0060.0037

25/12/15
0060.0037
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Phàm các việc đã hặc tâu, đều phải vạch rõ sự thực, không được nghe hơi bắt bóng, vì hiềm riêng mà càn bậy bới chuyện ; đối với các việc nhỏ nhặt có hại đến trị thể, không được vào kêu nhảm nhí.


    Chức Cấp sự trung ở Lục khoa giữ việc soi xét gian phi tệ hại, tra cứu việc chậm trễ, trái phép.


    Giám sát ngự sử các đạo, giữ việc xét hạch phép tắc làm quan, trình bày dường lối chính trị, tất cả đều lệ thuộc vào viện Đô sát.


    Lại khoa kiểm soát Lại bộ, Hàn lâm viện và Thái y viện.


    Hộ khoa kiểm soát Hộ bộ, phủ Nội vụ đốc công, Tào chính, Thương trường và Nội tạng.


    Lễ khoa kiểm soát Lễ bộ, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hồng lô tự, Quốc tử giám và Khâm thiên giám.


    Binh khoa kiểm soát Binh bộ, Thái bộc tự, Kinh thành đề đốc và 2 kho súng ống thuốc đạn.


    Hình khoa kiểm soát Hình bộ, Đại lý tự.


    Công khoa kiểm soát Công bộ, Vũ khố, Vũ khố đốc công và Mộc thương.


    Nếu gặp những việc chậm trễ, trái phép, lầm lẫn và những tệ quan lại do bọn nha lại gian giảo đổi trắng thay đen đều phải vạch rõ sự thực mà hặc tấu.


    Giám sát ngự sử đạo kinh kỳ kiểm xét Nội các và Thừa Thiên phủ.


    [Các giám sát ngự sử] các đạo Nam - Ngãi, Bình - Phú, Thuận - Khánh, An - Biên, Long - Tường, An - Hà, Bình - Trị, An - Tĩnh, Thanh Hoa, Hà - Ninh, Định - Yên, Hải - Yên, Sơn - Hưng - Tuyên, Ninh - Thái và Lạng - Bình đều phải kiểm xét địa phương đạo mình, nếu quan lại có vạch ra những tệ tham ô, chậm trễ, trái phép, thì tuỳ việc mà tham hặc. Phàm quan viên văn võ ở Kinh thấy ai không công bằng, không giữ pháp đều được phép hặc tâu. Khoa và đạo cũng hặc tâu lẫn nhau. Khi có điều trần hoặc kiến nghị về những việc có quan hệ đến chính trị thì được niêm phong kín đệ thẳng lên.


    Lại nữa, các đạo Nam - Ngãi, Ninh - Thái thì hội đồng với Lại khoa. Các đạo Long - Tường, Định - Yên, Lạng - Bình thì hội đồng với Hộ khoa. Các đạo An - Biên, Hải - Yên thì hội đồng với Lễ khoa. Các đạo An - Hà, Thanh Hoa, Sơn - Hưng - Tuyên thì hội đồng với Binh khoa. Các đạo Bình - Phú, An - Tĩnh thì hội đồng với Hình khoa. Các đạo Thuận - Khánh, Bình - Trị, Hà - Ninh thì hội đồng với Công khoa. Các đạo nói trên đều chiếu theo Lục khoa mà chuyên làm việc kiểm soát các nha môn Ngự sử ở các đạo cùng với Cấp sự trung (ở Lục khoa) xem xét mà làm.


    2. Về công việc nên làm : Phàm đặt lễ đại triều ở điện Thái Hoà, rước vua ra ngự điện để nhận lễ chầu mừng, thì một viên Viện trưởng đứng ở bên đông trên điện, hầu về lễ nghi, chỗ bệ sơn son thì dùng 2 người khoa đạo, chỗ sân rồng thì 4 người đều chia nhau đứng ngoài ban đông, tây, xem xét lễ nghi. Nếu đặt lễ thường triều ở điện Cần Chính, thì trên điện 2 người, dưới sân 2 người, cũng đều chia đứng ở đông tây để xem xét lễ nghi.


    Gặp các đại lễ tế tự, vua thân đến làm lễ, thì Viện trưởng đứng đợi hầu hạ về lễ nghi, chỗ bồi tế và các người làm lễ, thì khoa đạo chia nhau đứng để xem xét lễ nghi.


    Gặp các tiết Khánh hạ cung Từ Thọ, thì 4 người khoa đạo chia nhau đứng ở ngoài ban đông tây trước sân trong cửa Tiên Thọ để xem xét lễ nghi.


