0060.0038

25/12/15
0060.0038
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    mới có thể sai người thân tín viết thay, rồi nói rõ cả người viết thay ở trong tập tấu. Lại như tới kỳ dâng tập tấu mà không có việc gì cần, chỉ vấn an theo lệ thường thì nên nhân tiện, phụ đệ theo chương sở, không cần phải giử riêng, để đỡ khó nhọc cho chạy trạm. Nếu có việc trọng yếu, bất tất câu nệ về hạn 4 tháng mạnh hoặc mùa xuân hay mùa thu, chuẩn cho viết thành tập tấu mà giử đệ ngay, hoặc sai con em người nhà thân tín đưa đến Kinh, do nơi thị vệ trình lên vua xem. Nếu bố, án có tập tấu giử đi thì đốc phủ phải chiểu theo nguyên tập, lập tức đệ lên, không được để lại, làm khó khăn ngăn trở. Nếu, đốc phủ mang lòng riêng tư, sợ người tham hặc, và ngăn chặn huỷ bỏ tập tấu của bố, án thì sẽ khép vào tội dối vua, quyết không khoan thứ.


    Những việc trên đây là do ta muốn biết rõ nỗi uẩn khúc của dân và thấu hết mọi việc của các quan, khiến tình hình kẻ dưới thông đạt được lên trên. Lũ ngươi dẫu ở nơi biên thuỳ, mà tâu bày bàn bạc, có khác gì được tới lui hầu chầu sớm tối không ? Như thế thì vua tôi cùng chung một thể, chia vui sẻ buồn há chẳng tốt lắm ư ?”.


    Rồi sai chế khoá và chìa cho các hộp đựng tập tấu để cấp cho.


    Đặt đồn Định Biên ở Nghệ An (đồn ở xứ Làng Mon, phủ Trấn Tĩnh).


    Trước đây, Chuyên Cương, Tuyên uý đồng Tri phủ Lạc Biên, sai em là Chiêu Thăng đem dân ra ở đất Tạ Khách. Thăng bị bảo mục ở Phố Khâm, dỗ đưa sang Xiêm. Chuyên Cương lấy làm lo, bèn cùng viên phủ Trấn Tĩnh báo lên tỉnh, xin quân đóng giữ, Tổng đốc Tạ Quang Cự liền phái 100 biền binh Thần sách tiến đến trấn áp (Tạ Khách ở phía bắc sông Khung, Phố Khâm ở phía nam sông Khung, đều là tên đất). Việc đến tai vua.


    Vua dụ bảo : “Người Xiêm dẫu quen làm cái việc phỉnh gạt, dụ dỗ khiến cho người ta lìa nhau để tiện ở giữa kiếm lợi. Song Chiêu Thăng nếu quả không phản bội anh nó thì người Xiêm kia còn xen vào chỗ sơ hở nào để dở trò khôn khéo được? Tóm lại, Thăng tâm địa không tốt, không ai dỗ dành cũng đi, không nên trút cả tội cho người khác. Ngươi nên truyền bảo cho hai phủ viên nên vỗ về yên dân, khiến cho đều ở yên làm ăn. Nếu có xảy việc không tốt, triều đình đã có cách xử trí chớ nên nghi ngại.


    “Ngươi xem địa phương phủ Trấn Tĩnh, chọn lấy chỗ tốt, dựng một đồn trại có thể chứa được vài trăm biền binh, đặt tên là đồn Định Biên, cho quan quân ta đóng, lương binh do 2 phủ chuyển vận đến cấp. Lại ở chỗ đối ngạn với đồn Phố Khâm, đặt một đồn nhỏ, lấy thổ binh để giữ. Hễ có các Man U Bôn, Hiểm Mã, Lạt Nhất và Xuân Thôn, mượn cớ gì đó mà kéo đến thì phải ngăn chặn ngay lại không cho phép”.


