0060.0031

25/12/15
0060.0031
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Nguyễn Khắc Biểu, Bố chính Bắc Ninh, bị lỗi giáng xuống 7 cấp, đổi lại giáng 5 cấp, điệu bổ làm Tri phủ Tân Thành. Dùng án sát Thanh Hoa Nguỵ Khắc Tuần, thăng thự Bố chính Bắc Ninh ; Nguyễn Văn Bính, Lang trung bộ Hộ, thăng thự án sát Thanh Hoa.


    Cho Lê Đình Dư, Tư vụ bộ Binh làm thự Đốc học Quảng Nam.


    Các địa phương từ Hà Tĩnh ra Bắc kém mưa, gạo đắt.


    Hay tin đó vua bảo bộ Hộ rằng : “Các hạt gạo đắt là vì thóc mới chưa có, thuế vụ hạ sắp tới nơi, thóc gạo ở thôn quê, tất bị những kẻ có của lũng đoạn để kiếm lợi, nên sự ăn dùng của dân không khỏi khó khăn. Nếu cứ ngồi nhìn dân kêu đói, thì kho tàng chứa đầy để làm gì ? Vậy truyền dụ cho các quan tỉnh phát thóc kho, bán giá rẻ, ai muốn vay cũng được. Duy tỉnh Sơn Tây và tỉnh Hưng Yên, thóc chứa kho chưa đủ, chuẩn cho chuyển việc bán thóc gạo ấy được làm ở Hà Nội và Nam Định”. Khi dụ tới thì giá gạo ở Nam Định lại cao thêm lên, thự Tổng đốc Đặng Văn Thiêm đem hết lý do tâu rõ để xin chỉ. (Lúc mới báo, giá gạo ở chợ 1 phương là 2 quan 1 tiền, chuẩn cho giảm xuống là 1 quan 9 tiền ; đến đây, giá ở chợ lại tăng lên 2 quan 4 tiền, chuẩn cho giảm đi 5 tiền nữa).



    Vua phê bảo rằng : “Ta muốn giữ tín thực với thiên hạ há lại thất tín với tiểu dân ư ? Sở kiến của ngươi không khỏi nhỏ nhặt. Giá càng lên cao, bán ra càng rẻ, càng tỏ lòng ta thương yêu dân đen. Ngươi nên đem ý ấy tuyên bảo cho dân đều biết. Lại ra lệnh cho các hạt Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định và Ninh Bình thóc gạo thuế vụ hạ cho dân nộp thay bằng tiền”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Gần đây nghe nói ba tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoa, được nhiều trận mưa. Còn Ninh Bình và các tỉnh giáp giới, chưa được thấm lắm. Vậy nên hạ lệnh cho bộ Hộ truyền chỉ hỏi Tổng đốc, Tuần phủ các hạt ấy, vài tuần nay đã được mưa ngọt chan hoà hay chưa, ruộng nương lúa má có bốc lên xanh tốt hay không và lúa đã nở chia vè, ngâm màu hay chưa. Cảnh sắc liệu có được mùa hay không ? Phải tâu vào ngay cho lòng ta được yên ủi”.


    Ngày mồng một, tháng 4, mùa hạ, làm lễ Hạ hưởng.


    Sai quan sửa lại phả ký họ Tôn thất. Dùng Cao Hữu Dực, thự Lang trung bộ Hình, sung làm Tổng toản tu, Lê Văn Khiêm, Viên ngoại lang bộ Hộ sung làm Toản tu.


    Sai dồn 2 cơ Bắc thuận nhất và Bắc thuận nhị ở tỉnh Bắc Ninh làm một cơ Bắc thuận (số binh hơn 500 người).


    Tỉnh Bình Định kém mưa, gạo đắt, quan tỉnh đem việc ấy tâu lên. Vua chuẩn cho dân Bình Định : thóc tô năm nay được nộp một nửa, và nộp thay bằng tiền.


    Cho Nguyễn Trọng Vũ làm Tham hiệp Quảng Nam.


    Sứ bộ sang nhà Thanh là bọn Hoàng Văn Đản, Trương Hảo Hợp và Phan Huy Chú, khi về bắt nhiều phu trạm đài đệ các đồ riêng.