    Phàm những ngày vua ra ngự ở điện nghe triều chính, thì 4 người khoa đạo, chia ra đứng ở tả hữu trên điện, 2 người bên hữu sung vào chức Khởi cư chú, 2 người bên tả theo dõi ghi chú các việc do các nha tâu lên. Khi ngự giá đi chơi thì đi hộ giá, sự ghi chú cũng như thế. Hằng ngày đem bản thảo ghi chú trình đường quan nhuận sắc lại, cuối tháng chép rõ ràng làm thành tập, rồi cùng ký tên đóng dấu của Viện, giao cho Sử quán thu giữ.


    Phàm các nha môn ở Lục bộ, và Nội các có tâu việc gì thì một người khoa đạo đều được phép theo ban thứ dự thính, nắm từng việc mà ghi chú để phòng khi có cần kiểm điểm tham hặc. Phàm khi vào túc trực thì Viện trưởng cùng đường quan Lục bộ, chiếu theo số nhân viên, mỗi người một ban lần lượt túc trực ; khoa đạo thì mỗi ngày một viên luân phiên túc trực, vào ngày chẵn cũng theo lệ ty viên các nha môn dâng thẻ bài.


    Phàm khi dùng ấn bảo tỉ, thì đường quan, đường phiên túc trực hội đồng với Nội các, cứ chiếu theo lệ trước mà làm, còn viên khoa đạo đi theo túc trực nếu thấy có tình tệ gì khác thì cứ thực mà tham hặc.Về số giấy tờ dùng hằng ngày đều ghi cả đưa trình đường quan thu xét.


    Phàm án kiện về việc hình có chỉ giao xuống ty Tam pháp ((1) Tức là Hình bộ, Đô sát viện và Đại lý tự.1) hội bàn và hằng năm sổ án Phước thẩm về mùa thu (Đô sát viện) hội đồng với Hình bộ và Đại lý tự xét làm.


    ở trong sổ Phước thẩm những phạm nhân bị bắt đến, và những tên phạm ở Kinh bị án chém hay án thắt cổ ngay, sau khi được chỉ, do viện duyệt lại, làm thành bản Phước tấu để đợi chỉ.


    Phàm án tội tù xử tử do các địa phương tâu lên thì sau khi bộ Hình dâng trình phiến nghĩ, do viện duyệt lại, trong đó quả không có tình lý gì trở ngại, thì chép vào phiến, nói rõ, giao cho bộ theo lời chỉ phê mà thi hành. Nếu có chỗ không hợp, thì trích ra tâu lại.


    Phàm những ngày đình thần hội nghị, Viện trưởng đều được dự bàn.


    Vua chuẩn y lời bàn cho thi hành.


    Dùng Hình bộ Hữu tham tri là Phan Bá Đạt làm Đô sát viện Tả phó đô ngự sử, Viên ngoại lang là bọn Ngô Dưỡng Hiệu ((1) Hiệu : nguyên thư vì kiêng chữ Hiệu đồng âm tên huý vua triều Nguyễn, nên chép là Cáo .1) 6 người làm Lục khoa Cấp sự trung, bọn Tri phủ Phạm Văn Hợp 16 người, làm Giám sát ngự sử các đạo.


    Ra lệnh cho hữu ty chế ấn bạc cho viện Đô sát, ấn quan phòng bằng ngà cho Tả phó đô ngự sử và ấn bằng đồng cho khoa đạo rồi ban cấp cho.


    Vua lại nghĩ : “Việc làm buồi đầu, hãy còn lạ tai lạ mắt. Vậy dụ cho Viện trưởng Phan Bá Đạt trước hết đem chương trình chỉ bảo cho các thuộc viên trong viện, khiến cho thông thuộc, đợi đến mồng một tháng 10, sẽ thi hành”.


    Vua bảo Nội các rằng : “Theo lệ trước thì quan Kinh từ Tứ, Ngũ phẩm, tất phải liệt thành đơn rõ ràng, đợi được khuyên son của vua mới được theo ban thứ mà tâu việc. Nhưng nghĩ : khoa đạo là những chức quan được dự bàn nói can ngăn. Cổ nhân vẫn có những chuyện dâng lời đàn hặc ở ngay chỗ bày nghi trượng vua ngự, từ đó chức sự đài thần không phải câu nệ theo phẩm trật cao, thấp nữa, vậy những viên được bổ chức khoa đạo hiện nay đều chuẩn cho theo ban thứ vào hầu, không phải làm thành đơn tâu nữa, từ nay cứ đặt làm lệ”.


