0060.0036

25/12/15
0060.0036
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Hàn, cửa Bạng, mỗi chiếc 1 người lái và 12 thuỷ thủ ; phái thêm 1 suất đội và 12 biền binh thuộc trấn đều tới cửa Biện, liệu đem thuốc đạn súng ống chứa ở đấy. Thuyền phu ăn mặc giả làm thuyền đánh cá và thuyền buôn phóng ra ngoài khơi, qua lại bên ngoài các đảo. Nếu gặp thuyền giặc, một mặt tuỳ cơ hội tiễu, một mặt phát hiệu thông báo đến nơi tấn sở và thuyền quan đi tuần tiễu kíp đến để tiếp ứng. Còn người lái và thuỷ thủ của thuyền tấn sở đã vát đến đều được miễn thuế và cấp lương tháng, mỗi năm bắt đầu từ thượng tuần tháng 2 đến thượng tuần tháng 7 thì thôi. Lại xin sắc cho bộ Binh lựa bổ vào ngạch thiếu ở cơ Hữu thuỷ để sung vào việc điều bát.


    Vua dụ rằng : “Trong tập trình bày phần nhiều đúng với cơ nghi. Đoàn Văn Trường và Nguyễn Đăng Giai các ngươi có kiến thức khá, rất đáng khen. Những việc xin ấy điều chuẩn cho thi hành, duy một việc bổ lựa quân thuỷ thì giao bộ Binh bàn cho thoả đáng”. Sau đó chuẩn cho trích lấy 1 vệ ở danh sách thuộc tỉnh Thanh Hoa, làm cơ Hữu thuỷ ở Thanh Hoa chuyên chịu trách nhiệm về việc đi tuần ngoài biên để bắt giặc. Rồi sức khắp cho thuộc hạt mộ lính lập cơ Hữu thuỷ, không kể người bản hạt hay khác hạt hễ ai mộ được 25 người thì bổ đội trưởng ; 50 người thì bổ cai đội. Nếu đủ 10 đội, dồn thành 1 cơ thì bổ quản cơ. Hạn trong một năm mộ cho đủ số. Còn vệ binh đã trích ra lại cho rút về hàng ngũ trước. Lại sai bộ Công trích cấp cho 5 chiếc thuyền Điện hải ngoại ngạch nhanh nhẹn ở Kinh, thuyền trước đây bắt được của giặc rồi đóng lại, chuẩn cho làm thuyền ngạch ngoại ở tỉnh Thanh Hoa. Trước đây, vua cho rằng tỉnh Thanh Hoa, việc tuần phòng khẩn cấp thế mà cơ Hữu thuỷ còn thiếu, hỏi bộ Binh nên lấy binh ở đâu để sung bổ. Có người muốn điều lính ở Kinh, có người muốn vát lính tinh nhuệ. Vua bảo rằng binh sĩ cốt ở chế ngự phải đường, chứ không phải Kinh binh có thể trông cậy mà tinh binh không thể trông cậy được đâu. Đầu niên hiệu Gia Long, Kinh binh ở Bắc Thành không có mấy, một khi có giặc nổi lên, đem tinh binh đi đánh cũng đủ bình định được. Năm trước, giặc Vành quấy nhiễu, [triều đình] phái Kinh binh ra nhưng vì lười biếng rụt rè, cũng bị bất lợi. Xem đó thì biết cốt ở sử dùng ra sao mà thôi ?


    Dùng Vệ uý ở Tuyển phong Hữu vệ dinh Thần sách là Tô Huệ Vân làm Vệ uý cơ Hữu thuỷ Thanh Hoa.


    Chủ thủ 2 kho súng ống và thuốc đạn kiểm thu diêm tiêu mới chế ở Bắc Thành, mượn cớ làm khó dễ. Việc phát giác, quản lý Lang trung là Phan Đình Sĩ, có dự vào việc xét nghiệm bị giáng cấp đổi đi, kiêm quản Thống chế là Nguyễn Tăng Minh, không biết soát lại, bị giáng 2 cấp. Nhưng được lưu ở lại, không chuẩn cho chống cãi.


    Cho Viên ngoại lang bộ Binh Trần Khắc Thiện làm thự Lang trung bộ Binh hiệp đồng quản lý công việc 2 kho súng ống và thuốc đạn.


    Thượng thư bộ Binh, hưu trí, gia làm Hiệp biện đại học sỹ là Nguyễn Đăng Hựu chết.


    Vua nghĩ Hựu là lão thần kỳ cựu, truy tặng là Hiệp biện đại học sỹ, chiếu theo lệ Tòng nhất phẩm, cấp cho tiền tuất, ban thêm cho 2 cây gấm Tống, 10 tấm lụa, 20 tấm vải, 300 quan tiền và ban 1 tuần tế. Con Hựu là Nguyễn Đăng Du, tuổi còn nhỏ ra lệnh cho đợi đến sau này trưởng thành sẽ do bộ Lại đề đạt tâu lên để đợi chỉ.


