0060.0040

25/12/15
0060.0040
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Cam Lộ ở Quảng Trị đều đã đặt ra phủ, huyện, chia bổ quan chức. Đến như các phủ đất mới mở cũng đã bỏ thổ quan đặt lưu quan, mọi việc đều được sắp xếp đâu ra đó. Thế mà một hạt Thuận Thành phong tục vẫn nguyên như cũ hình như chỉ tạm ràng buộc, e chưa hợp với nghĩa đồng đều chung một phong tục. Vậy xin đặc cách sai quan Kinh một phen kinh lý để cho sự thể được giống như người Kinh”.


    Vua cho rằng Tả thị lang bộ Lễ là Lê Nguyên Trung, trước đã làm Hiệp trấn Bình Thuận, biết rõ tình trạng, bèn sai đi hội đồng với quan trấn, bàn tính công việc. Khi Trung đến nơi, tuyên dương uy đức triều đình, Cai đội, thự Phó trấn thủ là Nguyễn Văn Thừa, tự dẫn dân thổ đến xin biên thành sổ hộ làm dân nhà nước. Trung bèn nghĩ xin đặt ra phủ huyện người Kinh, người Thổ khác nhau. Đình thần bàn rằng Thuận Thành với Bình Thuận, xưa nay nhân dân vẫn cày cấy, ăn ở lẫn lộn, không nên chia tách nọ kia, xin cứ đổi nguyên trấn làm phủ Ninh Thuận, đặt thêm 2 huyện Tuy Định, Tuy Phong. Còn ruộng đất của thổ dân vẫn ở thì cho hợp vào 2 huyện Hoà An, An Phước phủ Hàm Thuận liệu đất mà chia đặt. Từ cuối hạt Bình Hoà đến sông Ma Bố, là huyện An Phước ; từ phía nam sông Ma Bố đến sông Tiến Giang là huyện Tuy Phong ; từ phía nam Tiến Giang đến núi La Bông là huyện Hoà Đa ; từ phía nam núi La Bông đến đầu địa giới Biên Hoà, là huyện Tuy Định. Rồi lấy 2 huyện An Phước và Tuy Phong lệ thuộc phủ Ninh Thuận ; 2 huyện Hoà Đa, Tuy Định lệ thuộc phủ Hàm Thuận. Mỗi phủ đặt 1 Tri phủ, 1 Giáo thụ. Tri phủ Ninh Thuận kiêm lý huyện An Phước, Tri phủ Hàm Thuận kiêm lý huyện Hoà Đa. Hai huyện Tuy Phong, Tuy Định, mỗi huyện đặt 1 Tri huyện, 1 Huấn đạo. Lại tuỳ theo sự liên lạc của các địa giới, huyện đặt từng tổng (An Phước, Tuy Phong, Hoà Đa mỗi huyện 4 tổng : 2 tổng người Kinh, 2 tổng người Thổ. Huyện Tuy Định 3 tổng : 2 tổng người Kinh, 1 tổng người Thổ, mỗi tổng đặt một Cai tổng ; tổng Kinh dùng người Kinh, tổng Thổ dùng người Thổ. Còn thuế ruộng đất của thổ dân thì vẫn cho như cũ, đợi sau 3 năm, sẽ gộp với thuế thân, châm chước định mức mà đánh thuế. Sự ăn, mặc, tang tế cũng vẫn cho theo thổ tục, về sau phong tục dân gian đã đồng đều, thì ban họ cho như họ Đào, họ Mai, họ Trúc, họ Tùng,vân vân, để tỏ rõ tộc loại).


    Vua y theo, bèn cho Nguyễn Văn Thừa làm Quản cơ, thưởng cho bộ mũ áo Tứ phẩm đại triều, ra lệnh cho làm việc công ở trấn Bình Thuận, coi quản đốc suất thổ dân các tổng và các sách man Trà Nương, thu nộp thuế khoá. Thuộc hạ là các Chánh đội trưởng Nguyễn Văn Giảng, Nguyễn Văn Thuận và Nguyễn Văn Thanh đều cho làm Cai đội, hàm Chánh lục phẩm, thưởng cho mũ áo thường triều, theo Nguyễn Văn Thừa sai khiến.