    Thăng : Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Khoa Minh làm thự Hiệp biện đại học sĩ, vẫn lĩnh Lại bộ Thượng thư, kiêm coi quản Hàn lâm viện ; Thượng thư bộ Binh là Lê Đăng Doanh làm thự Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Công bộ Thượng thư vẫn kiêm coi quản Quang lộc tự ; Tả tham tri bộ Binh là Lê Văn Đức làm thự Binh bộ Thượng thư ; Hữu tham tri bộ Hộ là Bùi Phổ làm Hình bộ Hữu tham tri. Thăng Phủ doãn Thừa Thiên là Đỗ Khắc Thư làm thự Binh bộ Hữu tham tri. Điều Hữu thị lang bộ Công là Hoàng Văn Diễn làm Tả thị lang bộ Hộ. Đổi bổ Tả thị lang bộ Hình, kiêm Đại lý tự khanh là Hà Duy Phiên làm Hữu thị lang bộ Hộ, sung làm công việc Nội các. Thăng Đại lý tự Thiếu khanh là Nguyễn Công Hoán lên thự Đại lý tự khanh, kiêm làm công việc bộ Hình. Cho thự Lang trung Nội vụ phủ là Nguyễn Đình Tân làm Lang trung bộ Lễ thự Quang lộc tự khanh, biện lý công việc bộ Lễ. Thăng Hàn lâm Thị giảng Thân Văn Quyền, làm thự Thị độc học sĩ, sung làm công việc Nội các. Thăng Hồ Hữu Thẩm lên thự Đại lý tự Thiếu khanh, Thừa Thiên Phủ thừa là Đoàn Khiêm Quang làm thự Phủ doãn. Cho Hàn lâm Kiểm thảo là Phan Thanh Giản làm Viên ngoại lang bộ Hộ, thừự Thừa Thiên Phủ thừa.


    Bổ Phạm Đình Trạc, Trần Huy Phác làm Lang trung bộ Lại ; Phạm Phổ làm Lang trung bộ Hộ, Hoàng Văn Minh làm Lang trung bộ Binh, Nguyễn Bá Thản làm Lang trung bộ Công.


    Đổi bổ Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Kim Bảng làm Tổng đốc Hà - Ninh, Lê Đại Cương lại về cung chức ở Sơn - Hưng - Tuyên.


    Dùng Bố chính Hải Dương là Nguyễn Công Trứ làm Tuần phủ Hải Dương tạm giữ ấn quan phòng Tổng đốc Hải Yên.


    Giảm bớt chức Tuần phủ 3 tỉnh Hưng Hoá, Thái Nguyên và Tuyên Quang.


    Triệu Tuần phủ Hưng Hoá là Hoàng Quốc Điều về Kinh để lựa dùng. Đổi bổ Bố chính, thự lý Tuần phủ Thái Nguyên là Trần Thiên Tải làm Bố chính Hải Dương, thự lý Tuần phủ Tuyên Quang là Nguyễn Hữu Khuê lại về cung chức với nguyên hàm Bố chính. án sát Hưng Hoá là Ngô Huy Tuấn, thự án sát Thái Nguyên là Nguyễn Đồ đều quyền thự Bố chính, kiêm làm công việc ở ty án sát sứ. Nếu có việc gì trọng đại thì cho bẩm lên Tổng đốc mà mình thuộc quyền để làm cho thoả đáng.


    Lãnh binh Nam Định là Đặng Hữu Chất tuổi già về hưu. Dùng Vệ uý sung Lãnh binh Thuỷ sư Nam Định là Nguyễn Văn Phong làm Chưởng cơ, sung Lãnh binh Nam Định kiêm coi quản Thuỷ sư.


    Bỏ bớt chức Thần sách giám quân. Năm dinh Thần sách do quản viên chuyên coi. Còn ấn quan phòng bằng bạc của nguyên giám Thần sách và ấn bằng đồng của chức giám quân Thần sách đều thu huỷ đi.


    Bắt đầu đặt chức Ngũ quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự.


    Dùng Chưởng doanh, thự Tiền quân ấn vụ là Trần Văn Năng làm Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, vẫn kiêm coi quản ấn triện vệ Kinh tượng cùng Hoa danh sách ((1) Hoa danh sách : sổ ghi con cái quan từ nhất, nhị phẩm trở lên.1) và giáo dưỡng binh ((2) Giáo dưỡng binh : một hạng lính lấy từ con các quan võ mà tổ chức nên.2). Thự trung quân ấn vụ là Tống Phước Lương làm Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự. Đô thống chế, thự Hậu quân ấn vụ là Phan Văn Thuý, thăng thự Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự. Đô thống lĩnh Tổng đốc Hà Ninh là Nguyễn Văn Hiếu, thăng thự Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự. Hữu quân Phó tướng, gia hàm Đô thống là Nguyễn Văn Xuân, thực thụ Đô thống, thự Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự.


    Ra lệnh cho chế cấp ấn quan phòng bằng bạc cho Ngũ quân Đô thống phủ, mỗi phủ một cái.


    Biền binh Thần sách Nghệ An đóng giữ phủ Trấn Ninh, nhiều người bị bệnh chết. Việc đến tai vua.