    Chưa được vài hôm người Xiêm sang qua sông, xua đuổi cư dân ở Tạ Khách rồi đi. Chiêu Thăng cũng có thư gửi về doạ nạt 2 phủ. Dân Man sợ hãi náo động. Quang Cự được tin báo, lại phái thêm 300 biền binh tiếp tục đến đóng và đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Ngươi cho là việc có quan hệ đến sự phòng giữ biên cương làm như thế cũng phải, nhưng doạ nạt dỗ riêng nhau, vẫn là thói quen của dân Man ở ngoài biên, chưa chắc đã là do ý người Xiêm thế mà 2 phủ thuộc hạt ngươi đã vội hoảng sợ, thực là nhút nhát ! Ngươi nên chuyển sức cho các phái viên chỉ nên chọn đất đóng giữ chia nhau đi tuần tiễu, chớ có hoang mang để dân ngoài biên đến nỗi rối loạn. Đợi sau 1 tháng, nếu chưa yên thì chuẩn cho một mặt tâu lên, một mặt phái lính thay phiên đóng giữ, chớ để họ phải lưu lại lâu ở nơi lam chướng”.


    Thuyền Định dương đi việc công về, đỗ ở cửa biển Cần Huân thuộc Bình Hoà.


    Vua cho rằng tiết trời đã sang cuối thu, về Kinh chưa tiện, vậy dụ cho phái viên là Trần Công Chương xét xem các đồ vật của kho, thứ nào cồng kềnh mà nặng, thì cho để vào kho ở tỉnh, thứ nào nhẹ và tiện vận tải, thì vát ngựa trạm chở đi đường bộ đến sông An Tân tỉnh Quảng Nam thì cứ theo đường thuỷ chở đến Điện Hải đài mà chứa, đợi sau sẽ đưa về Kinh.


    Lại sai Thống chế Nguyễn Tài Năng làm một chiếc thuyền cỡ nhỏ chạy nhanh (dài 3 trượng 8 thước ngang 4 thước 1 tấc, sâu 1 thước, có 10 mái chèo), để ở bờ phía nam sông Hương phòng khi dùng để chuyên chở đồ vật công.


    Sắp xếp lại án sát sứ, trật Chánh tứ phẩm ở các tỉnh : cho Nguyễn Bá Thân làm án sát Quảng Bình, Trần Lê Hoàn làm án sát Ninh Bình ; Nguyễn Đại Phong làm án sát Hưng Yên, Đỗ Huy Cảnh làm án sát Sơn Tây ; Trần Thế Nho làm án sát Bắc Ninh ; thăng Trịnh Quang Khanh, án sát Quảng Trị, làm thự Bố chính Nam Định. Đổi bổ Nguỵ Khắc Tuần, nguyên thự Bố chính Nam Định, làm án sát Nam Định rộng tha cho khỏi giáng 1 cấp có ghi ở dưới chỗ tên. Điệu bổ Tôn Thọ Đức, Tham hiệp Bình Định, đi làm án sát Quảng Trị. Thăng Nguyễn Đôn Tố, án sát Tuyên Quang, lên thự Bố chính Thái Nguyên, cho Nguyễn Đồ nguyên thự án sát Thái Nguyên, quyền thự Bố chính, được thực thụ án sát Thái Nguyên không phải quyền thự công việc Bố chính sứ. Điệu bổ : Phạm Phổ, Hộ bộ Lang trung, làm án sát Tuyên Quang, Lê Phước An, Tham hiệp Quảng Ngãi làm án sát Hà Tĩnh ; Vũ Tuấn Lang trung bộ Lại, làm án sát Thanh Hoa. Đổi bổ Hồ Sỹ Lâm thự án sát Quảng Yên, làm án sát Hà Nội. Điệu bổ Trần Huy Phác, Lang trung bộ Lại làm án sát Quảng Yên. Đổi bổ Trần Văn Trị, thự Hiệp trấn Bình Hoà làm án sát Cao Bằng. Thăng Trần Ngọc Lâm, Viên ngoại lang bộ Lễ, lên thự án sát Hưng Hoá. Cho Ngô Huy Tuấn, nguyên án sát Hưng Hoá, quyền thự Bố chính không phải kiêm làm công việc án sát sứ nữa. Điệu bổ Vũ Đĩnh, Lang trung bộ Binh, làm án sát Nghệ An. Vời Lê Dục Đức, nguyên án sát Hà Nội, Nguyễn Huy Chiêm, án sát tỉnh Cao Bằng, Nguyễn Sỹ Bảng, án sát Hà Tĩnh, và Nguyễn Văn Bính, án sát Thanh Hoa, đều về Kinh, đợi chỉ.


