0060.0032

25/12/15
0060.0032
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    với hết thảy sự vụ ở tấn sở. Văn chức thì đổi đặt 1 bát phẩm thư lại, lệ thuộc vào để làm việc, bỏ bớt chức hiệp thủ đi. Thuyền công thì làm thêm 6 chiếc thuyền nan để sự đi lại được lanh lẹ. Còn thì theo như lời bàn mà làm”. Vua lại sai làm 3 bộ neo sắt hạng lớn có đủ dây chão giao cho tấn thủ giữ lấy để dùng. Một khi thuyền công đi đến, nếu gặp sóng to gió dữ thì tấn thủ lập tức thân đem biền binh, mang cái neo sắt ấy, liệu chiều thả xuống rồi quăng đầu dây vào thuyền công để người trên thuyền này cầm nắm tuỳ tiện xoay xở giữ cho khỏi lo.


    Chuẩn định : từ nay các nhân viên được khai phục để tá bổ ((1) Tá bổ : Lấy phẩm hàm quan to mượn bổ làm chức quan nhỏ.1) và sung bổ chức hàm ngoại ngạch mà hiện đang tham dự làm việc đều chuẩn cho chiếu theo phẩm hàm mà chi lương bổng, chuẩn định này được ghi để làm lệ.


    Sai Lê Đạo Quảng, thự Tuần phủ Quảng Yên, thân đem binh thuyền đi tuần lùng bắt giặc biển.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Tháng trước giặc biển ở Thanh Hoa lén lút ló ra, ta đã xuống dụ chỉ để nghiêm ngặt đốc thúc các quan quân ở Quảng Yên và Thanh Hoa, ra biển đuổi bắt. Nhân nghĩ : phần biển Thanh Hoa không có mấy đảo lớn nhỏ, chỉ có 2 đảo Biện Sơn và Vân Sơn, thuyền bè có thể đậu được. Biện Sơn thì đã xây dựng pháo đài, cắt lính đóng giữ, bọn giặc quyết không dám đến đậu ở đấy để cầu sống tạm. Còn Vân Đảo thì đều là núi trơ trọi, không có củi nước để có thể nhờ mà sống được. Nay quân thuỷ hội tiễu, thế giặc cùng quẫn tất phải tìm sào huyệt để nương thân. Vả lại Quảng Yên liền với biển, các đảo lớn nhỏ rất nhiều ; bọn giặc tất đến đậu ở đấy. Vậy truyền dụ cho thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng lập tức nghiêm sức cho bộ biền và hương dõng tuỳ cơ đón chặn, cốt sao bắt được cả bọn tất sẽ được xét công và trọng thưởng. Nếu trùng trình sợ hãi, để nhờ đó, bọn ấy làm được sào huyệt rồi qua lại quấy rối thì cái tội không hết chức vụ còn nhẹ, mà lại sợ còn tội nặng hơn thế nữa”.


    Khi tờ dụ đến, Đạo Quảng dâng sớ xin đi. Vua khen mà ưng cho, lại dụ rằng : “Ngươi nên bày mưu kế lớn, quyết một phen đánh giết hết giặc biển, ta sẽ ban khen và hậu thưởng để khuyến khích những người hăng hái tiến lên, chịu khó cố gắng, chớ nên danh không quá sự thực, nói không đi đôi với việc làm thì tự khắc đã có phép công nghị xử, ngươi nên kính cẩn gắng sức, ta ngày ngày mong tin thắng trận đưa đến”.


    Vua dụ bộ Hình rằng : “Lũ giặc trốn là Lê Duy Lương và Quách Tất Tế, đã nhiều lần định hạn cho cho các tỉnh Thanh Hoa, Ninh Bình, Sơn Tây, Hà Nội nghiêm ngặt nã bắt, thế mà không từng bắt được một tên nào ! Vả lại Lê Duy Lương chẳng qua như con thỏ lẩn lút ven rừng tạm sống lúc nào hay lúc ấy, há có thể giấu kín hình tích mà thoát được ư ? Chỉ tại các địa phương không chịu đặt mưu bày kế sức cho các thuộc hạt lùng bắt để đến nỗi bọn giặc mới trốn tội được bấy lâu đó thôi. Nay hãy tạm miễn phân xử. Lại thêm một hạn nữa chuẩn cho các Tổng đốc, Tuần phủ nghiêm sức cho các thổ ty ở phủ huyện thuộc hạt phải hết lòng dò thám tầm nã, cốt bắt cho được bọn đầu sỏ giặc để lên án tất có trọng thưởng. Nếu không hết sức tra xét nã bắt mà tư vị dung túng giấu giếm, hễ việc phát giác, sẽ trị tội nặng. Sau đó tỉnh Nam Định săn bắt được tên giặc Vũ Đăng Huyến, nó xưng ra bọn thổ ty Ninh Bình là Quách Tất Công, Quách Tất Tại, Quách Tất Tế và Cao Hữu Biện tụ họp đồ đảng theo Lê Duy Lương mưu làm giặc. Việc đến tai vua, vua ra lệnh cách chức Tất Công, Tất Tại trước rồi giao cho Tuần phủ Hồ Hựu đặt kế tra xét lùng bắt. Hựu bèn phái Lãnh binh là Trần Hữu Lễ, cùng với Quản phủ Thiên Quan là Vũ Thế Giới đem binh đi tuần để bắt. Bọn Tất Công đều trốn, chỉ săn bắt được Quách Tự Trạch tên chưa kẻ phạm tội (Duy Lương thường ở nhà Tự Trạch). Thân đảng, tên Trạch xin đi thám bắt Duy Lương để chuộc tội. Vua đặc cách ra lệnh hạn cho 3 tháng ; hết hạn không bắt được, bèn bị giết đi”.