    Ngô Bá Nhân đóng giữ đồn Châu Đốc, bảo hộ nước Chân Lạp, nghĩ xin đổi lại tên các làng ấp mới lập, dùng ấn triện bảo hộ làm thành tập tấu dâng lên.


    Vua cho là việc làm không hợp nghi, truyền chỉ ban quở. Sắc : từ nay về sau, nếu có việc trọng đại, nên kêu thẳng, mới được dùng tập tấu, còn thì phải do thành tâu lên cho hợp sự thể.


    Bọn thị vệ Lê Văn ý vâng lệnh phái đi địa phương Gia Định, Hà Nội làm việc công, mượn cớ trùng trình ở lại, hơn 3, 4 tháng chưa về. Vua sai cách chức bắt xích lại giao bộ Binh nghị tội nghiêm ngặt, tất cả đều bị đóng gông một tháng, khi mãn hạn, bị đánh 100 hồng côn, phát đi làm lính ở viện Thượng tứ. Quản viên là Vũ Văn Giải và Nguyễn Trọng Tính vì không biết răn bảo bị giáng 4 cấp nhưng được lưu lại. Rồi chuẩn định : từ nay phàm thị vệ được sai phái đi đâu, giấy cấp của bộ nên ghi rõ kỳ hạn hành trình. Khi xong việc, gần thì hạn dăm ba ngày, xa cũng không được quá mười ngày đều phải về Kinh tâu trả lời ngay. Nếu chậm trễ quá hạn thì chuẩn cho viên cai quản và quan địa phương chỉ rõ tên mà hặc tâu, nếu vì tư tình ẩn giấu sẽ có tội.


    Hữu Thị lang bộ Binh biện lý Binh tào thành Gia Định là Đào Đức Lung làm việc tầm thường. Vua dụ sai quan thành xét thực tâu lên. Quan thành tham hặc tâu nói Lung uể oải lề mề không làm nổi việc.


    Vua ra lệnh lập tức cho giải chức, về Kinh đợi chỉ. Sau đó lại phát giác ra việc Lung lén sai binh lính tán luyện thuốc súng để bù vào số thiếu ở trong kho, cuối cùng Lung bị cách chức.


    Cho hiệp lý Binh tào thành Gia Định là Bạch Xuân Nguyên làm Lang trung bộ Binh, thự Hữu thị lang biện lý Binh tào; thự Lang trung bộ Binh là Nguyễn Tử Cư làm hiệp lý Tào vụ.


    Quốc vương nước Chân Lạp là Nặc Chăn muốn xây đắp thành bằng gạch và dựng chùa thờ phật để thờ mẹ, nhưng còn sợ tiếng tăm, dùng dằng chưa quả quyết.


    Vua nghe biết sai bộ Binh truyền dụ cho quyền lĩnh ấn Tổng trấn thành Gia Định là Nguyễn Văn Quế cùng các tào thần làm tờ tư, đại lược nói : “Đặt thế hiểm yếu để giữ nước, từ xưa đều thế cả ; và hiếu với mẹ cũng là việc nên làm, chỉ xét về tình lý, làm được thì làm việc gì phải nghi ngại. Từ nay về sau, nếu có việc gì giống như thế, cho phép cứ làm, không phải tư hỏi quan ở thành làm gì”.


    Chưởng Tả quân, lĩnh Tổng trấn thành Gia Định Lê Văn Duyệt chết. Truy tặng Tá vận công thần, Đặc tiến Tráng võ tướng quân, Tả quân Đô thống phủ, Chưởng phủ sự, Thái bảo, Quận công, thuỵ Uy Nghị. Ban cho 10 cây gấm màu, 10 tấm nhiễu màu, 3.000 quan tiền, trước hãy ban một tuần tế, đến ngày an táng lại cho một tuần tế nữa.


    Rồi đó, sắc cho hai vệ Tả bảo nhất và Tả bảo nhị thuộc Tả quân đồn thú ở thành Gia Định rút về hàng ngũ ở Kinh, vệ Minh nghĩa rút về tỉnh Quảng Ngãi, chia bổ vào 6 cơ Tĩnh man, còn lính trước ở cơ An thuận thì cứ cho lưu lại liệu bổ vào các đội Tả sai, Tả thuận, đợi sau khi an táng Lê Văn Duyệt xong thì về Kinh. Bọn thuộc binh, viên tử, hào mục của Duyệt thì sung bổ vào chân khuyết trong cơ đội ở thành, ai muốn về quê quán thì giao sở tại ghi vào sổ để chịu sai dịch.