    Phan Hiển Đạt, án sát Hải Dương, bị cách nhưng được lưu, đổi làm giáng 4 cấp. Doãn Văn Xuân, án sát Lạng Sơn, dưới tên có ghi giáng 2 cấp, nay khoan miễn 1 cấp. Bùi Nguyên Thọ, án sát Nam Định, bị cách chức nhưng được lưu, nay phải thôi chức cũ về Kinh, làm hành tẩu ở bộ.


    Thổ Tri huyện Ninh Khang, trấn Nghệ An là Trình Tuấn ngầm mưu làm phản nói nhiều câu trái phép. Theo thổ tục, cứ đầu năm người ta đều vứt quần áo cũ xuống sông, rồi khấn thầm rằng bao nhiêu tai nạn đều trôi theo nước. Riêng Tuấn thì lấy thoi mực ném xuống và khấn rằng : “Chỉ muốn theo tục, viết vào lá cây là tiện”. Tuấn lại từng thư từ bí mật kết giao với người Xiêm. Thổ Huyện thừa là Kiệu Hoà đem việc ấy tố cáo lên tỉnh. Quan tỉnh tâu lên.


    Vua sai cách chức và bắt hỏi, Tuấn đều nhận tội, bèn giết đi.


    Dựng chùa Khải Tường.


    Trước đây, vua bảo bộ Lễ : “Cố cung chỗ sinh Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta tại xã Dương Xuân, từ khi trải qua binh biến mất cả di chỉ. Sau khi cả nước đã yên, tìm hỏi không ra mỗi khi nghĩ đến thương cảm không nguôi ! Nhân đó nghĩ đến chỗ sinh ta ở nhà cũ của Tống Quốc công phu nhân tại ngoại thành Gia Định, vậy sai quan địa phương tìm hỏi xem”.


    Đến đây quan thành Gia Định tìm hỏi được di chỉ ở lân Tân Lộc, vẽ địa đồ dâng lên.


    Vua dụ rằng : “Lân Tân Lộc ở phía hữu thành Gia Định, khi trước, hoàng thái hậu ta đi theo Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta vào Nam, từng đóng lại ở nơi ấy. Thực là hợp với điềm tốt : “Cầu vồng trôi ở bến hoa” ((1) Cầu vồng trôi ở bến hoa : do điển mẹ Thiếu Hiệu là Nữ Ngung ở đời Hoàng Đế, có sao lớn như cầu vồng sa xuống, trôi ở bến Hoa Chử. Nữ Ngung mộng thấy giao tiếp với sao ấy, cảm mà sinh ra Thiếu Hiệu (Theo Bội văn vận phủ).1) nghĩ đến đất quý phát Phước càng nên giữ mãi dấu tích, để khuyến khích sau này. Vậy nên xây dựng ngôi chùa ở ngay chỗ đất ấy, gọi là chùa Khải Tường để ghi sự tốt lành to tát chứng tỏ nơi phát Phước lâu dài”.


    Vua bèn sai lấy của kho 300 lạng bạc, giao quan địa phương, theo cách thức đã định của bộ Công, gọi thợ xây dựng. Lại sai mộ các sư đến ở, hạn là 20 người. Các lễ tiết hằng năm, có ruộng tự điền được đặt để sung cấp. (Phàm gặp tiết Thánh thọ, tiết Vạn thọ và các lễ : ngày Trừ tịch ((1) Trừ tịch : 30 tết.1) trồng cây nêu, tết Nguyên đán, tết Đoan dương((2) Đoan dương : mồng 5 tháng 5.2) tiết Tam nguyên ((3) Tam nguyên : rằm tháng giêng, rằm tháng 7 và rằm tháng 10.3), ngày sóc ((4) Sóc : ngày mồng một đầu tháng.4), ngày vọng ((5) Vọng : ngày rằm.5) đều dâng cúng đồ chay và hương nến).









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXxiV



    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa thu, tháng 9 nhuận, cho các hoàng tử, thân công, và các đình thần tuổi già đều được đi bí tất lên điện.


    Vua thấy mưa rét mấy ngày liền bèn cho đòi bọn chưởng phủ Trần Văn Năng vào dụ rằng : “Ta ở trong cung mình còn thấy rét, nghĩ đến các khanh tuổi già làm sao chịu nổi khi đi lại được. Từ nay về sau những ngày rét lắm, cho được miễn dự đình nghị, nếu vào chầu cho đi giầy tất, đến ngoài cửa tả hữu Túc môn rút giày đi tất lên điện cho đỡ rét. Các hoàng tử, thân công cũng thế”.


