ uý.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXIx



    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa xuân, tháng 3, thi Hội. Sai Lại bộ Thượng thư Nguyễn Khoa Minh sung Chánh chủ khảo, thự Hộ bộ Thượng thư Trương Minh Giảng sung Phó chủ khảo, Nội các Thị lang Hoàng Quýnh và Hình bộ Tả thị lang Hà Duy Phiên sung Tri cống cử. Lại phái thêm Thống chế Đỗ Quý coi giữ công việc tra xét tuần phòng.


    Lệ trước, đến kỳ thi hễ có đầu bài vua ra, thì 2 viên Tri công cử chia nhau đi hai vi để tuyên đọc, rồi mới niêm yết. Khoa này quan trường tâu rằng làm như thế thì tiết lộ ra ngoài, vua bèn sai đình chỉ việc tuyên đọc. Đến khi đem những quyển lấy đỗ dâng lên, thì kỳ thứ hai, kỳ thứ ba những quyển có phân số rất ít (kỳ thứ hai có 16 quyển văn được từ 1 phân đến 4 phân, kỳ thứ ba có 8 quyển văn được 1 phân).


    Vua cho là quan trường câu nệ cân nhắc đắn đo quá, bèn gia ơn cho những quyển nào có phân số thì gia thêm 1 phân, không đủ 1 phân thì cho là 1 phân. Lấy 8 người trúng cách : Đỗ Quang, Phan Trước, Nguyễn Toản, Vũ Công Độ, Phạm Bá Thiều, Nguyễn Văn Lý, Phạm Sĩ ái và Phạm Gia Chuyên. Lấy 3 người đỗ Phó bảng: Nguyễn Mậu Trạch, Trần Trứ và Nguyễn Bá Nghi.


    Sai Thượng thư bộ Lễ là Phan Huy Thực kiêm coi công việc bộ Lại, thự Hữu thị lang bộ Lại sung Thị lang Thương trường là Đặng Văn Bằng về làm việc ở bộ Lại, Tả tham tri bộ Binh là Lê Văn Đức quyền làm công việc Nội các, Thự Tả tham tri bộ Hộ, quyền làm công việc Vũ khố là Trương Đăng Quế về bộ cung chức và cùng với thự Hữu tham tri là Bùi Phổ quyền giữ ấn triện bộ Hộ. Cho Đặng Đức Thiệm làm Lang trung bộ Hình thự Hữu thị lang, lĩnh việc Vũ khố, Tả thị lang bộ Binh quản lý việc Nội vụ phủ là Trần Chấn về cung chức ở bộ Binh. Thăng Nội vụ Viên ngoại lang Nguyễn Công Trứ lên thự Lang trung, cùng với Viên ngoại lang là Bạch Xuân Nguyên quyền giữ ấn quan phòng của Nội vụ phủ. Khi việc thi Hội xong, thì Phan Huy Thực, Lê Văn Đức, Trần Chấn và Đặng Văn Bằng, đều về cung chức như trước, duy ở Vũ khố đã có Đặng Đức Thiệm coi quản rồi thì Trương Đăng Quế vẫn cứ lưu ở lại làm việc ở bộ Hộ.


    Đặt nhà trạm Hưng Yên ở xã Đội Xuyên (xã này thuộc huyện Nam Xang, từ Hưng Yên đến Nam Định, hễ có chạy trạm đều qua đấy). Sau đó, cho rằng đất ấy thuộc về Hà Nội, nên đặt tên là trạm Hà Xuyên.


    Sửa lại cung Trường Minh.


    Sai Hà Nội chọn đặt chức hàng trưởng 2 phố Quảng Đông và Phước Kiến. Hễ nhà nước có mua sản vật ở hai tỉnh (Quảng Đông, Phước Kiến) thì cứ chuyên trách vào viên hàng trưởng đó.


    Ngày Nhâm tý là tiết Thanh minh. Vua bái yết lăng Thiên Thụ, nhân đi săn về mùa xuân, gặp mưa, thưởng tiền và bạc lạng cho quan quân theo hầu có thứ bậc khác nhau.