    Bắt đầu sai chia hạt, đặt quan từ Quảng Nam trở vào Nam.


    Trước đây dụ bộ Lại rằng : “Việc chia hạt đặt quan ở Bắc Kỳ, hiện đã quy định xếp đặt thi hành rồi, vậy Nam Kỳ từ Quảng Nam đến Gia Định cũng nên theo các tỉnh từ Quảng Trị trở ra Bắc, đặt các chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát và Lãnh binh để tỏ ra có sự thống nhất”.


    Nhưng lại nghĩ : “Một hạt Gia Định là nơi có nhiều công việc quan trọng, như vỗ về thuộc quốc phòng giữ nước ngoài. Vậy ra lệnh cho đình thần bàn tâu đợi chỉ thi hành. Đến bấy giờ đình thần họp bàn cho rằng chia đất, đặt quan làm phên giậu che đỡ, thực là mưu kế rất hay về việc trị dân, giữ nước. Năm trước, chia đặt các tỉnh Bắc Kỳ, những việc mưu ích lợi, trừ tệ hại, thực có công hiệu sờ sờ ra rồi. Các trấn Nam Kỳ, địa thế dẫu có lớn, nhỏ, xa, gần khác nhau, nhưng mọi việc như quân, dân, tài chính, thuế kháo, hình án, đều không khác gì Bắc Kỳ. Nay chia đặt tỉnh hạt, thiết lập quan chức, có hai ty Bố chính, án sát, chia giữ các việc tài chính thuế khoá và hình luật, có Lãnh binh quan cai quản, quan võ và binh lính tất cả đều thuộc quyền Tổng đốc, Tuần phủ. Như vậy thì chức vụ đều có chuyên trách, mọi việc mới mong sắp xếp được hẳn hoi. Còn Gia Định thành, Tổng trấn và các chức Trấn thủ, Hiệp trấn, Tham hiệp ở các trấn đều nên bỏ đi, vả lại, một hạt Gia Định gần thì liền đất với Chân Lạp là thuộc quốc, xa thì lân cận với Xiêm La là láng giềng, mà đất Châu Đốc lại là nơi rất xung yếu. Nhưng dân cư chưa được đông đúc, địa lợi chưa được mở mang, gần đấy, có Vĩnh Long, đất rộng, dân giàu, hơn cả mọi hạt. Vậy xin tách lấy 2 huyện Vĩnh An và Vĩnh Định thuộc Vĩnh Long, gộp với đất Châu Đốc, lập làm tỉnh An Giang ; đặt một viên Tổng đốc đại thần kiêm lĩnh quả ấn bảo hộ nước Chân Lạp. Phàm các công việc vỗ về người xa, phòng ngừa giặc ngoài đều giao cho cả. Đã có trọng binh để mạnh về mặt quân sự, có nhiều kho tàng đề phòng lúc cần dùng, lại tuyên dương đức ý triều đình để vỗ về dân chúng, sửa việc quân chính để trấn áp kẻ địch, thì bờ cõi ta được bền vững, thuộc quốc càng tin theo, nước láng giềng lại càng sợ phục”. Rồi đem những điều nghĩ định kê rõ tâu lên.


    I. Chia tỉnh hạt :


    Tỉnh Quảng Nam : thống trị 2 phủ Điện Bàn, Thăng Hoa và 5 huyện Duyên Phước, Hoà Vinh, Duy Xuyên, Lễ Dương, Hà Đông.


    Tỉnh Quảng Nghĩa : thống trị 1 phủ Tư Nghĩa và 3 huyện Chương Nghĩa, Bình Sơn, Mộ Hoa.


    Tỉnh Bình Định : thống trị 2 phủ, An Nhân, Hoài Nhân và 5 huyện Tuy Viễn, Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Bồng Sơn. Nguyên huyện Tuy Viễn chia làm 2 huyện Tuy Viễn, Tuy Phước ; nguyên huyện Phù Ly chia làm 2 huyện Phù Cát, Phù Mỹ đặt riêng làm phủ An Nhân. Ba huyện Phù Cát, Phù Mỹ, Bồng Sơn, vẫn để là phủ Hoài Nhân.