    Quản phủ Lâm Thao là Phạm Nhữ Quá coi việc sửa phủ thành, nhân việc công, yêu sách, hối lộ ăn chặn tiền và gạo của những người làm thuê. Tỉnh xử án phạt trượng và cách chức.


    Vua bảo hộ Hình rằng : “Việc khởi công đắp thành cốt để lâu dài về sau. Lại nghĩ giá gạo hiện nay hơi kém nên dùng cách thuê mướn làm việc để thay sự phát chẩn, khiến dân vui vẻ đi làm, như con đến làm cho cha thì công việc chóng xong. Nhữ Quá đã chẳng lo tính cho ổn thoả, gần một năm rồi còn chưa hoàn thành, lại nhân việc công kiếm lợi riêng, bị dân kiện sao có thể xử nhẹ được. Vậy xử tội đồ”.


    Đổi thự Thống chế Hồ Văn Khuê làm thự Thống chế Thần sách Tả dinh. Thăng Vệ uý Thần cơ Hậu vệ là Phan Văn Song lên thự Vệ uý, vệ Hậu nhị dinh Vũ lâm Hữu dực. Thực thụ thự Vệ uý, vệ Trang võ, dinh Thần sách là Tống Văn Uyển làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh Sơn Tây.


    Cai đội Tôn Thất Thiện trước kia vì có tội phải gắng sức làm việc trên đường biển để chuộc tội ; khi về, chết ở Khánh Hoà. Vua nghe tin thương xót, truy tặng Phó vệ uý và thưởng thêm 20 lạng bạc.


    Tuần phủ Hà Tĩnh Nguyễn Danh Giáp can tội, bị cất chức. Giáp hặc tâu về việc Tri phủ Hà Hoa Vũ Xuân Nghi và phủ Đồng tri Vũ Đăng Dương đi khám những dân xiêu giạt, rồi trình báo không đúng sự thực. Bọn Xuân Nghi lại đem những tệ hại riêng của Danh Giáp tố cáo với nguyên án sát Nguyễn Sỹ Bảng, nhờ thay mình đề đạt lên.


    Vua bảo các quan rằng : “Nguyễn Danh Giáp làm chức quan to ở chốn biên cương mà làm nhiều việc trái phép. Bọn Vũ Xuân Nghi đã biết lo việc, lại không lập tức cứ thực tâu bày, mãi đến khi Danh Giáp lên tiếng tham hặc mới đem sự tình việc cũ tố cáo. Đó cũng là bới móc cáo giác lẫn nhau, không phải vì việc công. Trong đó phải hay trái, được hay hỏng đều chưa biết. Nay phái thự Hữu thị lang bộ Lễ sung làm việc Nội các là Trương Phước Đĩnh mang cờ, biển, đem theo ty thuộc bộ Hình và lính trấn phủ đến đó, đòi đủ mọi người làm chứng, tra xét tường tận làm án tâu lên. Nguyễn Danh Giáp, Vũ Xuân Nghi và Vũ Đăng Dương đều lập tức phải cất chức đợi xét. án sát Nguyễn Sỹ Bảng phải triệt lưu nguyên chức cho tạm làm công việc ty Bố chính, hội đồng với án sát mới là Lê Phước An, hộ lý Tuần phủ ấn vụ”. Đến lúc thành án tâu lên, Giáp bị cách chức, sung làm lính giữ đồn ở biên giới tỉnh Quảng Ngãi ; Xuân Nghi và Đăng Dương đều bị cách chức ; Nguyễn Sỹ Bảng vì là đồng sự không đem việc tham hặc trước, cũng là có lòng tư vị bao che, phải phạt giáng 3 cấp.


    Sở Đê chính Bắc Kỳ tâu báo nước sông đã xuống, sóng đã yên.


    Vua dụ răng : “Mùa thu năm nay, nhiều mưa hơn năm trước, mức nước thực to gấp bội, lại thêm gió bão dồn dập, chỉ có đê nhỏ thuộc Bạch Sam và Hoà Khê bị vỡ. Ai chẳng bảo về phần nhân sự, sơ sót về việc phòng ngừa thế mà đê điều lớn nhỏ mọi hạt nhiều chỗ nguy hiểm tưởng nguy lại được yên, đó há chẳng thực nhờ ơn huệ thần linh giúp cho ? Vậy phát hương lụa trong kho Nội phủ giao cho nha Đê chính sửa lễ cúng tế thần sông. Đối với những viên chức giữ việc hộ đê chuẩn cho bộ Lại và bộ Binh bàn xét công lao để thưởng”.