    Hay tin đó vua lấy làm chán, dụ bộ Lễ rằng : “Bọn Hoàng Văn Đản, Trương Hảo Hợp, chính mình nhận mệnh lệnh vua, trách nhiệm ở việc đi sứ là phải xét hỏi cho kỹ thế mà trong bản nhật ký về việc quan sát thăm hỏi sự trạng nhà Thanh, nói chuyện đều lạo thảo sơ lược, không có một việc gì đáng xem, thực không xứng chức. Tới khi về, mua sắm của riêng gấp hai của công, dân phu đài đệ phí tổn nhiều. Vả nghĩ các trạm đêm ngày bôn tẩu nên vẫn nhiều lần gia ơn, mỗi việc cốt phải giảm bớt cho đỡ phiền. Duy sứ bộ từ Lạng Sơn đến Hà Nội, đường thuỷ không tiện, đường bộ lại khó khăn nên trước đã châm chước quy định : không kể hoá hạng công hay tư đều chuẩn cho do trạm chuyển vận. Đó thực vì thấy (sứ bộ) ở ngoài, hằng năm vất vả nên đã phải thể tình mà rộng cho như thế. Còn từ Hà Nội về Kinh, đường thuỷ đường bộ đều thuận tiện dễ dàng, phàm tất cả đồ riêng đều cho tuỳ tiện chuyển vận, không cấm. Chỉ có của công mới do trạm đài đệ, để đỡ cho trạm phải chạy. Định lệ còn đó, sao bọn kia lại dám vi phạm ? Hoàng Văn Đản mới đi sứ chưa được bao lâu, đã lựa bổ cho chức Khanh Nhị, đãi ngộ ưu hậu biết chừng nào ! Thế mà lại gian xảo, mưu lợi riêng, không trung chính, thực phụ ơn nước nhiều lắm. Vậy lập tức cách chức, giao bộ Hình bắt hỏi nghiêm xử. Trương Hảo Hợp và Phan Huy Chú đều cách chức, theo bộ ra sức làm việc để chuộc tội. án sát Hà Nội Bùi Nguyên Thọ lạm cấp tờ “dẫn văn” ((1) Dẫn văn : tờ chấp chiếu dùng làm bằng chứng để chuyển vận hàng hoá hay đồ vật trong khi đi đường.1), Bố chính Nguyễn Văn Mưu, Tổng đốc Nguyễn Văn Hiếu, cũng dự làm việc ấy, đều giáng phạt, có thứ bậc khác nhau. Và truy thu hơn 100 lạng bạc về tiền thuê mướn mà cấp phát tản mát cho các trạm dọc đường.


    Vua lại cho rằng bản nhật ký về việc đi sứ chỉ thấy ghi tên đất và số dặm đường, còn tình hình dân và công việc nước, không từng nói đến. Vậy sắc cho bộ Lễ từ nay, hễ tới kỳ đi sứ, nên truyền chỉ cho sứ thần : hỏi han dân tình được sung sướng hay bị đau khổ, trong nước có tai biến hay có điềm lành, ghi chép rõ ràng còn tên đất và số dặm đường đã có sách chép có thể khảo cứu được chẳng cần phải nói chi rườm nữa.


    Rút biền binh Thần cơ trước đây đi thú Bắc Thành trở về hàng ngũ. Theo lệ trước hằng năm, trong Kinh phái một đội Thần cơ ra Bắc thành canh giữ súng ống khí giới, mỗi năm một lần thay phiên. Đến bấy giờ chia đặt tỉnh hạt, súng ống khí giới ấy đều đã chia cấp, cho nên rút về.


    Định lại lệ nộp thuế bạc của 2 tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, cho đổi nộp bằng bạc thổ ngân.


    Hai tỉnh ấy không có thứ bạc dấu hiệu “trung bình”, từ trước đến giờ mỗi khi nộp thuế bạc, phải đi Bắc Ninh, Hà Nội, đem bạc thổ đến đổi, rất là phiền phí. Đến đây Tuần phủ Hoàng Văn Quyền đem nguyên do tâu xin. Vua hạ lệnh phái người chuyên đệ bạc thổ ngân về Kinh, giao bộ Hộ và Nội các sức cho thợ nấu đúc ; cứ 10 lạng thổ ngân thành 8 lạng bạc ròng. Vua bèn chuẩn định từ nay về sau cho 2 tỉnh ấy đổi nộp thứ bạc thổ ngân cứ 10 phần ăn 8, mà hạt khác có nộp thuế bằng bạc thổ ngân, cũng lấy đấy làm chuẩn đích. Bộ Hộ lại nói : “Chất bạc thổ ngân vừa thô vừa dày, xét nghiệm rất khó, lâu ngày không khỏi có tệ pha trộn. Vậy xin ra lệnh cho quan địa phương thông sức cho các bộ nộp thuế phải làm thành từng phiến mỏng, để tiện xét thực”. Vua nghe theo.


    Thăng Binh bộ Lang trung hiệp lý Binh tào thành Gia Định là Nguyễn Văn Điển lên thự Hiệp trấn Phiên An. Đổi bổ Lễ bộ Lang trung là Nguyễn Chương Đạt làm Tham hiệp Phiên An.