    Vua bảo Nội các rằng : “Ty Vũ khố và Kinh thương thuộc Nội vụ phủ trước đây, hễ có thu chi vẫn thường phải dạy bảo cặn kẽ, còn sợ lũ hư hỏng chưa chừa bỏ được thói xấu, nên lại phải nghiêm sức hơn nữa. Vậy ra lệnh từ nay, các địa phương, vận nạp của công và thóc gạo thì lập tức phải theo số mà thu nhận và vào sổ, nếu kẻ nào có ý dám sơ suất để chậm trễ mượn cớ sách nhiễu thì sẽ trị tội nặng thêm lên”.


    Cho Vệ uý Tiền vệ ở Hổ oai là Tôn Thất Tường, thăng thự Vệ uý vệ Loan giá ; thự Phó vệ uý ở Long võ Hậu vệ là Phan Văn Cửu làm Phó vệ uý vệ Định võ dinh Thần sách ; Quản phủ Quốc Oai là Trần Hữu án làm Phó vệ uý ở Tuyển phong Hậu vệ ; Vệ uý vệ Toàn võ dinh Thần sách là Nguyễn Văn Lược làm Phó vệ uý ở Tiền phong Hậu vệ ; Quản cơ cơ Tiền kiên, thuộc Tả quân là Trần Văn Thập làm Phó vệ uý vệ Toàn võ.


    Hà Thúc Lương, Bố chính Nghệ An, vì làm việc tầm thường quá, bị giáng làm Viên ngoại lang bộ Hộ. Điều thự Tả thị lang bộ Công là Trần Văn Trung đi làm thự Bố chính Nghệ An.


    Trần Văn Đản, Tham hiệp Hà Tiên, can vào vụ án nguyên Hiệp trấn Nguyễn Hựu Dự xâm phạm xẻo xén tài sản của kẻ phạm tội. Đản phải cách chức, giao cho quan thành Gia Định tra xét nghĩ xử. Dùng Lang trung bộ Lại là Trần Văn Quán làm Tham hiệp Hà Tiên, thăng Bạch Xuân Nguyên làm Viên ngoại lang Nội vụ phủ lên thự Lang trung bộ Binh hiệp lý Binh tào ở thành Gia Định.


    Thự Bố chính Hải Dương là Hoàng Tế Mỹ vì bị lỗi, giáng luôn nhiều cấp, bèn ra lệnh cách chức, phải theo bộ Lễ ra sức làm việc để chuộc tội. Cho Nguyễn Công Trứ Lang trung Nội vụ, thăng thự Bố chính Hải Dương. Điều Nguyễn Đình Tân thự Lang trung bộ Công đi làm thự Lang trung Nội vụ phủ.


    Sai quan đi thanh tra công việc ở Nội các.


    Vua cho rằng Nội các là chỗ tập hợp các việc cơ mật phải nên kiểm xét cho kỹ hơn, bèn sai đường quan Lục bộ là Lê Đăng Doanh, Phan Huy Thực, Trương Minh Giảng, Nguyễn Trung Mậu, Nguyễn Tú, Hà Duy Phiên, đem ty viên trong bản bộ mỗi bộ 3 người khảo xét công việc ở Nội các như : tấu, sớ, văn thư, bản đồ, sổ sách, ấn tín từ năm Minh Mệnh thứ nhất [1820] đến nay. Rồi đó, vì thấy bộ Hình có nhiều việc, bèn chuẩn cho Hà Duy Phiên trở về bộ ; dùng Phủ thừa Trương Phước Đĩnh lên thay. Kịp khi bản sách thanh tra đã xong, dâng lên. Vua thưởng cho các quan đổng lý và nhân viên giúp việc cấp bậc, kỷ lục kim tiền, ngân tiền, có thứ bậc khác nhau, các quan ở Nội các lần lượt bị giáng và bị phạt vì phạm sai lầm.


    Đóng thuyền Nhân thọ.


    Sắc cho Thống chế Nguyễn Tài Năng làm theo mẫu mực của bộ đưa ra cốt cho được khéo để Thái hậu dùng đi chơi.