    Cho Nguyễn Công Trứ làm Bố chính Hải Dương.


    Định lại thể lệ đình nghị.


    Vua dụ rằng : “Phàm người đã dự vào đình thần đều là chân tay tai mắt của ta, phải nên đồng lòng làm việc nước, họp mọi trí khôn lại làm nên bức thành, nếu còn có ý kiến đổ lẫn cho nhau thì sao xứng đáng với trách nhiệm đã giao phó ? Từ nay hễ có việc giao cho bàn luận ai nấy phải theo lệ trước, văn võ đều từ dưới trở lên, theo thứ tự mà nói, một niềm giữ lòng công bằng trung chính, chớ có trông nhau hoặc a dua hoặc đun đẩy và không được vô cớ mà không đến dự ở toà công, nếu gặp việc quan trọng, thì nên hội đồng công cộng, cùng nhau bàn định, mười phần kỹ càng, rồi sau mới tâu lên. Nếu có ý kiến dị đồng thì cũng cứ ghi cả vào trong tập tấu, đợi chỉ định đoạt, không nên ồ ạt phụ hoạ ; còn việc tầm thường thì cứ hiện tại mà bàn tâu, chớ nên chờ đợi thành ra chậm trễ. Lại nữa khi có chỉ sai phái bàn ngay tức thì theo như lệ trước, hạn là 5 ngày ; còn các việc khác cũng không được quá 10 ngày. Nếu có khó khăn, mới chuẩn cho xin gia hạn”.


    Sai bộ Lễ tư cho các địa phương hỏi kỹ trong hạt mình xem có ai hiểu về nghề viết, chữ viết già dặn, chân phương, thì không câu nệ là có tên ở sổ dân hay không, tức thì cấp dẫn đến Kinh, do bộ sát hạch tâu lên, sẽ liệu cho lục dụng. Từ nay về sau cứ theo thế mà làm.


    Định thêm lệ cấm vài cửa cung thành.


    (Cửa chính giữa điện Cần Chính là chỗ vua ra ngự để nghe triều chính, mới chuẩn cho Nội giám theo hầu ra vào, sau khi lui chầu, tức thì đóng lại. Nội giám không được do cửa ấy ra vào nữa ; rồi phái Cẩm y Hiệu uý, hoặc Đội trưởng cùng thị vệ, đều 1 người ; thường xuyên canh giữ. Cửa Tả Xương điện ấy ban ngày, theo lệ thường, mở ra, đêm đến, canh một sau khi bắn ống lệnh, lập tức đóng lại, tan canh mới mở. Ban đêm, nếu có chỉ truyền, mới được mở cửa ; nhưng phái một Cẩm y Đội trưởng, 5 lính thay phiên canh giữ. Còn Quản vệ đương ban, tuần tra không cẩn thận thì cùng tội như nhau).


    Tuyên Quang và Thái Nguyên đệ nộp thuế bạc.


    Bộ Hộ tâu xin thử luyện bạc ở các mỏ thuộc Tuyên Quang, cùng 2 mỏ Cảm Lạc và Khiếu Nương thuộc Thái Nguyên, thấy sắc bạc khá tốt, vậy chuẩn cho 10 lạng bạc thổ ngân thì ăn 9 lạng bạc ròng. Hai mỏ Nhân Sơn và Phước Sơn thuộc Thái Nguyên là hạng thứ nhì cứ 10 lạng chỉ ăn 8 lạng, 5 đồng cân. Sắc cho 2 tỉnh từ nay hễ dân hạt đem nộp bạc thổ ngân đúng như hạng ấy, thì chiếu theo đó mà tính thu ; nếu hơi kém thì cứ lời bàn trước, theo lệ 10 lạng ăn 8 lạng.


    Giảm bớt quản phủ và án thành ở 2 phủ Tĩnh Gia và Diễn Châu ở Thanh Hoa, Nghệ An.


    Trước đây, 2 phủ đã xây đắp thành đặt ra quản phủ và án thành mỗi chức 1 người, đều đối chức hàm Thần sách Vệ uý mà làm việc quản phủ và án thành. Đến bấy giờ chuẩn định từ nay về sau, ở tỉnh có phái vệ nào đến đồn thú thì chỉ giao cho 1 viên quản vệ đóng giữ, chuyên việc cầm phòng trộm cướp ; còn mọi việc kiện tụng thuế khoá, đã có Tri phủ và phủ đồng tri, người quản vệ không được can dự.


    Lại sắc cho các biền binh đóng giữ, mỗi năm một lần thay phiên vẫn cứ theo số lính hiện tại làm 2 ban, những ai đương ban thì hằng tháng được cấp lương gạo, từ nay làm thành lệ.