    Thuyền giặc biển Quảng Yên, khi ẩn khi hiện ở ngoài biển Vân Đồn. Bọn thổ lại mục là Phạm Đình Nghĩa và thổ huyện đầu mục là Phạm Đình Thịnh, tự đem lính hương dõng và thuyền bè đi tuần thám, gặp giặc bèn giao chiến, cha con anh em Nghĩa là lính hương dõng chết trận hơn 20 người. Sức Thịnh không chống nổi, bỏ thuyền lên bờ chạy. Bộ biền do tỉnh phái đi đều không biết gì cả. Thịnh tình nguyện xin sửa lại thuyền bè khí giới cố sức đánh để chuộc tội. Thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng đem việc ấy tâu lên. Vua bảo rằng : “Lũ Phạm Đình Thịnh trước đây săn bắt được thuyền giặc, đã xuống chỉ khen thưởng ngay là có ý muốn cho tiếp tục thu được toàn thắng, sẽ lại gia ơn ưu hậu, rộng thưởng nữa, không ngờ bọn kia nhân được sinh kiêu, đến nỗi hỏng việc, đáng lẽ trị tội nặng, nhưng nghĩ Thịnh đã tự xin bỏ của ra sửa thuyền để đi bắt giặc, muốn vì triều đình gắng sức khó nhọc, dẫu bị thua mà còn tức giận hăng hái, tình ấy cũng đáng tha. Thế là thua keo này biết bày keo khác. Vậy gia ơn cho Phạm Đình Thịnh chỉ phải phạt 80 trượng, chuẩn cho gắng sức chuộc tội. Bọn bộ biền Nguyễn Văn Thẩm chỉ mượn tiếng là đi đón đường chặn đánh rồi tuỳ tiện đậu lại một chỗ không chịu tiếp ứng, vậy cũng nên trị về tội không làm được việc. Nhưng việc bắt giặc đang cần, hãy cho tự biết ăn năn đổi lỗi. Vậy truyền chỉ nghiêm quở rồi chuẩn cho đới tội lập công. Đến như trong số những người bị chết tại trận có Phạm Đình Nghĩa, rất đáng thương, thưởng cho tiền tử tuất là 10 lạng bạc, còn các người khác thì cấp cho tiền bạc có thứ bậc khác nhau”.


    Cho thổ ty ở Ninh Bình vào chầu. Vua dụ bộ Binh rằng : “Gần đây, binh lính Ninh Thiện làm phản, sổng đến miền rừng ở Ninh Bình ẩn núp ; bọn thổ ty thoạt nghe được chỉ dụ vì việc nghĩa mà tức giận quân giặc, hợp sức với quan quân, tìm nhiều cách đón chặn, đặt kế lùng bắt. Phàm những kẻ yếu phạm và những kẻ chứa giặc đều bắt sống đưa về Kinh, trừng trị hết cách. Phép nước đã rõ, lòng ta rất vui, nên đã từng xuống chỉ khen thưởng có thứ bậc. Nay tới kỳ Vạn thọ Khánh tiết thế mà các thổ ty ở chỗ hẻo lánh xa xôi từ trước đến nay không được dự theo triều ban chúc mừng. Vậy ra lệnh cho quan tỉnh tư ngay cho các thổ ty liệu lựa lấy năm ba người, thượng khẩn do đường trạm về Kinh lạy mừng để hả tấm lòng. Nếu đường sá xa xôi không kịp tiết Vạn thọ thì vẫn có thể tiếp đến tiết Đoan dương, cũng cho dự hàng bách quan vào chầu”. Quan tỉnh bèn lựa lấy bọn Phòng ngự đồng tri Quách Công Toản, Quách Công Ôn và Quách Công Kim 3 người khi đã tới Kinh đều được thưởng cấp phẩm phục, áo quần ; đến ngày làm lễ theo triều ban vào chiêm bái, rồi cho về.


    Đổi tên điện Cụ Phục ở sau đài Quan canh làm điện Vụ Bản.


    Lê Thuận Tĩnh, nguyên Vệ uý ở vệ Tiền nhị dinh Vũ lâm, tháng trước đã có chỉ đổi làm Chưởng cơ, đến đây trong danh sách đi hỗ giá, hãy còn ghi hàm cũ. Vua cho rằng Tĩnh chưa rõ chức phận mình, bèn giao bộ Hình bàn xử, giáng làm Phó vệ uý ở Hữu vệ dinh Hổ oai.


    Vua đi tuần xem xét ở đài Trấn Hải, thấy bờ phía đông : đất cát bồi thêm, đê nhỏ bằng đá được vững chắc.