    Cho những viên bị cách chức là Nguyễn Đức Hợi được khai phục làm Vũ khố ngoại ngạch, Tư vụ Nguyễn Huy Chiểu làm Nội vụ phủ Tư vụ.


    Làm nha thự viện Đô sát phường Bảo Hoà ở phía trên hoàng thành, làm công thự Tả đô ngự sử như kiểu dinh Thượng thư Lục bộ, hai bên tả hữu trước sân làm nhà công của mỗi bên một cái ; các thuộc ty dinh Tả phó đô ngự sử làm như kiểu dinh Tham tri Lục bộ, chung quanh đều xây tường gạch trước sau đều có 1 cửa. Dãy nhà các khoa các đạo chung quanh cũng xây tường gạch, trước sau đều có 2 cửa. Duy Tả đô ngự sử thì chưa đặt, đợi sau sẽ liệu. Hữu đô ngự sử, Hữu phó đô ngự sử đều là kiêm hàm của Tổng đốc và Tuần phủ, không phải xây nha thự.


    Đổi đặt chức Phó lãnh binh cho sáu tỉnh : Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây và Bắc Ninh. Trước kia đình thần bàn chia đặt 6 tỉnh, mỗi tỉnh 2 Lãnh binh để có chuyên trách coi quản bộ binh. Bốn tỉnh Nghệ An, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương lại đặt mỗi tỉnh một quan Thuỷ sư Lãnh binh. Đến bấy giờ chuẩn cho các Lãnh binh hiện có, Nghệ An thì chuyên coi các vệ : Tuyển phong tiền, Phấn võ, Trung võ, Tráng võ thuộc Thần sách Tiền dinh ; và các vệ Tráng võ, Cường võ thuộc Thần sách Hậu dinh ; Hà Nội thì chuyên coi 10 cơ Chấn định thuộc Trung quân ; Nam Định thì chuyên coi 10 cơ thuộc Kính tiệp Tiền quân, kiêm quản lĩnh cả Nam Định thuỷ sư ; Hải Dương thì chuyên coi 10 cơ Kiên nhuệ thuộc Tả quân và Hải Dương tượng cơ. Sơn Tây thì chuyên coi 10 cơ Hùng dũng thuộc Hữu quân ; Bắc Ninh thì chuyên coi 10 cơ Uy thắng thuộc Hậu quân. Tất cả vẫn đều sung làm Lãnh binh quan. Còn Nghệ An thì chuyên các vệ : Tuyển phong tả, Diệu võ, Định võ, Nghiêm võ, thuộc Thần sách Tả dinh và cơ An tượng ; Hà Nội thì chuyên coi các cơ : Thiện võ, Hà Nội, Nghiêm dũng và Hà Nội tượng cơ ; Nam Định thì chuyên coi các cơ Tráng uy, Nam Định, Lạc dũng và Nam Định tượng cơ; Hải Dương thì chuyên coi các cơ Chính võ, Hải Dương, và kiêm coi Hải Dương thuỷ sư ; Sơn Tây thì chuyên coi các cơ Võ dũng, Sơn Tây và Sơn Tây tượng cơ, cùng các đội Tùng thiện ; Bắc Ninh thì chuyên coi các cơ Cự uy, Bắc Ninh, Bắc thuận và Bắc Ninh tượng cơ ; tất cả đều đổi làm Phó lãnh binh quan.