    Lê Đan Quế, thự án sát Nghệ An, vì chồng chất can phạm nhiều án, bị giáng đến 5 cấp. Vua sai lập tức cách chức, cho về tuỳ thuộc bộ, ra sức làm việc để chuộc tội.


    Bộ Hộ tâu nói : “Hằng năm, 2 kỳ về tháng 6 và tháng 12, các địa phương sửa sổ sách về thuế khoá đinh, điền, tiền, thóc và các sản vật, thường thường chậm trễ. Vậy xin bàn định : từ nay về sau tới hai kỳ ấy cứ đến cuối tháng phải làm thành sổ sách theo thứ tự rồi nhằm ngày mồng 5 tháng sau thì phái ặê lên, những tỉnh đường đi hơi gần như Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam và Quảng Ngãi, hạn đến ngày mồng 8, những tỉnh đường xa lắm như : Hà Tiên, Lạng Sơn và Cao Bằng, hạn đến ngày 25 ; còn từ Bình Định trở vào Nam, Hà Tĩnh trở ra Bắc đều hạn đến trung tuần hiện phải đã có ở Bộ. Nếu không đúng hạn thì bị tham hặc trừng trị nghiêm ngặt”. Vua y theo.


    Bắc Kỳ có gió bão. Đê xã Bạch Sam và Hoà Khê (2 xã thuộc huyện Duy Tiên) thuộc Hà Nội bị vỡ.


    Quan Đê chính là bọn Nguyễn Văn Quyền và Nguyễn Hữu Gia phi tâu lên vua.


    Vua dụ rằng : “Tháng trước, nước sông bỗng lên to, thường xảy ra tình hình nguy hiểm, rồi lạiđược yên ổn, thế là nguy mà lại yên, ta đã phê bảo cố gắng hơn lên. Nay, nước lụt đã xuống đến hơn 3 thước dẫu có mưa to gió dữ cũng không nguy hiểm như trước, cớ sao vụt chốc xẩy ra như thế ? Há chẳng phải là do Đê chính và quan địa phương sở tại, nhân thấy trước đó đã không việc gì, nên vội trễ nải, không chịu ngày đêm ở chỗ làm đê ấy để chuẩn bị phòng giữ, mới đến nỗi vì sao lãng mà sinh tai vạ chứ đâu có thể đổ cho gió mưa không phải sức người làm nổi được. Phương chi về việc phòng đê, ta ngày đêm lo nghĩ đã lâu, chứ không phải chỉ trong một sớm một tối. Đã đặt nha môn đê chính để có chuyên trách, lại không quản tiếc phí nhỏ đối với việc lớn, nên đã ra lệnh cho bồi đắp các đê lớn nhỏ đều cao bội và dày thêm để mong đê được bền chặt. Đê Bạch Sam và Hoà Khê này chẳng qua là những đê nhỏ mà lại để đến nỗi hỏng việc ! Vậy há lại đổ cho chất đất không chắc được ư ?


    Vua bèn sai Cẩm y Cai đội, mang cây hồng côn, đi ngựa trạm ra để trách phạt nặng bọn đốc hộ Phó quản cơ Trần Xuân Giảng, còn quan Đê chính và phủ huyện sở tại đều trước phải giáng cấp rồi cách lưu. Trừng phạt thứ bậc khác nhau.


    Vua lại nghĩ : “Duy Tiên và Kim Bảng 2 huyện ở trong đê, những dân bị tai nạn, nếu đợi khám xét báo trình không khỏi kéo dài hàng tuần ! Vậy dụ cho Bố chính Nguyễn Văn Mưu chở nhiều tiền, gạo không cứ trai, gái, già, trẻ, người nào rất nghèo thì cấp cho mỗi người tiền 1 quan, gạo 1 phương. Còn người nào nghèo vừa thì cấp cho một nửa”. Chưa được bao lâu nước lụt càng lên to, chỗ vỡ lại rộng thêm : các huyện bên cạnh đều bị hại cả. Vua lại sai Bố chính, án sát chia nhau đi 3 huyện Phú Xuyên, Thượng Phước, Thanh Trì và các tổng miền dưới các huyện : Thanh Oai, Hoài An, Sơn Minh cấp cho khắp cả cũng như trên đây. Từ tỉnh Ninh Bình ra Bắc chỗ nào báo có nạn bão cũng chuẩn cho tuỳ theo tình hình bị hại nặng nhẹ mà chẩn cấp.