    Tỉnh Phú Yên : thống trị 1 phủ Tuy An và 2 huyện Đồng Xuân, Tuy Hoà.


    Tỉnh Bình Thuận : thống trị 2 phủ Hàm Thuận, Ninh Thuận và 4 huyện Hoà Đa, An Phước, Tuy Định, Tuy Phong.


    Tỉnh Khánh Hoà : trước là Bình Hoà, thống trị 2 phủ Diên Khánh, Ninh Hoà và 4 huyện Phước Điền, Vĩnh Xương, Quảng Phước, Tân Định. Trước 2 huyện Hoa Châu và Phước Điền, nay gộp làm huyện Phước Điền.


    Tỉnh Phiên An : thống trị 2 phủ Tân Bình, Tân An và 5 huyện Bình Dương, Tân Long, Phước Lộc, Thuận An, Tân Hoà. Nguyên 4 tổng Thịnh Hội, Thịnh Mục, Hoà Lạc, Hoà Đồng ở huyện Kiến Hào thuộc Định Tường, trích ra đặt làm huyện Tân Hoà, đổi thuộc Phiên An ; lấy 3 huyện Phước Lộc, Thuận An, Tân Hoà đổi đặt làm phủ Tân An ; 2 huyện Bình Dương, Tân Long vẫn là phủ Tân Bình.


    Tỉnh Biên Hoà : thống trị 1 phủ Phước Long và 4 huyện Phước Chính, Phước An, Bình An, Long Thành.


    Tỉnh Vĩnh Long : thống trị 3 phủ Định Viễn, Hoằng An, Lạc Hoá và 6 huyện Vĩnh Bình, Vĩnh Tự, Tân Minh, Bảo An, Tuân Nghĩa, Trà Vinh. Phủ Lạc Hoá nguyên thuộc thành Gia Định nay đổi thuộc Vĩnh Long. Nguyên huyện Vĩnh Bình nay chia làm 2 huyện Vĩnh Bình và Vĩnh Trị.


    Tỉnh Định Tường : thống trị 1 phủ Kiến An và 3 huyện Kiến Hưng, Kiến Đăng, Kiến Hoà.


    Tỉnh An Giang : thống trị 2 phủ Tân Thành, Tuy Biên và 4 huyện Vĩnh An, Vĩnh Định, Đông Xuyên, Tây Xuyên. Nguyên đất Châu Đốc và lấy 2 huyện Vĩnh An, Vĩnh Định, ở phủ Định Viễn thuộc Vĩnh Long đổi làm tỉnh An Giang ở mé đông sông Hậu Giang đặt huyện Đông Xuyên, lấy những thôn ấp mới lập đặt làm 1 tổng, lại lấy 2 tổng thuộc huyện Vĩnh Định cho lệ thuộc vào. ở mé tây sông Hậu Giang đặt huyện Tây Xuyên, trích lấy 4 tổng huyện Vĩnh An cho lệ thuộc vào. Lấy 2 huyện Đông Xuyên, Tây Xuyên đặt làm phủ Tuy Biên ; 2 huyện Vĩnh An, Vĩnh Định đặt làm phủ Tân Thành.


    Tỉnh Hà Tiên : thống trị phủ Khai Biên và 3 huyện Hà Châu, Long Xuyên, Kiên Giang. Phủ Khai Biên nguyên là phủ An Biên đổi ra ; huyện Hà Châu nguyên là huyện Hà Tiên đổi ra. Về sau Bình Định có tên khác là tỉnh Chiêm, Hà Tiên có tên khác là tỉnh Biên.


    II. Đặt quan chức :


    Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát, Lãnh binh từ quan hàm đến phẩm trật cũng như Bắc Kỳ, duy có các tỉnh Bình - Phú, An - Biên, Long - Tường, An - Hà, thì Tổng đốc kiêm làm việc Tuần phủ. Tổng đốc An - Hà lại kiêm cả việc bảo hộ nước Chân Lạp. Nam - Ngãi, Thuận - Khánh, thì đặt Tuần phủ kiêm làm việc Bố chính sứ. ở các tỉnh, đều có 1 Bố chính và 1 án sát ; duy tỉnh Quảng Nam và tỉnh Bình Thuận đã có Tuần phủ kiêm việc Bố chính rồi nên chỉ đặt 1 án sát. Biên Hoà, Định Tường và Hà Tiên thì dùng Bố chính quyền giữ ấn và làm việc Tuần phủ.