    Vua cho rằng hai lăng Vĩnh Diễn ((1) Vĩnh Diễn : lăng Nguyễn thị, vợ Nguyễn Phước Tần, ở xã Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.1) và Vĩnh Diên ((2) Vĩnh Diên : lăng Đoàn thị, vợ Nguyễn Phước Chu, cũng ở địa điểm trên.2) ở Quảng Nam, đường sá xa cách, e người thừa hành việc tế tự không được chu tất ; vậy sai quan trấn hằng năm cứ đến tiết Thanh minh, phàm lễ phẩm, xôi, lợn, cỗ bàn, phải thân xem xét, cốt cho phong hậu sạch sẽ. Lại sửa lại cột nêu gỗ ghi rõ những điều răn cấm, khiến người dân không được lấn lướt.


    Cho viên bị cách là Lý Văn Phức được khai phục làm Chánh cửu phẩm thư lại ở Nội vụ phủ. Phức, trước kia vì tham tang phải bỏ ngục đã lâu, sau được tha, nhiều lần phái đi đường biển để gắng sức làm việc chuộc tội, tới đây, từ biển Đông về, phái viên là bọn Lê Thuận Tĩnh nói Phức là người làm việc xuất sắc, nên lại được dùng.


    Vua dụ rằng : “Lý Văn Phức bị lỗi nặng, đã gia ơn chuẩn cho gắng sức chuộc tội, nhiều lần sai phái đi biển Tây, biển Đông, trải qua nhiều bước gian nan nguy hiểm. Kể về nguyên tội, dẫu không nên lại dùng, nhưng nghĩ hạng người ấy còn có thể sai khiến được, nếu không có đường để tự sửa lỗi đổi mới, thì kẻ tiểu nhân, một khi đã mắc tội lỗi, tự nghĩ như dòng nước suối chảy ở Tam Hiệp ((3) Tam Hiệp : tức là Cồ Đường Hiệp, Vu Hiệp và Tây Lăng Hiệp, ở vào khoảng 2 tỉnh Tứ Xuyên và Hồ Bắc (Trung Quốc), chỗ ba hiệp ấy liền nhau dài 700 dặm, giữa là dòng sông, hai bờ giáp núi, nước chảy rất mạnh, thuyền đi rất là hiểm trở.3), cam chịu buông trôi, sẽ lại bước vào tội lỗi, rất là đáng thương ! Vậy nay đặc cách cho khai phục để khi có việc phải đi ngoại dương tức thì sai phái. Nếu ngày dồn tháng chứa, có nhiều công lao thì theo lệ thường thăng bổ, cũng chẳng sao cả. Nhược bằng chứng nào tật ấy thì không kể nhẹ hay nặng, đều phải trị tội nặng thêm, đó là đặc cách gia ơn. Từ nay về sau nhân viên nào mắc tội, không cho tự ý nài xin càn bậy nữa”.


    Truy phong Thái bảo quốc công Nguyễn Phước Trung làm Diễn Quốc công, Tống Phước Khuông làm Quy Quốc công.


    Vua dụ rằng : “Từ xưa vương giả ban ơn, từ gần đến xa là để tỏ lòng trung hậu và khuyến khích người sau này. Ta nghĩ :


    Nguyên Chánh dinh Cai cơ, Miên Trường hầu, tặng phong Tán trị công thần, Đặc tiến khai phủ Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Trung quân Đô đốc phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo quốc công, thuỵ Chính Trực Nguyễn Phước Trung: sinh ra hoàng tổ tỷ Hiếu khang hoàng hậu ((1) Hiếu khang hoàng hậu : bà nội Minh Mệnh.2).


    Nguyên Ngoại tả Chưởng dinh kiêm Chưởng sứ, tặng phong Suy trung dực vận công thần, Đặc tiến khai phủ, Phụ quốc Thượng tướng quân, Thượng trụ quốc, Thái bảo quốc công, thuỵ Cung ý Tống Phước Khuông : sinh ra hoàng tỷ Cao hoàng hậu((2) Cao hoàng hậu : vợ Gia Long và là mẹ Minh Mệnh.3).