    Đặt 8 sở tấn và bảo ở Nghệ An và Hà Tĩnh. Nghệ An 2 tấn sở là Sam Mãn tấn ở Quảng huyện phủ Trấn Ninh, Mường Then tấn ở huyện Kỳ Sơn : đều xây đắp thành đất, dùng 1 thổ mục và 30 thổ dân coi giữ 4 đồn bảo là Man Lâm bảo ở huyện Thanh Chương ; Hợp Nhuế bảo ở huyện Đông Thành ; Gia Vị bảo và Kỷ Sâm bảo đều ở huyện Trung Sơn ; ngoài đồn bảo thì trồng tre và cây. Hai đồn bảo Man Lâm và Hợp Nhuế đều dùng một suất đội ở tỉnh và 20 biền binh coi giữ. Hai đồn bảo, Gia Vị và Kỷ Sâm đều dùng một thổ mục và 30 thổ dân coi giữ. Hà Tĩnh 2 tấn sở là Từ Lĩnh tấn ở huyện Kỳ Hoa, đồn Trại Phước tấn ở huyện Hương Sơn ; đều đắp luỹ đất dùng biền binh ở tỉnh đóng giữ ; Từ Lĩnh có một suất đội, 20 lính ; Trại Phước có một suất đội, 50 lính.


    Đặt thêm nhân viên và chức dịch ở Nội vụ phủ. Ngạch trước có 1 Lang trung, 2 Viên ngoại lang, 4 Chủ sự, 3 Tư vụ, 6 Bát phẩm thư lại, 6 Cửu phẩm thư lại, 33 Vị nhập lưu thư lại, nay thêm 1 Tư vụ, 2 Bát phẩm thư lại, 2 Cửu phẩm thư lại, và 7 Vị nhập lưu thư lại.


    Tỉnh Sơn Tây bắt được tướng giặc là lũ Hoàng Khắc Sủng, Hoàng Phùng Thản và hơn 10 tên đồ đảng giết đi. Bộ biền Lãnh binh là Trần Văn Lộc và Vĩnh Tường Quản phủ là Nguyễn Duy Trữ đều được thưởng kỷ lục 1 thứ ; các biền binh được thưởng 300 quan tiền.


    Dời toà nhà Khâm thiên giám ra nơi khác (làm bên tả phường Nam An trong Kinh thành).


    Đình thần dâng lên tập án Phước thẩm mùa thu sau khi đã hội đàm. Vua chuẩn cho những tù phạm tội chết giảm xuống tội phát phối sung quân được cho làm lính hơn 70 người, trong số ấy có người từ 70 tuổi trở lên, thì phê cho đánh trượng rồi tha. Sau đó lại dụ bộ Hình rằng : “Về tập án mùa thu năm nay căn cứ vào tờ phiếu do đình thần đã lựa tâu, xét đi xét lại kỹ càng, trong ấy có tù phạm từ 70 tuổi trở lên mà án can phạm là hành hung, bẻ khoá vượt ngục, đều thuộc sự tình hung bạo, nhưng vì tuổi già phạm tội theo luật có điều khoan giảm rõ ràng. Vậy đặc cách phê cho xử nhẹ đánh trượng rồi tha. Lại nghĩ những người tuổi già, khí huyết suy yếu làm sao lại có tình trạng hung ác ấy ? hoặc giả hung hãn quen tính đến già không đổi, hay là mạo tăng tuổi để mong viện lệ được giảm cũng chưa biết chừng. Ví chẳng tra xét rõ ràng e kẻ xảo trá có thể mong được ưa may hưởng lệ khoan hồng. Vậy bộ Hình ngươi nên chiếu theo tập án tư sức cho các địa phương xét những tù phạm ấy xem quả có già yếu lọm khọm, mặt và tuổi cùng phù hợp nhau hay là gân xương hình dáng còn khoẻ mạnh đanh ác, đều phải cứ thực tâu lên để sẽ lại xuống chỉ thi hành. Từ đây về sau đối với những người can án phạm tội giống như loại ấy chuẩn cho đều theo lệ này xét nghiệm, rồi hồ sơ cứ để ở trong tập án”.


    Lại có con nghịch phạm Lê Duy Hoán là Lê Duy Minh bị giam hơn 10 năm, đến bây giờ đình thần xét lại án xin chém ngay cũng đã châu phê chuẩn y rồi. Nhưng vua lại nghĩ : lúc Duy Hoán phạm tội, Minh còn bé dại, không biết gì, nên không nỡ đem chém, liền truyền chỉ cho Tổng đốc Hà Ninh sức cho nó tự thắt cổ chết rồi cấp cho vải lụa và quan tài để chôn.


    Sai Lê Thuận Tĩnh hiệp cùng Vũ Văn Giải và Nguyễn Trọng Tính kiêm coi Thị vệ. Vũ Văn Giải lại kiêm coi các đội Dực võ, ty Loan nghi, vệ Loan giá. Lê Thuận Tĩnh kiêm coi đội Tài hoa ; Nguyễn Trọng Tính kiêm coi đội Kim sang.