    Xây đắp bờ phía đông nam sông Ngự (1 đoạn giáp chỗ cầu, hơn 65 trượng).


    Lại thu thuế khai mỏ vàng các kim ở Bắc Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên và Tuyên Quang. (Mỏ Phong Thường thuộc Bắc Ninh, mỗi năm nộp thuế vàng 6 lạng, mỏ Suất Lễ và Nông Đồn thuộc Lạng Sơn, mỗi năm nộp thuế vàng 5 lạng và đưa bán vàng cám 5 lạng, 2 mỏ Đồng Bộc, La Sơn mỗi mỏ hằng năm nộp thuế vàng 5 lạng, đưa bán vàng cám 4 lạng ; mỏ Thượng Pha Hạ Pha thuộc Cao Bằng, mỗi năm nộp thuế vàng 4 lạng, đem bán vàng cám 4 lạng ; mỏ Thuần Mang thuộc Thái Nguyên mỗi năm nộp vàng sống từ 5 đến 8 tuổi 11 lạng ; mỏ Kim Hỷ 12 lạng, mỏ Bảo Nang, mỗi năm nộp vàng sống 8 tuổi 6 lạng ; mỏ Sảng Mộc nộp 7 lạng ; mỏ Niêm Sơn và Quan Quang thuộc Tuyên Quang, mỗi năm nộp thuế vàng 4 lạng và đưa nộp vàng cám 50 lạng. Nông Đồn, La Sơn và Thượng Pha Hạ Pha 3 mỏ mới khai, còn đều là mỏ cũ).


    Sắc sai các quan tỉnh : cứ hạn trong một năm, hoặc 3 năm, xét xem mỏ nào có khí vàng bốc lên thì đặt thêm ngạch thuế. Tỉnh Tuyên Quang lại cho rằng mỏ Tiên Kiều giáp liền với tỉnh thành, xin thuê mộ người Thanh lấy thử xem. Vua sai bộ Hộ lựa định cách thưởng. Lại đưa thể lệ ban thưởng ấy cho các tỉnh Hưng Hoá, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn : hễ ai khai thác được thì chiếu theo lệ ấy mà thi hành. (Hạn 15 ngày mỗi người được trả công làm thuê là 3 quan tiền, đãi được vàng cám từ 1 đồng cân 3 phân đến 1 đồng cân 9 phân cũng được, nếu không đầy 1 đồng cân thì lần sau làm bù. Đãi được từ 2 đồng cân trở lên thì thưởng bạc 3 đồng cân ; đãi được 3 đồng cân trở lên thì thưởng bạc 8 đồng cân ; đãi được 4 đồng cân trở lên thì thưởng bạc 1 lạng ; đãi được 5 đồng cân trở lên thì thưởng bạc 1 lạng 5 đồng cân; đãi được 6 đồng cân trở lên thì thưởng bạc 2 lạng ; đãi được 1 lạng trở lên thì thưởng bạc 4 lạng).


    Đắp lại thành đất Tuyên Quang. Thành ở núi đất bờ phía tây, sông Tam Kỳ, trước đây đắp luỹ bằng đất, chỉ tuỳ theo thế núi lệch lạc và chật hẹp mà đắp quanh, đến đây Tổng đốc Lê Đại Cương, xét xem địa thế, bàn với thự Tuần phủ Nguyễn Hữu Khuê, tâu xin nhân cũ mà thêm rộng ra : 2 mặt trước sau đều 55 trượng, 2 mặt tả hữu đều 65 trượng, đằng trước mặt và bên tả bên hữu có 3 cửa. Trước hết hãy đắp thành đất, để đất rắn chắc, rồi sau mới xây đá ong. Ngọn núi đất ở trong thành sửa lại cho bằng phẳng, dời hành cung đến dựng ở đấy. Đằng trước xây kỳ đài và vọng lâu. Phía trước kỳ đài sẵn có cái hồ cũ, nay đào lại cho vuông. Bên tả về phía trước, dựng dinh Tuần phủ, về phía sau dựng 2 toà kho tàng, bên hữu ở phía trước dựng dinh án sát, phía sau dựng 2 toà khám đường và nhà ngục.


    Vua dụ rằng : “Những điều nghĩ ấy đều đã phải rồi. Duy thành còn hơi hẹp, bốn mặt nên mở rộng thêm, đều đủ trên dưới 70 trượng. Nếu hình thế chỉ như vậy mới đẹp thì cũng chuẩn y lời xin, không cần phải gượng gạo cốt ở một chữ “phải” mà thôi.


    Lê Đại Cương Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên tâu nói : “Thuế mỏ và thuế sơn ở tỉnh hạt, nguyên chưa có thợ để xét màu sắc, xin tư đòi các thợ sơn và các thợ nấu vàng, bạc, đồng ở hạt bên là Hà Nội và Bắc Ninh cho lệ thuộc dưới quyền để phân phái”.