    Khoảng niên hiệu Gia Long [1802-1819], Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta đã mấy lần truy tặng hàm cao và chuẩn định việc cúng tế trong các tiết hằng năm chắc đã hậu rồi. Nay, nước nhà nhàn rỗi, phàm các thân huân đã được dự vào nơi thờ chung hoặc được thờ riêng, đều đã gia tặng chức hàm và đất ăn lộc, để báo đáp công lao cũ, nay lại gia thêm ơn điển cho rộng hơn. Vậy đổi tặng Nguyễn Phước Trung làm Đặc tiến Tráng võ đại tướng quân, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, tên thuỵ vẫn là Chính Trực, phong Diễn Quốc công ; Tống Phước Khuông làm Đặc tiến Tráng võ đại tướng quân, Tiền quân Đố thống phủ Chưởng phủ sự, Thái bảo, đổi tên thuỵ là Cung Mẫn, phong Quy Quốc công ở bên tả đền Diễn Quốc công, hằng năm, xuân thu hai kỳ đến tế.


    Lại gia tặng vợ chính thất Diễn Quốc công là Phùng thị, nguyên tặng Quốc thái phu nhân, nay truy phong là Diễn Quốc nhất phẩm phu nhân, tên thuỵ vẫn là Trang Thục ; vợ chính thất Quy Quốc công là Lê thị, nguyên tặng Quốc phu nhân, nay truy phong là Quy Quốc nhất phẩm phu nhân, tên thuỵ vẫn là Thục Thận.


    Cho con của trưởng công chúa Ngọc Quỳnh là Phạm Văn Kiện, và con của trưởng công chúa Ngọc Anh là Trương Phước Minh được do chân ấm, làm Hiệu uý vệ Cẩm y, đều được miễn việc thượng trực ((3) Thượng trực : túc trực hầu vua.3).


    Trùng tu nơi viên tẩm ((1) Viên tẩm : phần mộ của hoàng tử hoặc hoàng phi, có phân biệt với lăng tẩm là nơi mồ mả của vua chúa 1) của Anh Duệ hoàng thái tử ((2) Tức Hoàng tử Cảnh.2) và cho rằng Thái Bình công đã mãn tang, đã phối hợp vào đấy để thờ, vậy sai dời phủ đệ đem dựng ở phía sau viên tẩm này cho Thái Bình hầu là Lệ Chung ở đấy để giữ việc thờ tự.


    Đổi thuế sản vật biệt nạp của xã Bát Tràng, thuộc Bắc Binh (nguyên trước nộp vải trắng, nay đổi nộp gạch Bát Tràng già. Hạng tráng hằng năm mỗi người nộp 300 viên, còn dân đinh hạng lão thì nộp 1 nửa)


    Quy định lại số ngạch thư lại ở ty Bố chính ở các tỉnh Bắc Kỳ. (Năm tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây và Bắc Ninh, các thư lại ở ty Bố chính sứ, nguyên ngạch : bát phẩm 3 người, cửu phẩm 6 người, vị nhập lưu 60 người, nay đổi lại : bát phẩm 4 người, cửu phẩm 8 người, vị nhập lưu 67 người. Năm tỉnh Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng và Quảng Yên, nguyên ngạch : vị nhập lưu 30 người, nay đổi lại 20 người).


    Quan tỉnh Nghệ An tâu nói : “Phủ Trấn Tĩnh có 3 huyện : Thâm Nguyên, Yên Sơn và Mộng Sơn, đã đặt thổ Tri huyện và Huyện thừa, nay xin chiếu theo lệ các huyện thuộc tỉnh, dưới huyện nên có đặt tổng. Vậy huyện Thâm Nguyên đặt 6 tổng, huyện Yên Sơn và Mộng Sơn, mỗi huyện đặt 4 tổng, mỗi tổng đặt 1 viên cai tổng, cấp cho triện gỗ, để làm việc công”. Vua thuận cho.


    Lại cho rằng mùa đông năm ngoái, chia đặt tỉnh hạt, có 7 động thuộc châu Quy Hợp chưa định lệ thuộc đâu. Nay hạ lệnh cho lệ thuộc về Nghệ An.


    Chuẩn định : “Từ nay phàm các quan văn võ từ Tam phẩm trở lên, dự vào hạng đình thần, mà hiện bị giáng cấp không tới Chánh ngũ phẩm, thì chuẩn cho theo cấp bậc bị giáng ấy, ban cho áo xuân theo cấp bậc của mình ; nếu không phải là bậc đình thần thì đều chiếu theo phẩm, tính cấp cho tiền. Chuẩn định này được đặt làm lệ mãi”.