    Vua dụ Nội các rằng : Hải đài là chỗ xung yếu của Kinh kỳ bị sóng vỗ lở đã lâu, đã từng sai xây đắp thêm để thành trì được hùng tráng. Nay trông đống cát cao hơn cọc và đá, sóng kình yên lặng, chân ngao ((1) Chân ngao : Do điển trong Sử ký bổ, Tam hoàng kỷ chép Nữ Oa luyện đá ngũ sắc để vá trời, chặt chân ngao để dựng bốn chỗ cùng cực.1) chống đỡ lâu dài, thực là một trấn oai hùng ở miền biển, có thể giữ vững hàng nghìn muôn năm không gì đáng lo ngại. Sự sửa sang xếp đặt đó dẫu là do người mưu tính, nhưng phần phù hộ độ trì, thực nhờ ở sức thần linh. Vậy cho lấy hương và lụa ở trong kho Nội phủ, sai bộ Lễ sửa lễ tạ các miếu Long Vương, Phong Bá ở biển nam, để đền đáp ơn thần.


    Vua ra chơi phía sau Kinh thành, dụ rằng : “Ta xem việc xây thành, chính mắt trông thấy biền binh trổ sức, sốt sắng việc công không hề có vẻ nhọc mệt uể oải. Công việc cũng sắp xong, lòng ta rất mừng rỡ ; trước đã thưởng tiền 2 lần, nay lại gia ơn ban tiền lương 1 tháng để tỏ lòng ưu đãi khen thưởng. Bọn biền binh các ngươi đều nên cảm động hết lòng cố gắng ; phàm làm việc gì cũng chọn vật liệu cho tốt, làm cho vững bền, mong không hư phí của công, khó nhọc một lần mà được an nhàn lâu dài mãi. Về tiền ban thưởng, các viên cai quản phải giữ lòng công và chia phát, chớ có dung túng bọn lại dịch chấm mút xẻo xén một mảy nào, nếu phát giác ra, sẽ trị tội nặng thêm 1 bậc”. Tờ dụ ban xuống, bộ Hộ còn đợi đơn làm bằng, mới phân phát.


    Vua nghe biết quở rằng : “Ta nghĩ binh lính làm việc khó nhọc, nên muốn cho sớm được nhuần ơn thực sự, vậy mà lại câu nệ như thế, há chẳng là để chậm mất nhiều ngày ư”. Vậy truyền chỉ nghiêm sức phải lập tức chi tiền kho ra vận tải tới công sở, 1 viên đường quan chính tay chia cấp. Từ nay về sau có công việc gì to lớn, hễ có chỉ thưởng tiền, thì phải sai vận tải đến cấp phát ngay. Sau khi xong việc, sức cho các viên cai quản đưa đơn phê làm bằng để lưu chiểu, không được chậm trễ.


    Hoãn việc đóng thuyền ở tỉnh Gia Định.


    Vua dụ bộ Công rằng : “Gia Định phải đóng thuyền các hiệu để đưa về Kinh và bổ sung vào ngạch thiếu, cộng16 chiếc đã chuẩn cho chia làm 2 lần. Nay lần đầu đã làm được 9 chiếc, tưởng các biền binh đi lấy gỗ không khỏi có vẻ vất vả. Đã đành kẻ dưới phục dịch người trên, dẫu không dám kêu khó nhọc, nhưng cách nuôi binh lính cần nên dè dặt sức lực, cũng nên nghĩ thương. Vậy hạ lệnh cho quan thành Gia Định xét xem những ván gỗ hiện còn trữ lại và kê số gỗ nộp thuế, dù đóng mấy chiếc thuyền cũng được. Còn thiếu bao nhiêu chuẩn cho 2, 3 năm sau dần dần làm tiếp, chớ nên lại bắt biền binh lên núi lấy gỗ nữa”.


    Cho con Lễ bộ Thượng thư Phan Huy Thực là Phan Huy Vịnh được tập ấm, làm Nội vụ phủ Tư vụ.


    Hải phận Vân Sơn thuộc Thanh Hoa có giặc biển đón cướp thuyền buôn, ngày đến 3, 4 lần. Tổng đốc Lê Văn Quý phái Thuỷ sư Lãnh binh là Phạm Văn Bình đem binh thuyền đi phi sức cho Vệ uý trước phái đi tuần biển là Tô Huệ Vân kíp đến đánh bắt. Việc đến tai vua, sai truyền chỉ đốc sức nghiêm ngặt. Lại dụ cho tỉnh Nghệ An phái thêm quan quân đi hội tiễu, chưa được vài ngày, giặc lại lén lút ló ra ở hải phận ấy. Văn Quý đem tình hình đó tâu lên và nói binh thuyền tuần biển đều chưa đến kịp.