    Vua dụ bộ Binh : “Trước đây, vì có bọn lính Ninh Thiện làm phản, nên bất đắc dĩ phải phái lính đến đóng thay, để trấn áp lòng người ; không ngờ nơi ấy, lam chướng rất rặng, người bị cảm nhiễm khá nhiều rất đáng thương. Nay phủ hạt đã được yên ổn há nên cứ để quân ta đóng mãi ở đấy. Vậy 2 đội Nhất, Nhị, thuộc cơ Trấn an phải đi trước vẫn giao cho Phó quản cơ Hoàng Nghĩa Uyển quản lĩnh, đóng giữ. Còn biền binh Thần sách tức thì rút về hàng ngũ, người nào ốm đều cấp cho 2 quan tiền, người nào chết thì cấp cho tiền tuất gấp hai.


    Cho Đào Duy Nhẫm, dòng dõi Khai quốc công thần, Hoằng Quốc công Đào Duy Từ được tập ấm, làm đội trưởng coi giữ việc thờ cúng.


    ở Kinh sư mưa lụt to, vua sai Kinh doãn chia đi các huyện, khám xem những chỗ bị tai nạn để phát chẩn cho. Khi về Kinh doãn tâu nói : “Nước lụt dẫu khác thường nhưng rồi rút ngay lại được luôn mấy ngày hửng tạnh, lúa má tốt bật lên. Duy một vài nhà dân ở ven sông bị đổ, đã từng phát chẩn, đều được đội ơn”.


    Vua phê bảo : “Tai nạn nhẹ, ơn ra khắp, tiểu dân không lo phải xiêu giạt. Ta được yên lòng đôi chút”.


    Quảng Nam cũng bị bão và lụt. Nhân dân có người chết đuối. Vua sai cấp cho mỗi người 3 quan tiền.


    Chuẩn định từ nay phàm những quan văn võ bị lỗi phải cách lưu thì do bộ Lại, bộ Binh làm văn bằng ở bộ cấp cho. Việc này đặt làm lệ mãi (trước đây, do đình thần làm bằng cấp cho).


    Ban nhân sâm Cao Ly cho các đình thần có thứ bậc khác nhau.


    Sai bộ Binh mật tư cho Tổng đốc Sơn Hưng Tuyên là Lê Đại Cương, thăm dò tình trạng gần đây của người Thanh ở động Phong Thu thuộc Hưng Hoá, rồi cứ thực tâu lên.


    Trước đây, phủ Lâm An nhà Thanh lầm nghe tên Điêu Doãn An gây ra việc rắc rối ở biên giới. Khi Doãn An đã bị giết [nhà Thanh] lại cho người họ hắn là Điêu Thế Lý làm trại trưởng Mãnh Thoa và Mãnh Thích (tức 2 động Phong Thu và Bình Lư). Thế Lý còn nương nhờ Long Định Xương (chồng cô của Doãn An) châu trưởng châu Quảng Lăng nhà Thanh, chưa dám về. Huyện Kiến Thuỷ nhà Thanh cũng thường sai người đến động Phong Thu đòi thuế năm trước, các thổ mục không chịu nộp. Người nhà Thanh cũng không dám sinh sự. Đại Cương đem tình trạng dò được ấy tâu lên.


    Vua phê bảo : “Cốt nên để tâm bí mật dò xét. Đó là việc có quan hệ đến chức phận của nhà ngươi, phải cẩn thận đấy”.


    Định lại lệ thay ban cho các biền binh đóng giữ đài Trấn Hải. (Hằng năm, chia làm 4 ban : ban thứ nhất dinh Vũ lâm, 1 quản vệ, 2 suất đội, 200 biền binh, phái đi ngày 15 tháng 3. Đến ngày 15 tháng 6 thì ban thứ hai, 3 dinh Tiền phong, Long võ và Hổ oai, cùng một quản vệ, 2 suất đội, 200 biền binh đến thay. Lại đến ngày 15 tháng 9, thì ban thứ ba các vệ Ban trực Thần sách 1 quản vệ, 2 suất đội, 100 biền binh đến thay. Lại đến ngày 15 tháng 12, ban thứ tư, các bảo thuộc các quân ((1) Tức là Trung bảo Trung quân, Tiền bảo Tiền quân, Tả bảo Tả quân, Hữu bảo Hữu quân, Hậu bảo Hậu quân.1) cũng 1 quản vệ, 2 suất đội, 100 biền binh, đến thay. Biền binh dinh Thần cơ từ tháng 4 đến tháng 8 lần lượt phái đi 30 người, từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, lần lượt phái đi 20 người, để giữ gìn súng ống. Lệ trước thì lĩnh cờ vương mệnh và hợp phù ((2) Phù tiết làm bằng tre trên viết chữ, mỗi bên cầm một nửa, để làm tin, khi hợp lại thấy đúng là được.2) đưa đi, đến đây thì đình chỉ).