    Quy định cho Lạng Sơn và Cao Bằng, được nộp bạc thay thuế sắt (Hai mỏ Đà Lịch và Mãnh Xá thuộc Lạng Sơn, mỗi năm, theo lệ nộp sắt chín 200 cân, nay cho nộp thay bằng bạc 14 lạng. ở Cao Bằng các biệt nạp thiết hộ ((3) Thiết hộ : những hộ làm sắt.3) mỗi năm nộp theo lệ nộp sắt chín 1.672 cân, nay cho nộp thay bằng bạc là 83 lạng 6 đồng cân).


    Các sách người Man ở nguồn Chiên Đàn tinh Quảng Nam tình nguyện xin ra thú, thần phục và đi lại buôn bán, quan trấn tâu lên. Vua cho là người Man hay tráo trở, chưa thật đáng tin nên không ưng thuận.


    Gia phong Hà Hoa quận công Trần Hưng Đạt làm Hoa Quốc công.


    Vua dụ rằng : “Thánh nhân đặt lễ, trước người thân, sau người sơ ; vương giả ban ơn từ họ gần tới họ xa. Ta nghĩ đến bà Lê thị tặng phong Nhất phẩm phu nhân là vợ chính thất ông nguyên Lễ bộ Tả tham tri, tặng Thiếu phó, Hà Hoa quận công, Trần Hưng Đạt, sinh ra Thánh mẫu Hoàng thái hậu ta : đức tốt để lại, Phước trạch có nhiều ; khi mới được nước, ra vào nơi triều chính, giúp đỡ cho ta, đã từng tỏ công lao rõ rệt ; nên ta khi mới nối ngôi, đã từng phong tặng đất ăn lộc, chức hàm và dựng đền thờ, hằng năm cúng tế theo các tiết để mong yên ủi lòng Hoàng thái hậu.


    Nay nước nhà thanh nhàn, điển lễ tỏ sáng. Đối với các bậc thân huân đều đã phong hiệu vẻ vang. Nhớ đến họ ngoại, cũng lại nên gia ơn mới một cách rộng rãi nữa : Trần Hưng Đạt thì gia tặng Đặc tiến Vinh lộc đại phu, Đông các đại học sĩ, Thái phó, tên thuỵ vẫn là Ôn Cẩn, phong Hoa Quốc công, chính thất Lê thị thì gia tăng Hoa quốc Nhất phẩm phu nhân, tên thuỵ vẫn là Thục ý. (Thiệu Trị năm đầu [1841]), Hoa quốc công đổi phong là Thọ Quốc công và phu nhân là Thọ quốc Nhất phẩm phu nhân).


    An Khánh công tên là Quang có việc tang mẹ đã chôn cất xong, lại tâu xin gạch và dự chi cho lương bổng năm Minh Mệnh thứ 14 [1833].


    Vua dụ rằng : “An Khánh công Quang, trước kia lấy nê có việc tang riêng, đã xin nhờ thợ làm và vật liệu chẳng phải chỉ có 2,3 lần, ta cho rằng Quang là chỗ thân công, nên đã đặc cách hậu thưởng cấp cho và phái binh tượng đến giúp việc, lại gia ơn cho mượn lương bổng năm Minh Mệnh thứ 13 để chi dùng vào việc tang. Nay không biết lấy làm đủ, lại có lời cầu xin này, xem ra chỉ là mượn cớ mong nhờ lời nói hàm hồ thực là ngu tối, nhàm quá. Tập tấu ấy phải quăng trả lại rồi truyền chỉ nghiêm sức : từ nay trở đi nếu không yên phận hễ còn tâu xin càn bậy việc gì thì giao ngay cho phủ Tôn nhân hội đồng với bộ Hình nghiêm xét không tha”.


    Chuẩn định, từ nay phàm các tù nhân phải phát đi làm lính thì chiểu theo lệ quân lưu tù phạm ((1) Quân lưu tù phạm : hạng tù phát vãng làm lính và bị tội đày.1) dồn bổ làm lính cấp cho lương tháng (mỗi tháng cấp cho 5 tiền và 1 phương gạo).