    Cho Phan Văn Đổng làm Vệ uý vệ Minh võ, Đoàn Văn Cải làm Vệ uý vệ Tuyển phong tiền, Trần Tiến Lưu làm Vệ uý vệ Nghiêm võ, Nguyễn Văn Huy làm Vệ uý vệ Cung võ, Nguyễn Cửu Đức làm Phó vệ uý Ban trực tả, Văn Hữu Xuân làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong tả.


    Tuần phủ Quảng Trị là Trần Danh Bưu xin về cư tang. Vua cho thự Tả tham tri bộ Lại là Nguyễn Tú làm Bố chính Quảng Trị, tạm giữ ấn và công việc Tuần phủ. Đổi Lang trung Vũ khố là Trần Văn Tuân làm Lang trung bộ Lại, thự Tả thị lang thự Lang trung bộ Hình là Cao Hữu Dực làm Công bộ Lang trung sung làm đốc công ở công sở Vũ khố.


    Triệu các đốc học các địa phương về Kinh, dẫn vào ra mắt vua. Đốc học Định Tường Vũ Đức Mẫn, Đốc học Quảng Trị Vũ Viết Cao, Đốc học Nam Định Dương Huy Kiều, Đốc học Bắc Ninh Lâm Văn Bính và Đốc học Quảng Yên Lê Sỹ Thường đều được dùng làm Viên ngoại lang. Thự Đốc học Phước Yên Phạm Gia Lâm và thự Đốc học Quảng Bình Trịnh Ngọc Lâm đều được dùng làm thự Viên ngoại lang. Lại có Vũ Đình Tuấn, Đốc học Hưng Yên, trước kia làm Tri huyện Kim Bảng vì tội tham tang việc phát giác, bộ Hình làm buồm ((1) Buồm : mảnh giấy nhỏ tóm tắt một bản án hoặc một hồ sơ, nêu lên để tiện nhận xét (nguyên văn là “phiếu ”).1) nghĩ xử cách chức, nhưng trong nguyên án có lời vua cho ghi xuống tội giáng chức và đổi đi. Về sau, Nguyễn Khoa Minh đề cử Tuấn làm Đốc học, thấy lý lịch của Tuấn vua ghét liền cách chức cho trở về sổ dân. Quan Hình bộ đương thứ là Nguyễn Kim Bảng phải giáng một cấp, người đứng đề cử là Nguyễn Khoa Minh phải phạt lương 6 tháng.


    Lại có Vũ Thúc, Đốc học Hà Tĩnh, lúc vào chầu không nói được một lời, cũng cách chức, bổ vào Quốc tử giám đọc sách, rồi lại bắt về hưu. Đốc học Biên Hoà là Đào Trinh có chỉ cho phục hồi nguyên chức. Trinh nhân say rượu, nói bừa bãi bị quan Kinh doãn tham hặc cũng bị cách chức.


    Vua dụ Nội các rằng : “Từ trước đến nay, đốc học, tri phủ vào ra mắt, thường xuống chỉ cho dùng làm ty viên Lục bộ, ta nghĩ : lũ ấy đều do khoa mục xuất thân, nên đặc cách cất nhắc lên, song trong lũ ấy chưa chắc không có người non yếu, nếu chẳng sát hạch kỹ hơn, thì kẻ hèn kém sẽ ngồi không ăn hại lộn sòng vào đám thổi sáo. Vậy hạ lệnh cho đường quan Lục bộ hết sức xem xét : ai mẫn cán thì cho làm việc như cũ, ai ươn hèn thì cho cứ thực chỉ tên tham hặc đợi chỉ giáng cách, ai già yếu không làm được thì cũng tâu ngay lên, bắt về hưu. Đừng bảo bọn ấy được vua đã đặc cách lựa chọn rồi, dù không làm nổi việc cũng chẳng hặc tâu làm gì”.


    Vua lại nghĩ : học quan mọi hạt phần nhiều không được người giỏi cho nên sĩ tử ít thấy tấn tới. Vậy nay truyền lệnh cho đốc, phủ, bố, án các địa phương đều sát hạch các Đốc học, giáo thụ và huấn đạo thuộc hạt mình, nếu có kẻ học thức nông cạn làm việc thiếu sót thì đuổi đi hặc tâu để ruồng bỏ.