    Vua dụ quở rằng : “Giặc ấy họp nhau thành đoàn, cướp bóc luôn ngày hàng mấy lượt. Vậy phải nên sớm dập tắt đi, thế mà đã gần hai tuần còn nói binh thuyền đều chưa đến kịp. ấy là lời gì mà dám đem tâu ? Chẳng qua vì bộ biền không được người giỏi, nên lòng còn sợ sệt, không dám tiến lên, mà Lê Văn Quý người điều khiển lại không đúng thời cơ để giặc lại to thêm tội ác như thế. Vậy người phái đi trước là Tô Huệ Vân phải giáng 2 cấp, người phái đi sau là Phạm Văn Bình phải giáng 1 cấp, còn Lê Văn Quý ngươi cũng phải giáng 1 cấp. Ngày chỉ dụ này tới ngươi nên lập tức thân đến cửa biển thúc giục biền binh đi tuần ra biển đuổi bắt, cốt săn bắt hết toàn bọn giặc ấy, hoặc đánh rất dữ một trận diệt cho hết tiệt thì mới giảm nhẹ cho tội trước. Nếu cứ tạ sự chậm trễ mãi, để giặc nhân lúc sơ hở lại ló lên, thì khó tránh được lỗi nặng”.


    Chuẩn cho dân hạt Lạng Sơn và Quảng Yên được nộp thóc tô vụ hạ thay bằng tiền.


    Tiết Vạn thọ. Săc : từ nay về sau hằng năm cứ đến một ngày trước và ba ngày sau ngày lễ, phàm 5 đêm ấy, bậc thứ nhất, bậc thứ hai trên kỳ đài và trên tường về mặt trước Kinh thành mỗi đêm thắp 1.000 đĩa đèn. Nếu gặp năm có tiết Đại khánh sẽ bàn định thêm. Lại cho rằng theo trước lễ đến ngày 22 , các cửa tả Túc môn, hữu Túc môn, tả Đoan môn, hữu Đoan môn đều mở toang cả. Nay ra lệnh : từ nay, đêm hôm ấy, sau khi bắn ống lệnh, lại cứ canh giữ theo như lệ thường.


    Sai bộ Lại, bộ Binh làm danh sách tâu những quan viên văn võ ở trong Kinh và ngoài các tỉnh : trước kia nhân việc công có lỗi đã bị phân xử, ai bị phạt bổng thì được khoan miễn, ai bị giáng cấp thì sẽ chước lượng cho khai phục, ai bị cách lưu thì đổi làm giáng lưu.


    Vua ngự điện Cần Chính, Cẩm y vệ cầm giáo đuôi báo và thanh kim đao đứng hầu ở trên điện, có người dời chỗ đứng, lỗi lễ nghi. Khi bãi triều, vua sai Nội các xét hỏi quở trách phạt trượng. Sắc truyền từ nay hễ có đại lễ triều hạ, người cầm giáo đuôi báo vẫn chuẩn cho đứng hầu ở trên điện, còn các Hiệu uý cầm thanh nghi đao thì đứng dưới thềm, nếu ai sơ suất lầm lẫn sẽ trị tội nặng.


    Trong Kinh kỳ có mưa.


    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Gần đây căn cứ vào lời tấu báo của các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hoa và Ninh Bình, lúa chiêm đương lúc phơi màu vào mẩy, mong mưa rất cần, ta nghe tin để tâm vào đó lắm. Nay gặp tiết Vạn thọ, khi làm lễ xong, liền được mưa ngọt dồi dào, tiếp tới ngày nay, lại mưa đầm đìa nhuần thấm khắp cả kinh kỳ. Ơn trời thực tràn trề quá. Lòng ta mừng rỡ xiết bao. Vả, trông ra phía bắc hạt mưa còn mau, lớp mây còn dày, chắc là trận này mưa to rộng khắp, phương xa đều dư đật. Vậy truyền dụ các Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh lớn từ Hà Tĩnh ra Bắc : gần đây đã mưa hay chưa, lập tức tâu lên. Gặp ngay sớ ở Sơn Tây tâu báo có mưa, vua cả mừng, bèn sai lấy hương lụa ở kho Nội phủ giao cho đốc thần Lê Đại Cương đem làm lễ tạ ở đền thần núi Tản Viên. Rồi đó, các tỉnh lại kế tiếp báo tin có mưa.