    Vua bảo bộ Công rằng : “Kể một tỉnh đã rộng, nhân dân đã nhiều, há không có người sung vào làm thợ, nay lại muốn lấy người hạt khác đến, chỉ là thêm việc, sao không nghĩ các đồ vật nhà dân thường dùng từ trước đến nay tìm kiếm ở đâu, mà vẫn không thiếu ?”. Vậy truyền dụ : “Từ nay về sau, các hạt ở Bắc Kỳ, hễ hạt nào không có ngạch thợ vàng, bạc, đồng, sắt, sơn, thì cho chiểu theo công việc nhiều ít mà chiêu mộ thợ để có thường số, miễn trừ cho họ không phải đi lính và dao dịch. Lúc có việc thì cấp cho tiền, gạo, để chi dùng ; lúc không việc thì thôi, cốt cho không thiếu người làm việc, kỹ nghệ đều tinh, không được lấy nên không có mà cầu xin (lấy thợ).


    Ngày Bính thìn, vua thân hành đi cày ruộng tịch điền.


    Nước Chân Lạp sai sứ đến tiến cống. Khi sứ đến tỉnh Gia Định, vua sắc cho miễn vào Kinh, ban cho Phiên vương tờ sắc thư và lụa hoa, còn sứ thần thì ban bạc lạng, rồi cho về.


    Ra lệnh cho bộ Hình : “Từ nay phàm các tù phạm nhân là phụ nữ mà bị án xử làm nô tù, thì châm chước nghĩ cấp cho các nhà quan võ bậc cao : ở Kinh thì từ Thự Thống chế trở lên, ở các tỉnh ngoài thì từ Tổng trấn và thự Tổng đốc trở lên, chứ không cần phải phát phối”.


    Mở kỳ thi đình. Vua sai thự Tiền quân là Trần Văn Năng sung làm Giám thí đại thần, Thượng thư bộ Lễ là Phan Huy Thực, Tả tham tri bộ Binh là Lê Văn Đức, Tả tham tri bộ Hộ là Trương Đăng Quế và Phủ doãn Thừa Thiên là Đỗ Khắc Thư sung làm việc đọc quyển, Thiếu khanh Đại lý là Nguyễn Công Hoán, Lang trung bộ Lại là Phạm Thế Hiển, sung làm việc nhận quyển và duyệt văn. Cho : Phan Trước và Phạm Sĩ ái đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân ; Nguyễn Văn Lý, Đỗ Quang, Phạm Bá Thiều, Vũ Công Độ, Nguyễn Tán và Phạm Gia Chuyên đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân.


    Đổi bổ Cai đội là Phạm Phú Quảng làm thị vệ bậc ba, vẫn coi quản Thượng trà viện.


    Những án kiện vua giao cho bộ Hình, phần nhiều để chồng chất đọng lại.


    Vua sai Nội các truyền chỉ : từ đường quan đến tư viên phải chia ra từng phần tra xét mà làm, hạn trong một tháng thì xong, nếu trái lệnh sẽ phải tội.


    Thuỷ sư do Kinh phái đi chuyên chở đồ vật ở kho Bắc Kỳ, trước đây nhiều lần bị trở ngại vì ngược gió, đến đây cả đoàn thuyền đã tới Kinh được trót lọt yên ổn. Vua khen đặc biệt chuẩn cho quản vận là Đoàn Văn Suất, thực thụ Vệ uý vệ Hậu thuỷ Thuỷ quân và thưởng cho 2 tấm sa màu.


    Triệu thự Hiệp trấn Bình Thuận là Lê Nguyên Trung vào Kinh.


    Điều bổ : án sát Nam Định là Lê Dục Đức, làm án sát Hà Nội, thự án sát Hà Nội là Bùi Nguyên Thọ làm thự án sát Nam Định.


    Công việc xây đắp Kinh thành đã xong.