    Hai ty Bố, án, mỗi ty có 1 Thông phán và 1 Kinh lịch. Bát, Cửu phẩm thư lại đến Vị nhập lưu thư lại, tuỳ tỉnh to hay nhỏ mà nhiều hay ít khác nhau.


    Quảng Nam, Phú Yên, Khánh Hoà, Biên Hoà, Định Tường, Hà Tiên, mỗi tỉnh đặt 1 Lãnh binh quan, dùng quan Tòng tam phẩm. Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận, Phiên An, Vĩnh Long, An Giang, mỗi tỉnh đặt 1 Lãnh binh quan dùng quan Chánh tam phẩm và 1 Phó lãnh binh quan, dùng quan Tòng tam phẩm.


    Lãnh binh quan Quảng Nam chuyên các quản cơ Nam tráng, cơ Quảng Nam, cơ Nam tượng và kiêm coi Thuỷ cơ Quảng Nam.


    Lãnh binh quan Quảng Nghĩa chuyên coi quản lục cơ Tĩnh man, cơ Nghĩa tượng. Phó lãnh binh quan chuyên coi cơ Nghĩa tráng, cơ Quảng Nghĩa, kiêm coi cả Thuỷ cơ Quảng Nghĩa.


    Lãnh binh quan Bình Định chuyên coi cơ Định dũng, cơ Định tráng, cơ Định tường. Phó lãnh binh quan chuyên coi cơ Bình Định, kiêm quản Thuỷ cơ Bình Định.


    Lãnh binh quan Phú Yên chuyên coi cơ Phú tráng, cơ Phú Yên, cơ Phú tượng, cơ An man kiêm quản Thuỷ cơ Phú Yên.


    Lãnh binh quan Bình Thuận chuyên coi 2 cơ Thuận nghĩa tả, hữu, cơ Thuận tượng. Phó lãnh binh quan chuyên quản cơ Thuận tráng, cơ Bình Thuận, kiêm quản Thuỷ cơ Bình Thuận.


    Lãnh binh quan Khánh Hoà chuyên coi cơ Hoà thắng, cơ Hoà tráng, cơ Khánh Hoà, kiêm quản Thuỷ cơ Khánh Hoà.


    Lãnh binh quan Phiên An chuyên coi 2 cơ Phiên bình tả, hữu, cơ Phiên An, cơ Phiên võ, cơ Phiên thuận, và tượng cơ Phiên An. Phó lãnh binh quan chuyên quản 4 cơ Phiên dũng tiền, tả, hữu, hậu ; kiêm quản Thuỷ cơ Phiên An.


    Lãnh binh quan Biên Hoà chuyên coi cơ Biên hùng, cơ Biên hào, 2 cơ Biên uy tả, hữu, tượng cơ Biên Hào, kiêm quản Thuỷ cơ Biên Hoà.


    Lãnh binh quan Vĩnh Long chuyên coi 2 cơ Vĩnh bảo tả, hữu, 3 cơ Vĩnh uy trung, tả, hữu. Phó lãnh binh quan chuyên coi 2 cơ Vĩnh nhuệ tả, hữu, cơ Vĩnh hoá, kiêm quản Thuỷ cơ Vĩnh Long.


    Lãnh binh quan Định Tường chuyên coi cơ Định uy, 3 cơ Định thắng trung, tả, hữu, kiêm quản Thuỷ cơ Định Tường.


    Lãnh binh quan An Giang chuyên coi cơ An bình, 4 cơ An nghị tiền, tả, hữu, hậu. Phó lãnh binh quan chuyên coi cơ An Giang, cơ An viễn kiêm quản cả Thuỷ cơ An Giang.


    Lãnh binh quan Hà Tiên chuyên coi cơ Hà điện, cơ Hà Tiên, cơ Hà phú kiêm quản Thuỷ cơ Hà Tiên.