    Đặng Văn Thiêm, thự Tổng đốc Định Yên, tâu nói : “Một dải sông Hoàng Giang ở bên tả tỉnh thành nước chảy xô mạnh, đã từng đào sông mới để rút bớt thế nước. Mùa xuân này mưa lụt, có một đoạn sông cũ dài hơn 190 trượng, lượn vòng như hình cánh cung, nhiều chỗ sạt lở. Vậy xin đến mùa đông, nước lụt rút xuống thì trước hết mở rộng thêm 2 bên cửa sông mới, mỗi bên 3, 4 trượng để thu lấy dòng nước. Lại đắp mỏ kè ở chỗ sụt lở chống nước chảy xói”.


    Vua y lời tâu ấy.


    Định lại thể lệ làm sổ sách những án Phước thẩm về mùa thu ở các địa phương. Vua bảo Nội các rằng : “Trước đây, sổ án Phước thẩm của các địa phương, cứ nhằm cuối tháng 6 đưa đến bộ ; gián hoặc có án nào, được chỉ vào lúc trước mùa thu, đến tháng 7, mới lục đưa tới, thì lại tiếp tục làm thành sổ án Phước thẩm. Nay nghĩ : cứ làm như thế, không những cứ lục tục phát đệ, phí nhiều công chạy trạm, mà người thừa hành không khỏi sinh thêm rắc rối. Vậy chuẩn định : từ nay, hễ gần đến kỳ Phước thẩm án, thì bộ Hình cứ nhằm thượng tuần tháng 6 trở về trước khẩn xét các án do các địa phương đưa đến, để tâu lên Phước lại, sau khi được chỉ, tức thì chiểu theo đường sá ở các hạt xa hay gần, tính ngày mà lục phát đi, cần tới cuối tháng 6 thì đã phát đến rồi không được để chậm ra ngoài tháng. Các địa phương cứ căn cứ vào các án đã lục phát đến trước cuối tháng 6 những tù phạm này nên ghi xin xét lại thì biên ngay vào sổ và phát đệ sớm, hạn đến trước ngày 20 tháng 7 thì tới bộ ; cũng không được để chậm, quá hạn. Hoặc giả có án nào bắt đầu từ hạ tuần tháng 6 mới kết đệ vâysau ngày mồng 1 tháng 7 mới lục phát đến thì cho để đến kỳ Phước thẩm án về mùa năm sau rồi tư cho bộ giữ để lưu chiểu, bất tất phải tiếp tục làm thành sổ sách nữa”. Việc này chép để làm lệ.


    Nguyễn Bảo, tên phỉ trốn ở Quảng Yên, tụ họp hơn 10 chiếc thuyền của Thanh phỉ lẻn vào vụng Cát, xã Chân Chân (thuộc huyện Hoa Phong). Người giữ đồn An Khoái là Nguyễn Văn Khuyến, nấp ở bên bờ, bắn ra, phỉ bèn rút lui. Thuyền quân của thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng đi đến, được tin thuyền phỉ đã chạy đến vụng Hội, và vụng Tư (thuộc hải phận Đồ Sơn, tỉnh Hải Dương). Quảng liền ngược dòng tiến lên. Phỉ lại đến bờ đảo Chân Chân ngoài biển tranh nhau đào khoai, thổ Tri huyện Bùi Doãn Tạ cùng Nguyễn Văn Khuyến đem lính dõng đuổi bắt : Tạ bị giặc giết chết, lính dõng nhiều người bị thương, và bị chết. Giặc bèn phóng lửa đốt cháy nhà dân, cướp hết súng ống khí giới ở trong đồn rồi đi. Việc đến tai nhà vua.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Lê Đạo Quảng, tháng trước thắng trận vừa mới được hậu thưởng, thế mà không biết dự phòng, để bọn phỉ nhân lúc sơ hở lén lút ló ra ! Đáng lẽ phải trị tội nặng, nhưng nghĩ : Quảng tuy có ở trong chuyến đi ấy, song không gặp thuyền phỉ đi qua hạt mình. Còn bọn Bùi Doãn Tạ không báo quan quân, lại vội đi đuổi bắt, đến nỗi hỏng việc thì tội Đạo Quảng còn có thể lượng thứ. Vậy hãy xử nhẹ, giáng 2 cấp, người giữ đồn là Nguyễn Văn Khuyến thì cách chức, cho gắng làm việc để ra sức chuộc tội. Bùi Doãn Tạ cử động khinh suất, cũng là có tội, nhưng biết hăng hái bỏ mình, có khác với kẻ nhút nhát, kiếm cớ thụt lùi, vậy nên gia ơn thưởng cho tiền tuất là 10 lạng bạc còn những người bị chết trận, mỗi người cấp cho 2 lạng bạc, người bị thương cấp cho 3 quan tiền. Vả, bọn phỉ ấy đã đến nỗi phải đào khoai để ăn, thì đã cùng quẫn quá lắm không khác gì cá trong đáy nồi, khó gì cái việc tiêu diệt chúng nó ! Vậy sai Lê Đạo Quảng tức khắc họp nhiều binh thuyền hương dõng thượng khẩn đi nã bắt. Lại truyền dụ cho thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ chọn ngay 1 viên Lãnh binh được việc và 300 biền binh đầy sinh lực, chia nhau ngồi thuyền đi hội tiễu, không được trì hoãn một khắc nào”. Bấy giờ vừa gặp tờ sớ xin đi trận của Công Trứ dâng đến. Vua dụ rằng : “Chí ngươi đáng khen, nhưng công việc ở tỉnh bề bộn, ta đã sai lựa một viên Lãnh binh được việc có thể tin cậy để sai phái, ngươi hãy lưu lại ở tỉnh làm việc. Nếu bất chợt được tin báo về tình hình quan trọng khẩn yếu thì cho chuẩn một mặt tâu lên, một mặt thân hành đốc suất binh thuyền kíp đi, liệu cơ đánh dẹp”.