    Khi nước lụt đã rút, vua còn nghĩ đến nỗi đau khổ của dân, lại truyền dụ cho các tỉnh, xét rõ tình trạng dân gian tâu lên. Tỉnh Hà Nội liền đem việc dân khó khăn về lương thực mà tâu lên. Vua bèn sai phát thóc kho 40.000 hộ, bán ra và cho dân nghèo vay. Lại vìt hấy thóc lúa mất mùa, nên đối với thóc tô thu vào mùa đông ấy, vua chuẩn cho các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên và Ninh Bình được chiết nộp nửa bằng tiền, còn một nửa cho hoãn lại. Nam Định được chiết nộp cả bằng tiền và thóc gạo năm trước còn đọng thiếu đều cho triển hạn phải nộp.


    Cho Nguyễn Thảng, nguyên Hiệp trấn Bình Hoà, làm Tả thị lang bộ Công.


    Quyền lĩnh ấn Tổng trấn thành Gia Định Nguyễn Văn Quế và các tào thần, tâu nói:


    “Thành hạt từ năm Minh Mệnh thứ 10 [1829] đến cuối tháng 4 năm nay, số khách do thuyền nhà Thanh chở đến rất nhiều, thế mà các trấn đăng vào sổ nộp thuế không có mấy. Vậy xin từ nay hễ thuyền nhà Thanh đến buôn bán, khi mới vào cửa biển, viên tấn thủ phải căn cứ vào số người trên thuyền là bao nhiêu, làm thành 3 quyển sổ điểm mục, chua rõ họ, tên, quê quán : một quyển nộp quan địa phương sở tại, 1 quyển để ở thành, 1 quyển đưa về bộ để lưu chiểu. Tới ngày thuyền về, lại xem số người đưa về là bao nhiêu, làm sổ điểm mục, do sở tại sao ra đưa cho viên tấn thủ dùng làm bằng mà xét nghiệm rồi cho đi. Còn những khách ở lại thì ra lệnh cho bọn bang trưởng, lý trưởng phải kiểm tra số hiện còn ở lại, phân biệt hạng người có với hạng người không có vật lực rồi hội lại làm sổ hàng bang, theo lệ thu thuế. Rồi cứ thời thường xem xét, hễ thấy còn sót thì báo ngay quan trên tiếp tục ghi vào sổ. Nếu dám dụng tình dung túng giấu giếm thì chiếu luật “ẩn lậu dân đinh” mà nghĩ xử. Quan địa phương và bọn tổng mục sơ sót không xem xét, cũng đều khép tội”. Vua cho là phải.


    Nước Xiêm La sai sứ sang báo tang vương thứ 2 nước ấy.


    Khi sứ đến Hà Tiên, bọn Nguyễn Văn Quế ở Gia Định đem việc ấy tâu lên, đợi chỉ cho tiến đi hay bắt dừng lại.


    Vua dụ rằng : “Việc làm của nước ấy năm trước, về tình nghĩa đối với láng giềng, có nhiều điều không tốt, ta đã đưa thư trách hỏi, rất là xác đáng thiết thực, nhưng đã lâu chưa thấy Phước đáp. Nay lại chỉ sai sứ đến cáo phó, trong đó ý hướng thế nào, há nên bỏ qua không hỏi ; Nguyễn Văn Quế các ngươi ngày tiếp sứ giả đến thành, tức thì uỷ cho tào thần là Đặng Chương và Bạch Xuân Nguyên trách hỏi sứ giả những việc như quân trưởng nước Vạn Tượng, vì sao từ trước tới nay chưa thông báo về việc hội nghị sách lập của nước ấy, và tên quan võ phạm tội là Sũng Sam đã bị trị tội hay chưa. Hai việc ấy không thấy nói đến mà chỉ nói có một việc cáo tang là cớ sao ?”.


    Lũ Chương đem việc ấy hỏi sứ giả, sứ giả nói : “Nước Vạn Tượng kho tàng chưa đầy đủ, dân chưa ở yên chưa tiện chọn người để lập, đến như tên Sũng Sam đã bị xử cách chức rồi, vả lại, vương thứ 2 trong nước vừa chết, vua Xiêm lo nghĩ rất nhiều, nên trước sai sứ sang báo tang, còn 2 việc kia chưa kịp nhắc đến”.


    Lũ Quế cứ theo lời ấy tâu lên. Vua bảo bộ Lễ rằng : “Vẫn biết kẻ kia chẳng qua nói nhún để cho đẹp lòng đấy thôi ! Chỉ nghĩ nước ấy hiện đang có tang, gặp nhiều tai nạn, tình cũng khá thương ; vậy đối với việc trước, chưa nên vội trách”. Vua bèn chuẩn cho sứ giả vào Kinh yết kiến và hậu thưởng rồi cho về.