    Vua bảo quần thần : “Mấy ngày nay các hạt liên tiếp tâu báo tình hình được mưa, đều ở sau ngay tiết mừng Vạn thọ, mưa ngọt tràn trề được đội ơn cùng ngày với kinh thành, thực là nhờ Phước trời soi xét lòng thành cầu khẩn thầm kín của ta. Sau khi vui mừng yên ủi, ta càng thêm kính cẩn cảm kích.


    Sai bọn Trung thuỷ thự Phó vệ uý Đoàn Khác, Nội vụ phủ thự Lang trung Nguyễn Tri Phương và Tư vụ Lý Văn Phức, đi thuyền Định dương sang Lữ Tống ((1) Lữ Tống (Lucon) : đảo lớn nhất trong quần đảo Philippin, thủ phủ là Mani (Manille).1) đi công cán. Liền đó Tri Phương can vào vụ làm hao hụt của công ở 2 kho các hàng sa, lĩnh và pha lê, bộ bàn xử tội cách chức. Đến khi Tri Phương đi việc công ở đường biển về, được thanh thoả cả, đặc gia ơn dùng làm Viên ngoại lang.


    Chánh đội trưởng suất đội cơ Hà Tiên là Mạc Hầu Hi được sai đi do thám nước Xiêm, chở trộm đường và gạo, bán cho Hạ Châu ((2) Hạ Châu : tức Xinhgapo2), phái viên Nguyễn Tri Phương thấy thế, khi về, đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Thành Gia Định có trách nhiệm về bờ cõi, sai người đi dò tình hình ngoài biên, cố nhiên là phải, nhưng phải dùng được người tốt thì mới có thể được việc. Nay Mạc Hầu Hi chở đầy hàng hoá, mưu toan buôn bán, thế là nặng về lo kiếm lợi riêng rồi còn đâu sốt sắng đến việc công nữa, huống hồ việc chở trộm gạo là điều quốc cấm rất ngặt, mà dám làm như thế, rất là không giữ pháp luật. Vậy sai Tổng trấn Lê Văn Duyệt, quản biền binh Nguyễn Văn Quế đợi ngày thuyền của Hi về thì bắt xích lại để xét xử. Vả hiện nay các địa phương ở ngoại quốc, giá gạo rất đắt gấp hai gấp năm, e rằng tiểu dân tranh lợi quên tội, có nhiều người chở trộm gạo đi để trao đổi, đến nỗi gần đây các trấn ở thành hạt, giá gạo ngày càng cao, là vì cớ ấy, chứ không những chỉ một Mạc Hầu Hi thôi đâu. Phải nên bí mật dò xét, nếu có kẻ buôn lậu chở trộm thì lập tức nã bắt, để trừng trị nghiêm ngặt”. Không bao lâu, Tôn Thất Mạch từ Hạ Châu về tâu nói : “Khi mới đến xứ ấy, gạo 100 cân trị giá bạc Phiên ((3) Nguyên văn là “Phiên ngân” tức là chỉ thứ tiền bạc lưu hành ở Xinhgapo bấy giờ.3) là 3, 4 đồng, chưa được vài tháng đã giảm xuống trên dưới 1 đồng”.


    Vua nói rằng : “Các đảo ở Hạ Châu đất xấu, lúa ít, gạo phần nhiều không đủ, thường thường phải nhờ ở các thuyền buôn của Gia Định và của Xiêm La cung cấp cho để ăn dùng. Nhưng nước Xiêm La mùa thu năm ngoái bị thuỷ tai, dân phần nhiều thiếu đói, thì gạo đâu mà bán cho xứ khác ? Chắc hẳn là vì thành Gia Định sơ sót biếng nhác về việc hải cấm, nên kẻ gian phần nhiều mượn cớ đi buôn, chở trộm gạo đi để trao đổi ; không thế thì đảo ấy lấy gạo ở đâu mà giá cả vội hạ xuống được như thế”.


    “Trước đây ta nghe lời Nguyễn Tri Phương nói, vẫn đã ngờ rồi, nay rõ tình hình ấy, quả thật không lầm. Ôi ! Hạt gạo, dân phải nhờ để sống, chở bán cho nơi khác, đã là không nên thế mà những hàng hoá được đổi lại không có một thứ gì là trội cả, đến nỗi coi thường pháp luật, lại buôn thuốc phiện lậu đem về mưu kiếm lợi, gieo độc cho người ta ! Thói ấy ở Gia Định lại càng quá lắm ! Vậy sai quan thành Gia Định lập tức bí mật phái nhân viên giỏi việc tìm nhiều cách thám nã và nghiêm sức cho các nơi tấn thủ, cần phải bắt được, xét rõ tình gian, tăng lên bậc nặng mà trị tội. Sau đó Mạc Hầu Hi từ Hạ Châu trở về, lại buôn thuốc phiện lậu, đi đến Hòn Tre (Trúc Dữ) sợ việc bị phát giác, bèn bí mật chuyển vận tang vật tới Cần Bọt (tên phủ thuộc nước Chân Lạp), rồi đánh đắm thuyền, giả làm bị nạn bão. Quan thành bắt tra, Hi nhận hết tội cuối cùng bị tội giảo giam hậu ((1) Tội tử hình bằng cách thắt cổ nhưng còn được giam lại để đợi nhà vua quyết định.1).