    Thống chế Thần sách Tả dinh là Đỗ Quý chết. Vua ban cho 3 cây gấm Tống, 300 quan tiền.


    Định lệ phân xử sự làm việc sai lầm của thuộc viên và đường quan ở các nha tại Kinh và ngoài các tỉnh.


    Vua dụ bộ Hình rằng : “Chính sự có việc lớn, việc nhỏ mà phận sự của trưởng quan và các thuộc viên cũng không giống nhau. Nếu việc làm có sai lầm, mà cứ phân xử một loạt như nhau, e chưa đủ rõ rệt thoả đáng. Bộ Hình ngươi nên châm chước bàn nghĩ cho kỹ, việc gì đáng trách cứ trưởng quan thì miễn nghị cho thuộc viên, việc gì đáng trách cứ thuộc viên thì miễn nghị cho trưởng quan. Đến như những việc quan trọng, nên làm thế nào phân biệt kẻ thủ phạm và kẻ tòng phạm theo thứ bậc mà giảm tội đi, thì liệt kê ra tâu lên để vua biết”.


    Bộ thần nghĩ định 4 điều, vua lại sai đình thần bàn lại.


    1. Bàn bạc nên tiêu hay không, phán đoán việc phải hay trái : Phàm việc gì do trưởng quan xét định, mà thuộc viên không đồng ý, thì cho kiến nghị riêng, đặt vào trong tập tấu, nếu cứ một niềm a dua để đến nỗi lầm lẫn, thì phải kể trưởng quan là thủ phạm, còn những người tá nhị thủ lĩnh ((1) Tá nhị thủ lĩnh : người phụ giúp việc thủ lĩnh, tức là chỉ hạng Bát, Cửu phẩm thư lại hoặc Vị nhập lưu thư lại giúp việc các quan ở trong Kinh, như Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ và Lục sự hoặc các quan ở các tỉnh, các huyện như kinh lịch và lại mục (xem chỗ định rõ cương vị các thủ lĩnh ở dưới đây).1) đều được giảm nhẹ theo luật pháp. Những thuộc viên và các lại điển không tham dự làm việc đó đều được miễn nghị.


    2. Kê cứu điển chương tra xét sự việc : Phàm các thuộc viên mỗi người giữ làm một việc. Nếu có lầm lẫn mà việc do lại điển, thì phải kể lại điển chuyên biện là thủ phạm, thứ đến viên thủ lĩnh dự làm, thứ nữa đến người tá nhị, lại thứ nữa đến trưởng quan. Việc do thủ lĩnh, phải kể thủ lĩnh chuyên biện là thủ phạm, thứ đến lại điển dự làm, thứ hai nữa đến người tá nhị, lại thứ nữa đến trưởng quan. Việc do người tá nhị, thì phải kể người tá nhị chuyên biện là thủ phạm thứ đến lại điển, thứ nữa đến thủ lĩnh, lại thứ nữa đến trưởng quan.


    3. Kê cứu số mục khảo xét họ, tên, viết kỹ, chép rõ : Phàm những việc đó đều là phận sự của lại điển. Nếu có lầm lẫn thì phải kể lại điển là thủ phạm ; và thủ lĩnh và tá nhị đều được giảm nhẹ theo pháp luật. Duy trưởng quan cùng thủ lĩnh và tá nhị không dự làm, đều được miễn nghị.