    Tuần phủ Hà Tĩnh Nguyễn Danh Giáp tâu nói : Lính ở vệ Võ thành tỉnh Nghệ An đều quê quán tỉnh hạt Hà Tĩnh xin trích ra 1 đội làm lính coi ngục.


    Vua nói : “Một vệ Võ thành có 5 đội, há nên chia ra để thuộc 2 tỉnh”, bèn sai đổi vệ Võ thành làm cơ An võ, vẫn lệ thuộc vào Nghệ An, lấy đội Kiên uy ở Nghệ An đổi làm đội Tĩnh kiên, cho lệ thuộc vào tỉnh Hà Tĩnh để sung làm lính giữ ngục.


    Dùng Phó vệ uý vệ Trung nhị dinh Vũ lâm là Phan Văn Cần làm Vệ uý ở Hổ oai Tiền vệ, Vệ uý ở Tiền phong tiền vệ là Nguyễn Văn Khoa làm thự Vệ uý vệ Trung nhị dinh Vũ Lâm.


    Vua dụ bộ Công rằng : “Sửa đóng thuyền mành thực là việc khó, nếu không có tay lành nghề, không khỏi hỏng việc. Nhân đó vua nghĩ các cơ đội Kiên chu, Thiên chu, từ trước đến nay chuyên làm công việc đóng thuyền, trong đó hoặc có người làm giỏi, mà danh phận còn thấp kém chưa tỏ mình ra được, bộ các ngươi nên hội với Thuỷ quân Nguyễn Tài Năng lựa chọn kỹ xem người làm nhanh giỏi, thông thạo việc đóng thuyền, thì không cứ là suất đội, đội trưởng hay binh đinh, đều trích ra từng hạng, lập thành danh sách tâu lên, ta sẽ ra ơn, để biết cố gắng”. Khi tâu lên lại sai bộ Binh xét lại, rồi chuẩn y cho 6 người được thăng.


    (Đội trưởng hạng ưu thăng làm Cai đội : 1 người đội trưởng hạng bình, thăng làm Chánh đội trưởng : 4 người ; đội trưởng thí sai hạng thứ, cho thực thụ ngay : 1 người).


    Cho Trương Minh Giảng làm Thượng thư bộ Hộ, Vũ Xuân Cẩn làm Thượng thư bộ Hình, Trương Đăng Quế làm Tả tham tri bộ Hộ, Bùi Phổ là Hữu tham tri bộ Hộ, Phan Bá Đạt làm Hữu tham tri bộ Hình, Nguyễn Trung Mậu làm Hữu tham tri bộ Công, Tôn Thất Bạch làm Tả thị lang bộ Lễ ; Trương Phước Đĩnh làm Phủ thừa ở Thừa Thiên.


    Dùng Hàn lâm viện Thị độc học sĩ Nguyễn Huy Chiểu làm Hữu thị lang bộ Hộ, vẫn sung làm công việc Nội các.


    Đổi bổ Vệ uý vệ Tiền nhị dinh Vũ Lâm là Lê Thuận Tĩnh làm Chưởng cơ, kiêm cai quản các đội Ngân bài, Thị vệ Nha bài, Thị vệ Kim sang, Tài hoa và các ty Lý thiện vệ Dực bảo. Thự Vệ uý ở Hổ oai Hậu vệ là Nguyễn Trọng Tính làm Vệ uý vệ Phi kỵ kiêm coi quản các đội Thị vệ, Ngân dang, Sài tân và Ngư hộ, thự Phó vệ uý vệ Hậu nhị dinh Vũ Lâm là Nguyễn Văn Hoà làm Phó vệ uý Hổ oai Hậu vệ.


    Cho Nguyễn Tiến Lâm làm Phó vệ uý Hữu vệ dinh Long võ.