    Xây dựng 3 điện Long Đức, Chiêu Kính và Mục Tư ở nhà Thái miếu.


    Trước đây ngày giỗ Liệt Thánh ((2) Các vua chúa nhà Nguyễn.2) đều đặt nơi tế ở bên tả bên hữu nhà Thái miếu để làm lễ. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Từ xưa đặt ra nhà Tôn Miếu là dùng để cúng tế về cát lễ ; đến như ngày kỵ phải nên tiến dâng ở nơi khác, mới đủ tỏ lòng thành kính và hợp lễ. Nay chuẩn cho xây dựng điện Long Đức ở bên tả nhà Thái miếu, hằng năm gặp ngày kỵ Thái tổ Gia dụ hoàng đế và hoàng hậu thì kính bày, làm lễ ở đấy. Trước sân Thái miếu về bên tả, dựng điện Chiêu Kính, bày đủ 4 án về bên tả để làm lễ kỵ các Tiên đế và Tiên hậu. Về bên hữu dựng điện Mục Tư, bày đủ 4 án về bên hữu để làm lễ, kỵ các Tiên đế và Tiên hậu. Từ nay về sau, theo làm phép nhất định truyền mãi lâu dài.


    Quản lý 2 kho súng ống thuốc đạn là Nguyễn Tăng Minh tâu nói : “Trước đây bộ Binh có bàn chuẩn cho các hạng súng lớn bằng đồng, gang hay sắt nên dùng thuốc súng thì lòng súng ngang 1 tấc 7 phân, mỗi phát phải 1 cân (thuốc súng), lòng súng ngang 1 tấc 6 phân, mỗi phát 14 lạng. Nay cứ lời các viên quản vệ Loan giá dinh Thần cơ đều nói : khi ngự giá đi chơi các địa phương và khi có các lễ triều hạ, theo lệ bắn đại bác bằng đồng hiệu lớn, lòng súng ngang 1 tấc 6 phân, mỗi phát chỉ dùng 10 lạng thuốc súng, và hằng năm gặp kỳ thao diễn binh tượng thì bắn khẩu đại bác vũ công tướng quân bằng đồng, lòng súng ngang 1 tấc 7 phân, mỗi phát chỉ dùng 12 lạng thuốc súng. So với lời bàn trước mỗi khẩu đều giảm xuống 4 lạng, và nghiệm ra dùng thế cũng vừa. Xin từ nay hễ gặp khi vua đi chơi hay là các lễ triều hạ hoặc kỳ hội binh thao diễn, 2 hạng súng ấy, đều chiểu theo như lệ đã định”. Vua chuẩn cho làm như lời đã xin.


    Định điều lệ khảo khoá và giảng dạy của học thần thành Gia Định.


    Học trò ở thành hạt có người trải qua 8 khoá mà chưa đủ văn thể bốn trường((3) Tức là 4 kỳ thi trong một khoa hương : đệ nhất trường, đệ nhị trường, đệ tam trường, đệ tứ trường.3). Quan thành đem việc đó tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Đất Gia Định nhiều người tuấn tú, nhưng gần đây quen thói biếng nhác nên hạng học giỏi, tài hay, chưa thấy được nhiều. Song nghĩ ở thành hạt ấy văn hoá mới mở, thấm nhuần chưa sâu, điều lệ khảo khoá và giảng tập phải có một phen châm chước định lại”. Vua bèn sai bộ Lễ bàn xét, rồi chuẩn định ; từ nay, học thần ở các trấn thuộc Gia Định, cứ 3 ngày một lần giảng tập, lần nào cũng ra đủ đầu bài bốn trường, người nào chưa biết đủ thể văn nào thì bắt chuyên tập thể văn ấy rồi hội bình để nhận xét những câu đáng điểm đáng sổ, yết bảng để nêu rõ quyển hơn, quyển kém, người nào khi làm khi nghỉ sẽ bị răn dạy bằng hình phạt giáo dục, cốt sao cho bốn thể văn đều thông, rồi sau theo kỳ, luân chuyển làm bài tập để đi khảo khoá và đi hạch. Từ khoá mùa đông năm nay đến khoá mùa hạ năm [Minh Mệnh] thứ 17 [1836] cộng 8 khoá, hẵng cho tuỳ văn mà phê chuẩn, đến khoá mùa đông năm [Minh Mệnh] thứ 17 trở về sau, có ai đã trải 8 khoá rồi mà còn chưa biết đủ văn thể bốn trường, thì không được kế tiếp phê chuẩn nữa. Việc xét nghiệm các học thần chăm hay lười cũng căn cứ từ khoá mùa đông năm [Minh mệnh] thứ 17 trở về sau, theo danh sách tư lên mỗi cuối năm trong bốn năm, lấy số học trò đỗ nhiều hay ít, để bàn định việc thăng chức hoặc truất bỏ”.