    Cơ Nam tráng Quảng Nam, cơ Nghĩa tráng Quảng Nghĩa, cơ Định tráng Bình Định, cơ Phú tráng Phú Yên, cơ Thuận tráng Bình Thuận, cơ Hoà tráng Khánh Hoà đều là các đội Trấn binh trước đổi ra. Thuỷ cơ Quảng Nam, Thuỷ cơ Bình Định còn thiếu, sẽ mộ. Thuỷ cơ Quảng Ngãi nguyên là tám đội thuộc vệ Minh nghĩa ở Tả quân dồn bổ lại, cơ Định dũng, Bình Định, nguyên là vệ Hùng dũng ở Hậu quân đổi ra. Cơ Định tượng, nguyên là cơ Bình tượng đổi ra. Thuỷ cơ Phú An nguyên là đội tam Kiên thuỷ đổi ra. Thuỷ cơ Phú An nguyên là đội tam Kiên thuỷ đổi ra. Hai cơ Thuận nghĩa tả, hữu Bình Thuận nguyên là 2 cơ Thuận nghĩa nhất, nhị đổi ra, Thuỷ cơ Bình Thuận nguyên là đội ngũ Thuận thuỷ đổi ra, Thuỷ cơ Khánh Hoà nguyên là đội tứ Hoà thuỷ đổi ra, cơ Khánh Hoà, nguyên là cơ Bình Hoà đổi ra. Hai cơ Phiên An tả, hữu, nguyên là 2 cơ Phiên Bình tiền, hậu đổi ra, cơ Phiên An nguyên là đội tam Trấn binh, đội tam Thanh châu, đội tam Vũ tín, đội Giá nhuệ, đội Chân nghi, đội Gia bình, đội An công, đội Thuỷ sai của thành Gia Định dồn bổ lại. Cơ Phiên võ, nguyên là mã đội Phan An, cơ Võ cư dồn bổ, cơ Phiên thuận, nguyên là đội tam, cơ An thuận, thuộc Tả quân, đội thất vệ Bảo thành, đội Bảo trung dồn bổ. Tượng cơ Phiên an nguyên là đội lục, cơ Định Tường thuộc thành chia tách mà bổ vào, voi trận 40 thớt. Cơ Phiên dũng, nguyên là trung chi Gia dũng đồn điền đổi ra. Tả cơ Phiên dũng nguyên là tả chi Gia dũng đồn điền đổi ra. Hữu cơ Phiên dũng nguyên là tiền chi Gia dũng đồn điền đổi ra. Hậu cơ Phiên dũng nguyên là hậu chi Gia dũng đồn điền đổi ra. Thuỷ cơ Phiên an nguyên là đội ngũ Phiên võ cùng cơ Định uy hậu và các đội Định tín thuộc Định Tường mà quê quán ở 4 tổng thuộc huyện Kiến Hoà đã đổi thuộc tỉnh Phiên An trước dồn bổ. Cơ Biên Hoà nguyên là các đội Diêm tiêu, Kiên thành, Hoa tiêu thuộc cơ Tuần thành và thuộc binh Vũ nha thuộc thành Gia Định cùng các đội trấn binh cơ Biên Thịnh thuộc Biên Hoà và trung chi Kiến võ cũ dồn bổ. Cơ Biên uy tả nguyên là hữu chi Gia uy đồn điền đổi ra. Hữu cơ Biên uy nguyên là hậu chi Gia uy đồn điền đổi ra. Tượng cơ Biên Hoà nguyên là đội tứ cơ Định tượng thuộc thành Gia Định chia bổ, voi trận 25 thớt. Thuỷ cơ Biên Hoà nguyên là tả chi Gia uy đồn điền đổi ra. Cơ Vĩnh bảo tả ở Vĩnh Long nguyên là 2 cơ Vĩnh bảo hữu, hậu quê ở huyện Bảo an dồn bổ. Hữu cơ Vĩnh bảo nguyên là cơ Vĩnh bảo tả, mà quê ở 2 huyện Vĩnh Bình, Tân Minh dồn bổ. Ba cơ Vĩnh uy trung, tả, hữu, nguyên là 3 cơ trung, tiền, tả ở đồn Uy viễn đổi ra. Hai cơ Vĩnh nhuệ tả, hữu nguyên là 2 cơ hữu, hậu