    Hai cửa Liêu, Lác ở Nam Định ngày dần bồi nông. Quan tỉnh tâu báo mực nước, theo số đã ghi (Cửa Liêu chỗ nông lúc nước lên thì trên dưới 7 thước 5 tấc, lúc nước xuống thì trên dưới 2 thước 5 tấc. Cửa Lác, chỗ nông, khi nước lên, trên dưới 5 thước 8 tấc, lúc nước xuống trên dưới 2 thước 1 tấc).


    Vua bảo bộ Công rằng : “Cửa biển nông cạn, chẳng những không tiện cho thuyền bè đi lại, mà đến lúc mưa to, lối nước chảy bị ngăn cản ở dưới, thì ứ lại ở trên. Các đê Kim Quan đều đáng lo ngại. Vậy nên nghĩ cách khơi nạo cho chảy thông”. Bộ Công tâu rằng : “Xét đời nhà Tống có làm ra cái cuốc khơi sông. Cách làm : lấy cái lưỡi cuốc bằng sắt buộc ở sau thuyền cho thuyền đi đi lại lại chỗ nông nạo vét bùn cát. Phép đó tưởng cũng nên làm”. Vua bèn sai giám thành suất đội là Nguyễn Công Tiến đi hội với tỉnh phái, làm thử vừa mới được 2, 3 tấc, sóng biển đã dồn vào, lại lấy đầy như cũ. Thự Tổng đốc Đặng Văn Thiêm đến tại chỗ hỏi người bản thổ, thì họ đều nói : Cửa Lác không thể khơi được, rồi, duy có cửa Liêu đi lại hơi tiện. Những năm trước, đường cảng này vẫn sâu, từ khi có cái bãi nổi lên ngăn trở nước sông chảy mạnh thành ra cửa sông Lạch Ngang chia chảy ra cửa Lác, thế nước cửa Liêu dần dần yếu đi, bùn cát ngày càng bồi lên nông. Bây giờ nên làm cái mỏ kè để lấp Lạch Ngang, thì nước thượng lưu chảy thẳng, mới có thể đẩy bật cát mà thông ra cửa biển. Có lũ Trần Ngọc Chấn 6 người ở bản thổ, tình nguyện tự bỏ tiền của và công sức để đắp kè tính phí tổn đến hơn 2.000 quan tiền. Thiêm đem việc ấy tâu lên và nói : “Những điều họ đã trình bày dường cũng có lý, dẫu chưa chắc sau này có công hiệu hay không, nhưng hãy tạm theo ý muốn, tưởng cũng không hại gì”.


    Vua cho rằng lũ Ngọc Chấn sốt sắng việc công ưa làm điều nghĩa rất đáng khen, trước hãy thưởng cho 100 quan tiền, ra lệnh cho quan tỉnh đôn đốc việc làm, nếu quả có thành hiệu, sẽ lại khen thưởng thêm.


    Thị vệ Trần Đức Tế nhân việc công, ra Hà Nội, bắt được người chứa thuốc phiện lậu, quan tỉnh bàn xin theo lệ thưởng cho 30 nén bạc.


    Vua bảo bộ Hình rằng : “Đức Tế vâng lệnh đi việc công, chẳng phải là người làm việc đi bắt kẻ gian lậu, nếu dò được phạm nhân thì nên tức khắc báo quan, sao được bắt thẳng ? Nay không cho thưởng, lại xử phạt 80 trượng để răn người khác. Từ đây về sau, phàm những nhân viên thị vệ đi công sai, cấm không được can thiệp việc ngoài, để ngăn thói kiêu bạc”.


    Đi săn về mùa thu.


    Thuyền vua đêm đỗ ở bến sông An Nông, có người lính trong đội Kim sang là Nguyễn Đình Vũ đang ngủ nói mê, quân túc trực canh phòng là Lê Phước Phú đương ngủ dậy, kêu to lên, người trong thuyền đều hưởng ứng ầm ĩ. Vua sai bọn Bùi Công Huyên, Hà Duy Phiên tra xét rõ ràng để trả lời vua biết. Khi tâu lên vua bảo quần thần : “Khoảng niên hiệu Gia Long, ta theo Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế đến
  • Chia sẻ trang này