    Lại sai Lang trung bộ Lễ là Nguyễn Hữu Thức sung làm Chánh sứ, Chủ sự bộ Binh là Trần Văn Toản sung làm phó sứ, sang viếng. Khi bái từ để đi, vua triệu vào bảo : “Sứ thần có trách nhiệm chuyên đối, lũ ngươi đi chuyến này, nên hỏi nước Xiêm về tội của tên Sũng Sam. Trong khi bàn luận các ngươi nên lấy nghĩa mà trách. Nếu họ biết nhận lỗi thì đã là làm tròn sứ mệnh, không nhục đến mệnh lệnh của vua, rồi không cần phải trách bỏ quá khắt khe để giữ lấy thể diện cho nước”.


    Đặt ty Văn hàn thuộc Dưỡng Chính đường (ty có 30 người, cho mộ dân ngoại tịch sung bổ).


    Dựng quân sá thủ hộ ở ngoài quách tại các cửa chính đông, tây nam, chính tây và chính bắc Kinh thành.


    Quân Lê Đạo Quảng thự Tuần phủ Quảng Yên đóng ở vạn Trà Cổ thuộc Vạn Ninh, dò thám biết tên tướng giặc Chung á Phát cùng tên phạm trốn là Nguyễn Bảo bị bộ biền nhà Thanh tuần tiễu tầm nã, phải trốn miền biển Bạch Long Vỹ và Trúc Sơn, Quảng thân đốc binh thuyền tiến đến núi Đông Chàng. Hai chiếc thuyền lớn nhỏ của giặc tiến lên đón đánh. Quân ta xung kích, Nguyễn Bảo đi chiếc thuyền nhỏ chạy thoát. Quảng vẫy cờ cho quân đến thẳng đầu thuyền lớn để ngăn chặn, lại bao vây cả 2 bên tả hữu. Phạm Đình Thịnh thổ mục Vân Đồn, nhảy sang thuyền giặc, chém tên á Phát trước. Binh dõng, thừa kế, chém luôn 15 đầu, bắt sống 9 tên, còn các tên giặc khác nhảy xuống biển chết. Tờ trạng tâu bày việc ấy đến tai vua.


    Vua dụ rằng : “Lê Đạo Quang, trước đây xin đem binh ra biển bắt giặc, nay quả biết điều khiển trúng cơ nghi được trận thắng này, việc bắt giặc thực là xuất sắc. Ta rất khen. Về việc giáng cấp đã ghi ở dưới tên Quảng nay cho khai phục hết cả. Phạm Đình Thịnh, trước đây vì quen mui thắng trận, đến nỗi hỏng việc, nay đi đầu trổ sức chém tên tướng giặc thì công có thể bù được lỗi. Vậy chuẩn cho khoan miễn tội trước, và lại thưởng thụ Tòng cửu phẩm thổ lại mục. Còn các viên biền binh dõng đi trận này thì thưởng chung cho 1.000 quan tiền. Rồi ra lệnh rút binh về”.


    Cho biền binh ở đội Thường trực lục và ở hai đội Ngân sang nhất, Ngân sang nhị thuộc vệ Cẩm y về Gia Định thăm nhà. Hạn đến kỳ vận tải sang năm phải tề tựu vào hàng ngũ ở Kinh. Rồi chuẩn định từ nay về sau, cứ ba năm về thăm nhà một lần, chuẩn định này được chép để làm lệnh.


    Thự án sát Quảng Bình là Vũ Thân bị bệnh cho nghỉ việc tỉnh, ở ngoài điều trị. Cho Lang trung bộ Hộ Nguyễn Bá Thân quyền lĩnh án sát Quảng Bình. Rồi chuẩn cho Vũ Thân được nguyên hàm, về quê nghỉ ngơi điều dưỡng.


    Sai các quản viên của thân binh, cấm binh và tinh binh ở Kinh xét các suất đội thuộc dưới quyền, xem ai đã có tuổi nhưng hơi thông sự lý có thể làm nổi chức thủ ngự thì làm thành danh sách, do bộ tâu lên, xét chỗ nào thiếu sẽ lựa bổ.


    Cấp thuốc đạn cho biền binh ở Kinh tập bắn súng điểu sang (từ Quản vệ đến Suất đội mỗi người 24 phát, biền binh vệ Cẩm y, vệ Loan giá dinh Vũ lâm, dinh Long võ, dinh Hổ oai, dinh Thần cơ, dinh Tiền phong, vệ Ban trực, các bảo ((1) Các bảo : tức là Trung bảo Trung quân, Tiền bảo Tiền quân, Tả bảo Tả quân, Hữu bảo Hữu quân, Hậu bảo Hậu quân (Tham khảo : Khâm định Đại Nam Hội điển sự lệ, quyển 138 Binh bộ).1) và đội Giáo dưỡng mỗi người 12 phát).









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXxIII



    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa thu, tháng 9, đặt lệ về lễ đón xuân ở các địa phương.