    Vua bảo Nội các rằng : “Kinh sư là nơi khởi đầu giáo hoá mà Kinh thành lại càng quan trọng lắm. Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, sau khi bình định được cả nước, sửa sang gây dựng, quy mô rộng mở, ta kính nối nghiệp trước để chí noi theo. Ta nghĩ đi nghĩ lại mãi : có khó nhọc một lần mới được nhàn rỗi lâu, bèn để ý xếp đặt mưu tính lần lượt, đem hết thảy công trình xây dựng Kinh thành, đều sửa sang xây đắp lại cho thêm mới. Từ tiền công đến vật liệu trước sau đã chi đến hơn trăm nghìn vạn. Số tiền tiêu ấy thực không hạn lượng được. Nay toàn cục đã xong, công việc đã hoàn thành cả, thành trì bền vững, truyền lại hàng ức muôn năm, lòng Trẫm thực rất vui mừng. Vả lại công trình rất to, mà bọn văn, võ, quân lính đều biết sốt sắng làm việc công. Đã đành tôi con phục dịch dẫu không dám ngại khó nhọc, nhưng quân vương thì để tâm đến, có phần chỉ thương hơn mãi. Vậy nên rộng ra ơn lớn, để yên ủi công lao tốt. Các viên đổng lý về mặt hữu là Trần Văn Năng, Tống Phước Lương, Phan Văn Thuý, Nguyễn Văn Xuân, về mặt sau là Nguyễn Văn Trọng, Phạm Văn Lý, Đỗ Quý, Tôn Thất Bằng mỗi người được thưởng 2 tấm sa. Những chưởng cơ quản vệ kiêm coi 2 mặt về phía sau và phía hữu, cũng thưởng mỗi người 2 tấm sa. Và từ đổng lý đến suất đội, cộng hơn 130 người, đều thưởng kỷ lục 1 thứ, còn 9.500 biền binh, đều thưởng tiền lương 2 tháng. Lại sai những người phần việc dựng nhà rạp, bày yến tiệc 3 ngày ở phía đông ngoài thành, từ đổng lý đến suất đội chia làm 3 ban, theo ngày đến dự đông đủ. Đường quan bộ Binh lần lượt đi tuyên chỉ, ban yến và xem tuồng 3 ngày. Biền binh cũng ban cơm rượu, để được cùng vui. Còn biền binh xây đắp sông Ngự, dẫu không khó nhọc như thợ xây thành, nhưng cũng có chút công lao, vậy chuẩn cho ăn một bữa.”


    Dân Mán Mục Đa Hán ở phủ Lạc Biên sai sứ đến cống. Vua ra lệnh cho tỉnh thần Nghệ An khoản đãi rồi cho về.


    Sai Nguyễn Đình Tân là thự Lang trung và Trần Chấn là Thị lang ở Nội vụ phủ cùng giữ ấn quan phòng của Nội vụ phủ ; Nguyễn Vân Tiềm là thự Lang trung và Đặng Đức Thiệm là thự Thị lang ở Vũ khố cùng giữ ấn quan phòng Vũ khố. Từ nay về sau, 2 nha ấy hễ có thăng bổ Lang trung hay thự Lang trung, đều theo lệ này.


    Phủ Thừa Thiên có dân xã Dương Sơn (thuộc huyện Hương Trà) mê hoặc đạo giáo Gia tô đã lâu, xây nhà thờ, thờ thiên chúa, suy tôn người Tây dương là Phan Văn Kinh làm đạo trưởng, họp nhau giảng đạo cầu kinh. Việc phát giác. Quan phủ [Thừa Thiên] gọi cả đến công đường khuyên bảo lại đến hai, ba lần, rút cục vẫn không có một người nào chịu bỏ đạo. Vua giao xuống bộ Hình bàn xử. Bộ xin kết án tên thủ phạm là lý cựu Phạm Văn Khoa phải tội giảo giam hậu ((1) Giao giam hậu : tội bị thắt cổ nhưng còn được giam lại, đợi vua quyết định.1), tòng phạm là lý trưởng Trần Văn Tài bị tội mãn lưu ((2) Mãn lưu : tội bị đày xa hơn 3.000 dặm và phải làm việc khổ dịch trong 10 năm (theo Từ nguyên).2), Vũ lâm phó đội là Trần Văn Sơn bị cách chức, cùng với 13 người lính, đều bị đóng gông 1 tháng, khi mãn hạn phải đánh 100 trượng, rồi phân phát đi làm lính ở các nơi Quảng Ngãi, Thanh Hoa. Ngoài ra đàn bà đàn ông ở dân ấy bị đánh roi, đánh trượng rồi tha. Đạo trưởng Phan Văn Kinh thì tâu xin xử tội giảo giam hậu, đợi lệnh, nhà thờ đạo thì dỡ đi. Lời nghị tội ấy dâng lên, vua cho được giảm : Trần Văn Tài phát vãng sung quân ở Trấn Ninh, Phan Văn Kinh vì là người ngoại di ở phương xa, chưa thuộc pháp độ, được gia ơn cho làm lính ở phủ Thừa Thiên, nhưng bị quản thúc nghiêm ngặt hơn không cho ra ngoài để truyền giáo. Còn các binh lính là bọn Trần Văn Sơn, những ai đi Quảng Ngãi, gọi là “Phục nghĩa binh”, những ai đi Thanh Hoa, gọi là “Phục hoa binh” để phân biệt với các hạng lính khác.


    Miễn lệ phụ tiến lễ cúng vào những ngày kỵ. Theo lệ trước gặp những ngày kỵ ở Hưng miếu và điện Phụng Tiên, các hoàng tử, các công, tôn nhân phủ và văn võ trăm quan đều có phụ tiến con sinh để làm lễ.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Cần bộc ((1) Cần : Tức là rau cần, một vật nhỏ mọn, cũng đem kính dâng để tỏ lòng thành. Bộc : phơi nắng. Đời nhà Tống có người thôn quê phơi lưng ra nắng, thấy ấm, muốn đem hiến cái ấm ấy cho vua. Cần bộc, ý nó tôi con tỏ lòng tôn kính bề trên bằng vật cụ thể, mặc dầu vật ấy nhỏ mọn tầm thường.1) kính dâng, cố nhiên là lòng thành thực của đạo tôi con tôn kính người thân, nhưng đối với ngày thường thì nên, chứ đến việc phụng thờ ở Tôn miếu thì lễ nghi thống thuộc ở người tôn trưởng há được đem của riêng mình lạm dự tiến dâng ! Vậy nên thôi đi.