    Chuẩn định từ nay phàm cử nhân, giám sinh đã được chia phái đi hậu bổ ở các hạt, nếu ai có tang đều chuẩn cho về quê lo liệu việc tang trong 3 tháng, hết hạn lại vào Kinh, do bộ cho hậu bổ.


    Dân hạt Hà Tĩnh giáp giới gần tỉnh Nghệ An, có thôn Nha Miêu nộp thuế đò, trạm Tĩnh Liêu lĩnh lương tháng, đều muốn tới Nghệ An nộp và lĩnh cho gần, nhưng Nghệ An cho là khác hạt, không chịu nhận.


    Vua nghe biết việc đó, dụ bọn đốc phủ là Tạ Quang Cự và Nguyễn Danh Giáp rằng : “Hà Tĩnh là kiêm hạt của Nghệ An, phàm việc gì nên làm hay nên sửa đổi, để có lợi cho dân, thì các ngươi nên cùng nhau bàn bạc rồi tâu lên, đợi chỉ thi hành ; thế mà bọn ngươi không thông lý lẽ, lòng còn chia rẽ địa phương, khiến cho dân có nhiều điều không tiện, ấy là lỗi ai ? Nay chuẩn cho xét xem các dân xã Hà Tĩnh, tiếp giáp Nghệ An, cho tuỳ việc khó hay dễ, tuỳ đất xa hay gần, nơi nào nên theo tỉnh nào để tiện việc đánh thuế, thu thuế, lĩnh lương, nộp thuế thì liền hội hàm bàn cho thoả đáng rồi tâu lên, đợi chỉ thi hành.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXx



    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa hạ, tháng 5. Bắt đầu đặt Thuận An tấn thủ ((1) Tấn thủ : cơ quan quân sự và thương chính đóng giữ ở bến sông hoặc cửa biển, dưới triều Nguyễn, có chức thủ ngự và tấn thủ làm việc canh phòng và coi quản.1). Trước đây vua cho cửa biển Thuận An là chỗ xung yếu về đường biển ở Kinh sư, sắc cho bộ Binh tâu bày chương trình đã châm chước bàn luận về việc giúp đỡ hộ vệ các thuyền công ra vào cửa biển. Đến đây bộ dâng lời đã bàn và xin cấp thêm tấn sở 3 chiếc sai thuyền, cộng với 3 chiếc thuyền đã cấp trước đặt thành số ngạch nhất định. Lại lấy số người ba xã (Thai Dương, Hoà Quân và An Dương) lệ thuộc khu vực tấn thủ ấy là 124 người dồn làm 3 đội Thuận An nhất, Thuận An nhị, và Thuận An tam, mỗi đội đặt một chánh đội trưởng suất đội, 2 đội trưởng. Hằng năm từ tháng giêng đến tháng 8, chia làm 2 ban, từ tháng 9 đến tháng 12, chia làm 3 ban, mỗi tháng 1 lần thay phiên, miễn cho cả thuế thân và phu diêu dịch ; còn lương gạo thì chiếu theo lệ trước mỗi năm cấp 200 phương. Phàm có thuyền công được sai phái đi làm việc quan hoặc áp tải chở hàng ra vào nơi đó, thì bọn thủ ngự và hiệp thủ, liệu bắt vát biền binh đương ban đi thuyền công hộ tống. Nếu gặp sóng gió trở ngại thì liền điều động hết cả số lính ở đó thảy đều góp sức giúp đỡ ; nếu chậm trễ để lỡ việc thì phải tội. Đến như chức thủ ngự, xin đổi dùng quan tứ phẩm, chức hiệp thủ đổi dùng làm quan ngũ phẩm, để cho nhiệm vụ được tôn trọng.


    Vua đặc cách hạ lệnh : “Chức thủ ngự cứ để như cũ, không đổi, chuẩn cho dặt thêm một chức Tấn thủ trật Tòng tứ phẩm, coi quản thủ ngự và 3 đội biền binh luôn
  • Chia sẻ trang này