    Vua dụ bộ Lễ rằng : “Các địa phương, về việc cày tịch điền nuôi tằm, đã chuẩn cho theo lời bàn của bộ mà thi hành. Nhưng nghĩ : việc làm trâu đất và Mang thần, bản ý là muốn chăm sóc việc gốc khuyến khích nghề nông, ở Kinh đã làm trước thì các địa phương cũng nên thi hành một thể cho phù hợp với lễ đời cổ. Vậy bộ Lễ ngươi nên tiếp tục để tâu lên”.


    Các quan bộ Lễ bèn tham khảo điển lễ nhà Thanh xem xét lễ đón xuân của các tỉnh trực lệ, nghĩ xin lấy ngày lập xuân, tháng 12, năm nay bắt đầu cử hành. Vua y theo.


    (1. Hằng năm, nhằm ngày Thìn sau tiết Đông chí, Tổng đốc, Tuần phủ, Trấn quan sở tại sai ty Chiêm hậu hội đồng với cục Công tượng lấy đất nước ở phương Tuế đức ((1) Tuế đức : đức thần (thần tốt, trái với hung thần) trong một năm, thí dụ năm Giáp, năm Kỷ, đức thần ở phương Giáp tức là phương đông ; năm ất, năm Canh, đức thần ở phương Canh, tức là phương tây; năm Bính, năm Tân, đức thần ở phương Bính tức là phương nam ; năm Đinh, năm Nhâm, đức thần ở phương Nhâm, tức là phương bắc ; năm Mậu, năm Quý, đức thần ở phương Mậu, tức là trung ương (theo Hiệp kỷ biện phương thư dẫn trong Từ nguyên).1), nặn một con trâu đất và một vị Mang thần, còn cốt trong và hình ngoài làm theo thể thức trong Kinh.


    2. Trước kỳ lập xuân chọn nơi lập đàn, trông hướng đông, ở ngoài quách phía đông tỉnh thành hoặc trấn thành trước tiết lập xuân một ngày, để trâu đất, Mang thần ở đàn ấy và đặt án ở sảnh thự. Đến ngày lập xuân thì Tổng đốc, Tuần phủ, Trấn quan dẫn các văn võ thuộc quyền đều đội mũ mặc áo thường triều, đem trâu đất và Mang thần tới đàn làm lễ đón xuân. Rồi lại mang về dinh thự, đốc, phủ, trấn quan đứng trước sân cầm roi đánh con trâu đất ấy 3 cái, để tỏ ý khuyến khích việc cày ruộng, đoạn để yên ở trong công đường. Từ đấy, hằng năm, khi lễ đón xuân đã xong, thì đem trâu đất và Mang thần năm trước chôn ở chỗ đất sạch sẽ).


    Dùng Tả thị lang bộ Công Nguyễn Thảng làm Hiệp trấn Bình Thuận, thăng Lang trung bộ Công Đoàn Văn Phú làm thự Tả thị lang bộ Công.


    Tổng đốc Ninh - Thái Nguyễn Đình Phổ và thự Tuần phủ Thái Nguyên Trần Thiên Tải, hội hàm tâu nói : “xã Nga My (thuộc huyện Hiệp Hoà) và thôn Ngọc Long (thuộc huyện Tư Nông) là chỗ địa đầu hai tỉnh giáp nhau, đều là nơi xung yếu, xin cho đều dựng đồn trại, phái lính đóng giữ, để tiếp ứng lẫn với nhau”. Vua chuẩn y.


    Đổi bổ Vệ uý vệ Hậu nhị dinh Vũ lâm Lê Phước Bảo làm Chưởng cơ, thự Thần sách Trung doanh Thống chế. Thăng : Chưởng cơ Hoàng Đăng Thận lên thự Thống chế, vẫn lĩnh viện Thượng tứ, Chưởng cơ Hồ Văn Khuê lên thự Thống chế, quản lý các viện, các đội các thự : Thị vệ, Thượng trà, Thượng thiện, Kim sang, Dực võ, Hoà thanh, Tài hoa và Thanh bình là Bùi Công Huyên được thực thụ Chưởng cơ, coi quản các đội Trường trực, Thường trực thuộc vệ Cẩm y. Thăng Phó vệ uý ở Hữu vệ dinh Hổ oai là Lê Thuận Tĩnh lên Vệ uý, kiêm coi quản các ty Dực bảo, Lý thiện. Cho thự Vệ uý vệ Tả thuỷ thuộc Thuỷ quân là Nguyễn Văn Sáng làm Vệ uý vệ Trung thuỷ.


    Thăng Phạm Đình Bảo, Vệ uý sung Lãnh binh Sơn Tây, lên thự Chưởng cơ sung Lãnh binh tỉnh Thanh Hoa.