    Vua ra chơi ở nhà Lương tạ ((2) Lương tạ : Nhà nghỉ mát.2), lại đi tuần du Trấn Hải đài, ngày hôm sau trở về; sắc sai : từ nay vua có đi chơi ở cung Khánh Ninh, hoặc tới nhà Lương tạ ở sông Hương, cách Kinh thành không xa, thì các cửa ở cung thành, hoàng thành, kinh thành, đều chuẩn cho mở đóng như thường. Nếu khi đi chơi đài Trấn Hải, cửa biển Tư Dung ở Thuận An và địa phận Cao Đôi, Phù Bài, thì các cửa ấy khi bắt đầu vào canh phải đóng, đến khi tan canh thì mở. Việc này ghi để làm lệnh.


    Trong Kinh kỳ ít mưa, vua sai Kinh doãn cầu đảo ở miếu Nam hải Long vương, trời liền mưa. Sửa lễ để tạ.


    Lúa chiêm ở Nam Định được mùa to. Quan tỉnh đem việc ấy tâu báo lên.


    Vua phê bảo : “Trước đây nghe nói giá gạo cao, ta càng sớm khuya chăm lo hết sức : vừa bán thóc vừa cho vay. Nay nhờ trời tựa dân yên, được mùa, ta đây vui mừng khôn xiết, lại càng cảm kích kính sợ. Hơn nữa, toàn hạt đều được mùa, thật là hiếm có, ta cùng thần dân một phương các ngươi đều vui mừng. Các hạt ở Bắc Kỳ vụ chiêm này cũng được mùa nhiều, giá gạo hơi hạ, dân chúng đều muốn đình chỉ việc bán thóc và cho vay. Những người đã vay đều trả sòng phẳng. ở Nam Định, Ninh Bình, nộp thuế thóc gạo về vụ hạ, trước đã có chỉ cho dân nộp thay bằng tiền, đến bây giờ đều muốn nộp thóc gạo như cũ”.


    Vua khen là dân chuộng nghĩa, bèn làm thơ để ghi chép việc ấy, đưa ra cho quần thần xem và dụ rằng : “Bắc Kỳ từ cuối nhà Lê trở về sau, lòng người khinh bạc ; 30 năm nay, về thanh danh giáo hoá mới được thấm khắp, tưởng rằng đến đời con cháu ta mới được trông thấy cái công hiệu dạy dân nên tục tốt ấy, không ngờ ngày nay, phong tục đã thuần lại, đó cũng là một cơ hội thịnh trị”.


    Quan tỉnh Hà Tĩnh tâu xin đem những dư dân ((1) Dư dân : dân ngoại tịch không thuộc vào hạng nào trong sổ hộ tịch.1) và dân xiêu tán mới về ở các thôn xã thuộc hạt, mà chưa lựa điểm làm lính thì chiếu theo lệ 7 người lấy 1, chọn bổ làm lính kho.


    Vua ra lệnh : “Lựa chọn 1 đội lính ở dinh Thần sách, sung làm việc ở kho chứa. Từ nay đến kỳ thanh tra sẽ thay đổi khác, còn số dư dân và dân xiêu tán mới về ở các xã thôn, phải theo lệ chọn điểm để sung bổ vào ngạch giản binh hiện thiếu ở các vệ”.


    Định lệ phân xử các giản binh ở thành Gia Định đi trốn và thiếu.


    Giản binh các trấn ở thành hạt, nguyên ngạch có hơn 5.400 người, mà số thiếu đến hơn 890 người. Quan địa phương xét từng thành, phân từng số, khi nghĩ xử, có phân biệt với các quản suất, nhưng từ trước tới nay chưa có thành lệ. Quan thành tâu xin nhà vua sắc sai bộ bàn kỹ chương trình, để cho quân chính được nghiêm túc. Vua bèn chuẩn định bắt đầu từ mồng 1 tháng 6 năm nay cứ 3 tháng 1 lần, gọi lính điền vào, đủ hạn 1 năm, nếu số còn thiếu thì phân biệt ra mà khép tội. (Các trấn, phủ, huyện, trong 1 năm, về số thiếu đều lấy 10 phần làm mức : số thiếu không đủ 3 phần thì được miễn nghị, nếu thiếu đến 4 phần thì phạt 40 roi, rồi cứ mỗi phần lại phạt thêm lên một bậc, tội chỉ đến phạt 80 là cùng, theo lệ bị tội về việc công mà giáng hay phạt, lại hạn 6 tháng bắt phải gọi người ra lính cho đủ ngạch. Đối với các viên quản suất cũng chiếu theo lệ trong 1 năm, nếu để trong đội để trốn đến 10 người, thì suất đội phải 30 roi, cứ mỗi 5 người lại phạt thêm lên một bậc, trong cơ để trốn đến 80 người, thì phó quản cơ phải 30 roi, cứ mỗi 40 người lại phạt thêm lên 1 bậc, mà tội chỉ đến 90 trượng là cùng, theo lệ bị tội về việc công mà giáng hay phạt. Gián hoặc [có những trường hợp] đã trốn lại ra thú, mới điền vào lính chưa chi lương mà bỏ trốn ngay, trước khi tới ban ((2) Tới ban : nguyên văn là “đáo ban” , như nay nói “nhập ngũ”.2), đã bỏ trốn từ lúc ở quê quán, hoặc ở dọc đường : đều được tính chiết trừ đi để giảm tội).