    4. Phân xử lầm lẫn : Phàm những công việc trọng đại, như quân cơ, tiền, lương v.v… Nếu sai lầm do trưởng quan, thì trưởng quan là thủ phạm, còn tá nhị, thủ lĩnh và lại điển thì chiếu luật giảm nhẹ đi. Nếu sai lầm do tá nhị thì tá nhị là thủ phạm thứ đến thủ lĩnh, thứ nữa đến lại điển, lại thứ nữa đến trưởng quan. Nếu sai lầm do thủ lĩnh thì thủ lĩnh là thủ phạm, thứ đến lại điển, thứ nữa đến tá nhị, lại thứ nữa đến trưởng quan. Nếu sai lầm do điển thì lại điển là thủ phạm còn thủ lĩnh, tá nhị và trưởng quan đều được chiểu luật giảm nhẹ đi.


    Lại nữa, từ trước đến nay các trưởng quan, tá nhị, thủ lĩnh, lại điển tại các nha môn ở trong và ngoài trấn, chưa từng định rõ. Vậy xin chiếu theo chức danh lựa chia 4 bậc, như : ở Lục bộ và các viện, các tự, ở Kinh thì Thượng thư, Đô ngự sử, Tham tri, Phó đô ngự sử, Thị lang, Tự khanh, Thiếu khanh, đều là Trưởng quan. Lang trung, Cấp sự trung, Giám sát ngự sử đều là Tá nhị. Viên ngoại lang, Chủ sư, Tư vụ, Lục sự, đều là Thủ lĩnh. Từ Bát, Cửu phẩm đến Vị nhập lưu thư lại đều lại điển.


    Các tỉnh, phủ, huyện ở ngoài thì Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát, Tri phủ, Đồng tri phủ, Tri huyện và Huyện thừa đều là Trưởng quan ; Thông phán, Tri sự đều là Tá nhị, Kinh lịch lại mục đều là Thủ lĩnh, Bát, Cửu phẩm thư lại đến Vị nhập lưu thư lại thông lại đều là lại điển, còn quan chức các nha khác không đủ bậc ấy, cũng chiếu theo đó mà lựa tính để phân biệt nghị xử. Khi lời bàn ấy dâng lên. Vua phê bảo rằng : “Ta đã xét kỹ các điều, phần nhiều đã ổn thoả, có thể thi hành, duy có việc quân việc nước là trọng đại, nếu có gì sai trái, tất phải kể trưởng quan là thủ phạm”.


    Viên phân châu Khâm châu nhà Thanh, đưa thư cho tỉnh Quảng Yên nói giặc biển quấy nhiễu, có bọn thuyền buôn nhà Thanh là Trần Kim Phát, tình nguyện tự xuất công, xuất của ra biển nã bắt, đã được cấp giấy chấp chiếu cho phép không phân biệt bờ cõi, cứ việc đuổi bắt, mong rằng bên ta xét rõ không nên ngăn trở nhau.


    Thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng cho là việc có quan hệ biên phòng, bèn tâu rõ lên, xin chỉ định đoạt.


    Vua dụ rằng : “Hải phận nước ta, dẫu giáp liền với nhà Thanh, nhưng bờ cõi đã có ranh giới rõ ràng sao lại nói là không phân biệt được ? Ví phỏng bắt giặc, thì đôi bên đều phái binh thuyền, hải phận mình mà chặn bắt, thì giặc còn trốn đi đâu ? Há nên tính sẵn đến bước phải vượt bờ cõi của nhau ư ?”.


    Vậy lập tức sức cho thổ Tri châu ở Vạn Ninh phải chiếu theo bản thư Phước đáp của bộ gửi đến mà viết tinh tả để trả lời. Từ nay về sau có việc gì trọng đại, quan hệ đến quốc thể mới được tâu lên. Còn việc tầm thường như việc này thì cứ tự đi trả lời quyết không có lý nào chiều theo lời xin của họ. Cứ việc một mặt tâu trình đầy đủ, một mặt thi hành cũng chẳng hại gì chứ không nên loanh quanh kêu xin đợi lệnh, chỉ thêm chậm trễ ra thôi !”.


    Huyện Phụ Dực ở tỉnh Nam Định có sâu cắn hại lúa (cắn suốt ruột cây lúa). Vua sai quan tỉnh tìm cách bắt và chôn đi.


    Cho Nguyễn Hựu Tăng, công tính Chánh chi đội trưởng, làm Từ tế phó sứ ở Từ tế ty giữ việc thờ cúng Nguyên miếu ((1) Nguyên miếu : miếu thờ Nguyễn Kim, Triệu tổ Tĩnh hoàng đế.1). Lại đặt một Chánh bát phẩm thư lại để giữ sổ sách các chi về họ công tính.