    Bộ Lại dâng sớ xin cho những nhân viên hậu bổ vì bị giáng hoặc phải điệu được tá bổ chức hàm Hàn lâm viện làm việc ở bộ Lại.


    Vua không nghe, sắc từ nay, phàm những nhân viên bị giáng truất, tất phải đợi khuyết mới đề bổ ; nếu trong năm không có chỗ khuyết cho phép làm bản tâu kể rõ, nhược bằng không nhận được đặc chỉ, không chuẩn cho tá bổ.


    Bắt đầu đặt viện Đô sát. ở viện đặt chức tả, hữu Đô ngự sử, ngang với Thượng thư Lục bộ, tả hữu Phó đô ngự sử ngang với Tham tri Lục bộ. Những thuộc viên trong viện như Lục khoa Cấp sự trung và Thập lục đạo ((1) Xem 16 đạo sẽ trình ở phần cước chú dưới đây.1) Giám sát ngự sử, trật đều Chánh ngũ phẩm lục sự một người, trật Chánh thất phẩm ; Thư lại Chánh bát, cửu phẩm đều 4 người, Thư lại vị nhập lưu 20 người.


    Vua cho rằng ty Đài hiến ((1) Đài hiến : chỉ toà Ngự sử có những quan chức làm việc can ngăn, đàn hặc.1) có quan hệ đến phong hoá kỷ cương, bèn sai đình thần bàn định chương trình. Đình thần cho rằng : “Đặt ra chức ngôn quan, từ xưa đã có, trải các đời Hán, Đường, Tống đến Minh, Thanh, đời nào cũng có mặt, tên gọi không giống nhau nhưng cốt yếu là làm nhiệm vụ kiểm soát và đàn hặc. Xét hội điển của Bắc triều quy chế về chức đài hiến, đến đời Thanh mới đủ. Triều đại ta tự có chế độ riêng không giống với điển lễ nhà Thanh. Vậy xin cho dựa vào đó mà châm chước, điều gì nên làm thì dùng. Rồi kể rõ từng điều khoản, tâu lên”.


    (1. Về chức vụ chia nhau để giữ : tả hữu Đô ngự sử giữ việc chỉnh đốn chức phận của các quan, để nghiêm phong hoá đúng phép tắc. Tả hữu Phó đô ngự sử xem xét làm việc trong viện và là phó phụ của tả hữu Đô ngự sử được giao cho những việc trình bày đều phải đàn hặc việc trái. Các ngôn quan ở khoa đạo đều lệ thuộc vào đấy. Lục sự thì thuộc dưới quyền Viện trưởng, giữ các công việc bao phong chương sớ và văn thư. Chánh bát cửu phẩm thư lại và Vị nhập lưu thư lại đều theo làm việc. Đối với chính sự triều đình việc được, việc hỏng nếu có biết thực thấy rõ thì cứ thực tâu bày. Đối với việc lợi hại đến sự sinh sống của dân, chỗ nào nên làm, chỗ nào nên đổi, thì tuỳ việc mà bày tỏ lên. Đến như các việc cơ mật quan trọng, cho phép tâu bày sự thực, niêm phong kín dâng lên. Đối với những tờ chương tấu của nha môn các bộ, các viện đã được phụng chỉ và chiếu thư ban xuống, nếu việc gì quả thực chưa tiện thi hành thì cứ điều mình đã biết tâu bày thẳng thắn, không được giấu giếm. Gặp các lễ tiết về đại tự hay trung tự ((2) Đại tự : lễ cúng tế to. Trung tự : lễ cúng tế vừa.2), nếu thấy có những thiếu sót như làm thịt con sinh không được sạch sẽ, không cung cấp muông sinh và lụa cúng, trái lệnh cấm giới trong kỳ, phải giữ chay tịnh, không chịu đến ở nhà trai giới, lỗi nghi thức làm lễ, vô cố bỏ vắng không dự : đều phải hặc. Chỗ triều hội yến hưởng, trong số quan chức lớn bé, có ai lấn vượt ban thứ, nói năng ồn ào, uy nghi không nghiêm túc đều phải hặc.


    Hoàng thân quốc thích các quan lớn nhỏ ở trong kinh hoặc ngoài trấn, có việc gì không công bằng, không giữ phép, dối trá, bưng bít, chuyên quyền, đều phải tham hặc.


    Các quan chức trong Kinh và ngoài trấn có thực trạng là tham hay liêm, tốt hay xấu : đều cho phép xem xét phân biệt, tâu lên, các đại thần đề cử và bổ dụng người và chương sớ các nha môn trong ngoài, dâng lên hễ thấy không phải làm vì công tâm : đều được hặc tâu.


    Thi Hương, thi Hội nếu có sự ngấm ngầm chạy vạy đút lót gửi gắm cũng phải hặc.
  • Chia sẻ trang này