    Nguyễn Văn Hiệp suất đội ở Kinh tượng Nhất vệ trước gọi là Miêu Nhi làm gia đồng nhà Chưởng Tượng quân Nguyễn Đức Xuyên, phẩm hạnh hèn kém, không ai đếm xỉa, sau đổi tên, đi đầu quân dần dà lên to ; đến đây Nội các dò biết tình trạng bèn chỉ rõ tên, tham hặc tâu lên. Vua sai đoạt chức ngay phát đi làm lính ở Trấn Ninh chỗ mới mở. Quản vệ là Lê Văn Thuỵ vì tiến cử lầm lẫn bị phạt. Sắc sai binh Bộ truyền chỉ cho các quản quan, phàm thuộc hạ có ai giống tình trạng ấy thì cho xét hặc tâu lên, đợi chỉ trừng phạt, còn tội bảo cử không được người tốt cũng được khoan tha cho, nếu cứ thiên tư không chịu phát giác, thì tất giao bộ nghị xử nghiêm ngặt.


    Vọng Các công thần Chưởng cơ hưu trí là Phạm Văn Quỳnh chết, chuẩn cấp cho một người coi mộ.


    Xây bó mặt trong phía sau Kinh thành (gạch xây cùng cách thức như mặt bên hữu) và mặt trong đài Thái Bình (xây bằng gạch, định hạn là trên rộng 1 thước 4 tấc, dưới rộng 2 thước 1 tấc). Sai Thống chế Nguyễn Văn Trọng, Phạm Văn Lý, Đỗ Quý và Tôn Thất Bằng chia nhau trông nom công việc.


    Đinh Văn Tăng người coi kho ở Sơn Tây vì không yêu sách được các lính cơ trong tỉnh đến lĩnh lương, bèn kích tay gạt thóc làm không đầy hộc. Tổng đốc Lê Đại Cương sai người do thám bắt được quả tang, kết án xử tử.


    Vua bảo hộ Hình rằng : “Trước đây binh dịch ở kho cho đến quan lại trông coi thông đồng làm bậy phát ra thì nhẹ tay, đong vào thì nặng tay, lợi mình, thiệt người, cái gì cũng làm ! ta vẫn biết rõ hết nên khi việc phát ra tất trị tội nặng để răn kẻ điêu ngoa. Lại nghĩ đổi lại cách thức cái hộc, cái phương đặt làm quy chế lâu dài. Chẳng ngờ một tấm khổ tâm của ta lo nghĩ vì quan quân, dân chúng đặt ra khuôn phép tốt lành để tỏ sự tin thực công bằng ấy lại bị bọn kia dám dở nhiều ngón, xảo trá xoay cách vơ vét, thật đáng căm giận xiết bao ! Tên chính phạm Đinh Văn Tăng, tội chết có thừa, chuẩn cho lập tức chém đầu đem bêu và chặt một bàn tay, ướp muối phơi khô, rồi treo lên mãi mãi, để quan lại binh lính chức dịch trông thấy sờn lòng, không dám phạm nữa, cho hợp với ý lập pháp của đế vương xưa : dùng hình phạt để mong đi đến chỗ không cần hình phạt nữa. Bọn lại coi kho là Nguyễn Danh Chấn hằng ngày cùng nhau làm việc, hẳn có dự vào tham tang, bọn ấy đều là lũ dạy khỉ leo cây, đều bị tội giảo nhưng còn được giam để đợi lệnh. Suất đội Nguyễn Viết Tân có trách nhiệm kiểm soát, há lại không biết rõ tình trạng, vậy phạt 100 trượng, đồ 3 năm ; 40 người lính coi kho cùng một tội ác, dựa nhau làm gian, há có thể nghe cho chối cãi. Vậy đều đem đóng gông để ở cửa kho 1 tháng, khi hết hạn đánh 100 trượng, đuổi về hàng ngũ cũ, phái lính khác đến thay. Đoàn Văn Chử bí mật do thám được sự thực thì thưởng 20 lạng bạc, ghi tên để bổ chánh đội trưởng. Bố chính Lê Nguyên Hy vì không xem xét phải giáng chức.