    Quan tỉnh Ninh Bình tâu nói : “Ruộng đất huyện Kim Sơn thuộc hạt Ninh Bình, nay tới kỳ bắt đầu thu thuế, dân sở tại đều nói : trong khoảng đồng ruộng có nhiều khe, ngòi, đường sá chưa được chiết trừ, cũng có chỗ giảm thiếu nguyên số, xin cho đo đạc hết cả lại một lần, xét chỗ nào hiện cấy lúa, thì ghi là ruộng tư chỗ nào trồng cói thì ghi là đất tư trồng cói, đều đánh thuế theo lệ định, gián hoặc có thiếu hụt nguyên số, và khe, ngòi đường sá thì trừ đi, rồi cứ theo sự thực làm thành sổ, sách, để đặt thành ngạch.


    Vua chuẩn y lời tâu.


    Truy luận tội Nguyễn Văn Thuỵ nguyên Bảo hộ Chân Lập.


    Trước đây, Lê Văn Duyệt, Tổng trấn Gia Định, sai Hình tào Vũ Du đi dò xét tình trạng dân Phiên ((1) Phiên : đây là dùng chỉ Chân Lạp.1). Du về nói dò được việc Nguyễn Văn Thuỵ, khi lĩnh chức Bảo hộ, ngày thường bắt dân Phiên đi lấy gỗ táu đem nộp mà không cấp tiền và gạo, lại bắt dân Phiên làm việc tư, sửa đắp đường cái, để đưa đám chôn cất vợ. Duyệt đem hết tình trạng ấy tâu lên. Vua ra lệnh tịch thu gia sản và giao xuống bộ Hình nghiêm ngặt nghị tội, rồi lại sai đình thần bàn xét lại. Đến đây bản án dâng lên. Vua dụ rằng : “Nguyễn Văn Thuỵ đã được uỷ cho trọng trách bảo vệ biên cương, thế mà không biết tuyên dương đức hoá, vỗ yên dân chúng ngoài biên, lại dám sinh sự nhiễu dân, gây nhiều suối tệ ! Huống chi Thuỵ lại cùng kẻ bị tội trảm quyết là Trần Nhật Vĩnh dối trá giấu giếm mọi việc dựa nhau làm điều gian, tội ác rất nặng, nếu con người ấy còn sống thì ta cũng cứ giữ lòng chí công làm đúng hình pháp, chém đầu để bêu cho mọi người biết. Nay Thuỵ đã chết rồi, lại nghĩ ngày trước hãy có chút công lao ở Vọng Các, lòng Trẫm không nỡ, vậy gia ơn chỉ truy giáng Thuỵ xuống hàm Chánh ngũ phẩm và đoạt lại chức tập ấm của con hắn, duy cáo sắc tặng phong cha mẹ thì được miễn theo. Còn tang vật mà Thuỵ đã sách nhiễu dân Phiên thì phải truy ra rồi lấy gia sản kẻ phạm tội ấy mà truy cấp cho dân Phiên”.


    Nhân đó vua sai Lang trung bộ Công là Lê Hựu đem sắc thư sang nước Chân Lạp, tuyên dụ vua Phiên, nói cho biết rằng, đối với việc viên Bảo hộ Nguyễn Văn Thuỵ quấy nhiễu dân, triều đình đã trị tội rồi, vương nên kính cẩn giữ lễ phiên phục, chớ bận lòng vì một viên chức hư hỏng.