    Tam pháp ty hội thẩm bàn xử những đơn khống cáo, có việc dính líu đến bộ Hình, bèn xin không cần bàn xét và nghĩ xử phạt kẻ nguyên khống bằng cách đánh roi. Vua xuống lệnh truyền chỉ nghiêm quở và sắc cho từ nay về sau, nhân dân có trần tình khống tố việc gì mà dính đến Tam pháp ty, thì cứ thực tâu lên đợi chỉ, không được vội nghị xử ngay.


    Nguyễn Văn Quế, quyền lĩnh ấn Tổng trấn thành Gia Định, cùng với các tào thần dâng sớ nói xét nhà con nuôi nguyên Tổng trấn Lê Văn Duyệt là Lê Văn Yến, thấy có chứa 10 tờ giấy đóng sẵn ấn quốc gia tín bảo và 10 tờ đóng sẵn ấn công đồng, do bọ dâng nộp. Vua sai bắt bọn nguyên điển thủ là Trần Công Doanh giao cho đình thần xét lại, còn những giấy tờ đóng dấu sẵn ấy thu lấy tiêu huỷ đi. Sau đó lại phát giác ra hơn 1.070 tấm gỗ táu và gỗ dầu mà Lê Văn Duyệt đã trữ riêng. Vua bảo Nội các rằng : “Về việc lấy gỗ, nhiều lần đã từng sức rõ là phải dè dặt tỉnh giảm, dẫu đến việc đóng thuyền công cũng còn phải đình hoãn. Thế mà, Lê Văn Duyệt riêng sai quân lính đốn lấy một số gỗ nhiều như thế, tất không phải một sớm một tối mà làm được, ở thành há không một người nào nghe thấy việc ấy ? Từ trước đến nay sao lại để làm hao của công, phí sức người, sung làm của riêng ! Vậy ra lệnh cho bọn Nguyễn Văn Quế hãy chiếu số gỗ hiện thấy, ghi vào sổ, giữ lại ; rồi đem bọn thủ hạ trước của Duyệt là quản suất ba vệ : Tả bảo nhất, Tả bảo nhị, và Minh nghĩa (trước đã có chỉ đòi nhưng chưa về) triệt để tra xét rõ ràng, không được tư vị dung túng một chút nào. Lại xét những thuyền và binh khí mà Duyệt đã tự làm lậu không ghi sổ, để tra xét nghị xử một thể, tâu lên đợi chỉ”. Đặt lệ cho các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các hạt xin vấn an vua.


    Vua dụ rằng : “Ta từ khi lên ngôi vua đến giờ, hằng ngày đối với bầy tôi, chưa từng có sự xa cách, dẫu đến viên quan nhỏ, có việc cũng được triệu vào hỏi han. Thế mà đốc, phủ, bố, án, nhân vì chức vụ công việc nhiều, lại không được thường vào chầu thăm, lòng ta thực rất nghĩ ngợi. Huống chi họ nhận chức trách quan trọng, việc gì nên làm hay nên đổi, có lợi hay có hại ở một phương đều cần phải vào tâu, mới xứng chức trách đã giao cho, há chỉ kể trên giấy tờ sổ sách mà thôi ư ? Vậy chuẩn định : phàm đốc, phủ, bố, án, tại chức đã đủ 3 năm, thì được tự xin về Kinh chầu thăm một lần, đợi chỉ mà tuân hành. Lại nữa, hằng năm 4 tháng mạnh chuẩn cho bọn đốc, phủ gặp khi tiện thì làm tập tấu xin vào vấn an một lần. Nếu trong hạt chính sự có thiếu sót, quân dân có lợi hại cho chí các viên đốc phủ đồng sự và các viên bố, án, lãnh binh phủ, huyện thuộc hạt hễ ai có tài thực giỏi, tiếng tăm vốn tốt, mà dân chúng đều yêu mến suy tôn ; hoặc ai không công bằng không giữ pháp, làm nhiều điều tệ hại để mưu lợi riêng, làm cho quân dân không phục thì đều nên cứ thực tâu bày. Còn Bố chính, án sát thì chuẩn cho, hằng năm về 2 tháng trọng xuân, trọng thu, làm tập tấu xin vào vấn an một lần. Từ đốc, phủ ở thượng ty đến các viên bố, án đồng sự và lãnh binh, phủ, huyện, nếu có những tình tiết tốt hay xấu, những việc quân dân lợi hay hại, như đã kể trên, cũng chuẩn cho cứ thực tâu bày, cốt nên biết đích thực, thấy rõ ràng không được nghe hơi bắt bóng mà bàn nói xằng bậy. Khi viết tập tấu phải chính tay viết lấy, không được mượn người để tỏ ra cẩn thận và bí mật. Nếu Tổng đốc xuất thân là quan võ, không viết lấy được, thì
  • Chia sẻ trang này