    Lại có hai kho Xích Đằng ở Sơn Nam và Hải Dương bọn lại viên và người coi kho đem cái quan hộc kiểu mới tháo ván đáy ra, đẽo trũng rồi lắp vào ; lại nặng tay ấn gạo xuống, gạt ngược để lạm thu. Vua bèn đặc cách sai chủ sự bộ Hộ là Trần Ngọc Hà đến hội với quan tỉnh Hưng Yên xét xử vụ án này. Khi án xong, bọn Nguyễn Đình Hiển và Lê Văn Thanh đứng đầu đều bị chém bêu đầu và đục lấy mỗi bên một mảnh xương sọ, phơi gió cho khô, treo ở cửa kho mãi mãi, để răn người khác, còn thì xử chém, thắt cổ, sung quân và phát lưu có thứ bậc khác nhau. Thưởng cho Nguyễn Văn Nghị 20 lạng bạc. Còn quan trấn ở hai nơi ấy đều bị giáng chức. Tự đó kho ở Hưng Yên, dân đều nộp tô thuế, tuyệt không có kẻ làm khó dễ để sách nhiễu nữa.


    Được tin ấy vua bảo quần thần rằng : “Ta muốn trị kẻ có tội để ngăn ngừa khỏi mắc tội, bất đắc dĩ mới dùng hình phạt tàn khốc ấy. Nay tệ ấy do đấy quả đã trừ được. Ôi ! lấy một mảnh xương sọ mà cứu được ức muôn người khỏi khổ luỵ, thì dù có mang tiếng là hình phạt tàn khốc cũng không hề gì !”.


    Đặt thêm nhân viên chức dịch ở Công bộ và Mộc thương ((1) Mộc thương : trường sở chứa gỗ kiến trúc dưới thời phong kiến.1) (Công bộ tăng thêm 20 Vị nhập lưu thư lại. Một thương tăng thêm 1 Tư vụ, 1 Chánh bát phẩm thư lại, và 10 Vị nhập lưu thư lại).


    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Phủ lỵ Lý Nhân thuộc Hà Nội, nguyên là chỗ đất xung yếu của trấn thành Sơn Nam, kho tàng tích trữ không thể thiếu được. Vậy hạ lệnh cho Tổng đốc Nguyễn Văn Hiếu trù tính số tiền thóc và muối nên chứa và liệu trích số thuế các dân phụ cận phải đóng để sung vào sự chi dùng. Bàn cho thoả đáng rồi tâu lên”.


    Hiếu tâu nói : “Lương bổng các văn võ binh lính chức dịch ở phủ lỵ mỗi năm phải chi hơn 7.400 hộc thóc và hơn 3.400 quan tiền. Vậy xin trích lấy số tô thuế 1 huyện Kim Bảng là hạt kiêm lý thì hằng năm thóc gạo có thể thu được hơn 16.000 hộc, tiền hơn 6.600 quan, lấy đó chi ra, còn thừa để trữ lại. Và lựa để 10.000 hộc thóc 10.000 quan tiền 100 phương muối hiện trữ ở hai kho trấn cũ để làm của chứa thường xuyên. Rồi sức cho quan phủ cắt 2 người lại dịch : một người làm biên thu, một người làm chủ thủ và 1 suất đội, 30 người lính thuộc phủ mình, hiệp sức cùng canh giữ, trách nhiệm trông coi thì quan phủ phải kiêm làm. Còn việc chi phát tiền lương thì do Bố chính chứng thực phê chữ vào giấy tờ làm bằng, rồi xét nghiệm theo chứng thực mà cấp phát”. Vua chuẩn y lời bàn ấy.


    Vua cho rằng các hạt Hưng Hoá, Tuyên Quang, Thái Nguyên, kho chứa chưa đủ ; ra lệnh cho các biền binh ở Sơn Tây trước chia phái đi phòng thủ hai tỉnh Hưng, Tuyên, biền binh ở Bắc Ninh, trước chia đi phòng thủ ở Thái Nguyên, đều rút về hàng ngũ.


    Lại chuẩn y lời bàn của bộ Hộ, cho hai huyện Lập Thạch và Phù Ninh thuộc Sơn Tây, nộp thuế về Tuyên Quang ; và cho huyện Hiệp Hoà thuộc Bắc Ninh nộp thuế về Thái Nguyên. Lại vì huyện Lập Thạch và huyện Phù Ninh đường sá xa xôi, nên cho nộp cả về mùa đông, để dân được tiện.


    Sai Thống chế Nguyễn Tăng Minh kiêm coi quản Tào chính.