    Vua Phiên dâng biểu nói : “Năm trước có việc đi lấy gỗ táu đem nộp thì dân Phiên đã lĩnh tiền và gạo của nhà nước cấp rồi. Vậy tha thiết xin đình chỉ việc cấp cho nữa”. Vua dụ bộ Lễ rằng : “Nước Chân Lạp đứng hàng phiên thần, việc ta xếp đặt sự nghi có quan hệ đến quốc thể không nhỏ. Vũ Du vâng mệnh đi dò la, không xét đưa nguyên uỷ đích xác, đột nhiên về báo rất là sai lầm, vậy trước hãy cách chức ngay, rồi giao bộ Hình bàn xử. Nguyễn Văn Thuỵ dẫu không can vào việc này, nhưng sai dân Phiên làm việc riêng, sửa mộ đắp đường, cũng là đáng tội, vậy cứ chuẩn y nguyên án. Vả Vũ Du khi đi dò xét, không đúng sự thực thì phải giao ngay bàn xét để trừng phạt. Còn các điều mà Nguyễn Văn Thuỵ đã phạm, điều gì không có thì phải vì hắn mà làm cho sáng tỏ ra, còn điều gì có thực thì cũng không coi nhẹ mà tha được, đó là ta đã cân nhắc nặng nhẹ, giữ lòng rất công, vốn không có ý làm hơn làm kém ở trong đó. Vậy khi đưa tờ dụ này cho thành Gia Định, rồi sao chép ra, cấp cho con Nguyễn Văn Thuỵ được biết”. Sau đó, bộ Hình nghị xử Vũ Du vào tội đồ, nhưng vua đặc cách cho cách chức, phát đi Cam Lộ gắng sức làm việc để chuộc tội.


    Trần Thái Tín, Lang trung bộ Binh biện lý công việc biên cương ở thành Nam Vang, cậy thế, mưu toan việc riêng bị giáng cách chức.


    Bắt đầu đặt Liêm huyện, lệ thuộc phủ Trấn Ninh, tỉnh Nghệ An.


    Dân Man thuộc nước Vạn Tượng có đất Mường Hiểm tiếp giáp với Xôi huyện, tình nguyện xin phụ thuộc vào nội địa [nước ta, ta mới] đặt làm Hiểm huyện, cho theo vào Trấn Ninh, mà cung đốn, đóng góp thuế khoá (dân số 130 người, mỗi năm mỗi người nộp thuế 2 đồng cân bạc). Quan tỉnh đem việc đó tâu lên. Vua sai đổi là Liêm huyện. Đối với Man trưởng Tạo ((1) Tạo, phìa cũng như lang đạo, đều là kẻ cầm đầu dân thiểu số, bóc lột họ về kinh tế và áp bức họ về chính trị.1), Mường, ban cho họ là Hiệu, tên là Lương, bổ chức thổ Tri huyện ; đối với Xiển A Hiên, ban cho họ là Thiện, tên An, bổ chức thổ Huyện thừa.


    Vua cho rằng các chủ thủ và viên dịch ở Nội vụ phủ, làm việc khó nhọc muốn biểu dương để tỏ ý khuyến khích, bèn sai quản lý Trần Chấn xét người nào siêng năng giỏi giang thì tâu vua nghe. Kịp khi tâu lên, vua đặc cách cho bọn Chủ sự Hồ Vĩnh Trinh 12 người được thăng thụ hoặc thực thụ.


    Quy định kiểu mẫu và cách thức các cung miếu, dinh thự công xưởng và nhà công từ tỉnh Quảng Trị ra Bắc.


    Bộ Công bàn tâu cho rằng từ trước đến nay các địa phương phàm có xây dựng chỗ nào đều là việc tới nơi mới trù tính, trong đó có lớn, bé, rộng, hẹp, không đều. Nay đã chia đặt tỉnh hạt, sắp xếp mới mẻ cả. Vậy xin châm chước đặt thành quy chế sẵn để tỏ rõ có sự nhất trí. Hạt nào đã có hành cung, miếu vũ, xưởng công, nhà công rồi thì cứ như cũ, còn từ nay hễ có xây dựng thì theo mẫu mới mà làm.


    (Hành cung 1 toà 3 gian 2 chái và bốn mái, chung quanh bề ngang 3 trượng 6 thước, 6 tấc, dài 5 trượng 5 thước, 1 tấc.


    Dinh Tổng đốc theo cách thức như dinh Thượng thư. Lục bộ ; sảnh đường 1 toà, 3 gian, 3 chái, bề ngang 3 trượng, 1 thước 3 tấc ; bề dài 4 trượng, 5 thước, 9 tấc; nhà bếp 1 ngôi 2 gian, 2 chái, ngang 1 trượng, 5 thước, 5 tấc, dài 2 trượng 2 thước, 6 tấc.


    Dinh Bố chính và án sát theo như dinh Tả, Hữu tham tri Lục bộ ; dinh Tuần phủ lĩnh Bố chính cũng như thế, sảnh đường 1 toà, 3 gian, 2 chái, 2 trượng, 5 thước, 3 tấc, dài 3 trượng, 8 thước, 2 tấc ; nhà bếp 1 ngôi 1 gian, 2 chái, ngang 1 trượng, 5 thước, 7 tấc, dài 1 trượng, 6 thước, 4 tấc.


    Nhà viên dịch 2 ty Bố chính và án sát cũng như nhà các tả hữu ty viên thuộc Lục bộ : nhà ở 1 toà, 5 gian, ngang 2 trượng 3 thước, dài 3 trượng 1 thước, 5 tấc.
  • Chia sẻ trang này