    Tăng Minh tâu nói : “Lệ trước bài chỉ thuyền ở các địa phương, đều đóng ấn của trấn. Nay Quảng Trị trở ra Bắc đã chia đặt tỉnh hạt, thì tỉnh nào có Tổng đốc, xin đóng dấu Tổng đốc quan phòng, tỉnh nào có Tuần phủ, xin đóng dấu Tuần phủ quan phòng, còn thuế khoá thì vẫn thuộc ty Bố chính sứ chuyên giữ”. Vua theo lời.


    Sửa đắp lại các tấm bia phân chia địa giới ở sông Đổ Chú, tỉnh Tuyên Quang.


    Khoảng năm Bảo Thái [1720-1728] đời Lê, biên lại ở phủ Khai Hoá nhà Thanh chiếm đất biên giới. Vua Lê đưa thư cho nhà Thanh, người Thanh sai quan đi hội khám, bèn trả lại đất cho ta, chia địa giới ở sông Đổ Chú, bờ phía nam và bờ phía bắc sông này đều dựng bia để làm mốc. (ở bờ phía nam, bia nước ta khắc những chữ : “Châu địa giới châu Vỵ Xuyên, trấn Tuyên Quang, nước An Nam lấy sông Đổ Chú làm mốc”. ở bờ phía bắc, bài bia nhà Thanh thế này : “Huyện Khai Dương là nơi ở xa tận chân trời, tiếp giáp với nước Giao Chỉ. Xét ở sử sách nên lấy sông Đổ Chú ở phía nam phủ trị 240 dặm làm địa giới, sau vì chỗ địa giới lẫn lộn, sai quan đến tra xét, tâu lên ấn định địa giới ở núi Duyên Xưởng. Hoàng thượng ((1) Chỉ vua Ung Chính (Thanh Thế tông [1723-1735]).1) ta tu đức toả xa, nghĩ đến chức Giao Chỉ đời đời giữ lễ kính thuận, được ban chỉ ưng thuận, lại ban cho 40 dặm đất đã xét ra ấy. Bọn Sĩ Côn theo tờ lịch của viện đốc bộ giao cho nhằm ngày mồng 7 tháng 9, hội đồng với bọn Nguyễn Huy Nhuận là sai viên nước Giao Chỉ, cộng đồng bàn định lấy sông nhỏ ở phía nam đồn Mã Bạch làm mốc, tức là chỗ mà vua nước Giao Chỉ tâu gọi là sông Đổ Chú, dựng ở phía bắc sông ấy cái bia đình theo chỉ dụ giao địa giới”. Từ đó, chốn biên cương được vững bền muôn ức năm hưởng sự tốt lành không đời nào bỏ mất. Bấy giờ là năm Bảo Thái thứ 9 đời Lê, tức năm Ung Chính thứ 6 [1728] nhà Thanh. Đến đây các bia ở bờ phía nam sông ấy đổ gãy, quan tỉnh Tuyên Quang tâu lên. Vua sai sửa lại.


    Bỏ bớt nha môn Thương bạc.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây việc quản lý nha môn Thương bạc chuyển giao cho các đại thần cố cựu có công lao. Đó có lẽ cũng là tuỳ tiện, làm quyền nghi thôi. Nay ở Kinh đô hằng năm, các thuyền buôn qua lại buôn bán cũng không có mấy, mà công việc các địa phương ở ngoài đã có người coi giữ, nhà Thương bạc hầu như để không. Nếu cứ theo đặt như cũ, thì những nhân viên chức dịch ở đấy há chẳng thừa ư ? Vậy bỏ đi. Từ nay về sau, ở Kinh nếu có thuyền buôn tới, phàm hết thảy mọi việc tuần tra ra vào, đánh thuế, thu thuế, đều chuẩn cho phủ Thừa Thiên coi quản các địa phương ở ngoài, thì vẫn theo lệ mà làm. Các tờ tâu báo đều do bộ Hộ đệ lên. Còn toà nhà Công sảnh của nha Thương bạc thì chuyển cấp cho Đại lý để làm chỗ làm việc. Các nhân viên chức dịch thuộc nha ấy và đội Tuần bạc thì giao cho bộ Lại, bộ Binh chia bổ.
  • Chia sẻ trang này