đồn Uy viễn đổi ra. Cơ Vĩnh hoá nguyên là đội Lạc hoá ngũ thuộc thành Gia Định đổi ra, Thuỷ cơ Vĩnh Long nguyên là 3 cơ Vĩnh bảo tiền, hữu, hậu, quê ở hai huyện Vĩnh Bình, Tân Minh dồn bổ. Cơ Định uy ở Định Tường, nguyên là cơ Định uy tiền đổi ra. Trung cơ Định thắng nguyên là hữu chi Gia dũng đồn điền đổi ra. Tả cơ Định thắng nguyên trung chi Gia uy đồn điền đổi ra, hữu cơ Định thắng nguyên là tiền chi Gia uy đồn điền đổi ra. Thuỷ cơ Định Tường, nguyên là cơ Định uy hậu và đội Định tín tứ dồn bổ. Cơ An bình An Giang nguyên là cơ Vĩnh bảo trung ở Vĩnh Long mà quê ở huyện Vĩnh An dồn bổ. Tiền cơ An nghị nguyên là trung chi Gia nghị đồn điền đổi ra. Tả cơ An nghị nguyên là tiền chi Gia nghị đồn điền đổi ra. Hữu cơ An nghị nguyên là hữu chi Gia nghị đồn điền đổi ra. Hậu cơ An nghị nguyên là hậu chi Gia nghị đồn điền đổi ra. Cơ An Giang nguyên là cơ Bảo biên thuộc thành Gia Định cùng các đội An bộ, Cường bộ, Hùng bộ, đội Dũng sai nhất phủ Lạc Hoá, đội Châu Đốc tứ và đội An hải nhất dồn bổ. Cơ An viễn nguyên là cơ Tĩnh biên đồn Uy viễn đổi ra. Thuỷ cơ An Giang nguyên là trung cơ Vĩnh bảo thuộc Vĩnh Long quê ở huyện Vĩnh Bình, và nguyên Tiền cơ quê ở 2 huyện Vĩnh An, Vĩnh Định, nguyên Hữu cơ, quê ở huyện Vĩnh An dồn bổ. Cơ Hà điện ở Hà Tiên nguyên là các đội Long quang, Kiên nghị dồn bổ. Cơ Hà Tiên nguyên là chi Kiên hùng đổi ra. Cơ Hà phú nguyên là đội Nhất cơ Hà Tiên và các đội Phú cường, Thanh châu, Bình đao, Kiên dũng, Cường nghĩa dồn bổ, Thuỷ cơ Hà Tiên, nguyên là tả chi Gia nghị đồn điền đổi ra. Các tỉnh lại đặt 1 Thành thủ uý, trật Tòng tứ phẩm.


    III. Chia giữa chức vụ :


    Chức vụ của Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát cũng như Bắc Kỳ.


    IV. Công việc nên làm :


    1. Các Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh và các Tuần phủ, Bố chính, án sát kiêm hạt, có việc nên đứng riêng tờ tâu, có việc nên hội nhau cùng tâu, cùng là những việc tra xét án kiện, sửa soạn đệ trình sổ sách, và những khi có động truyền hịch lấy quân trong hạt, hoặc tư báo cho hạt láng giềng, đều hơi giống như sự thể Bắc Kỳ.


    2. Bốn phủ An Nhân, Tân An, Tân Thành, Tuy Biên mới đặt 7 huyện Tuy Phước, Phù Cát, Phù Mỹ, Tân Hoà, Vĩnh Trị, Đông Xuyên, Tây Xuyên và 2 huyện Vĩnh Xương, Tân Định thuộc Khánh Hoà, đều là những nơi giản khuyết ((1) Giản khuyết : nơi phủ huyện ít việc.1) phủ đặt 1 Tri phủ, huyện đặt 1 Tri huyện, đều có riêng 1 nha. Những viên Tri phủ quản lĩnh công việc các huyện thuộc hạt, thì không phải kiêm lý ; duy Hoa Châu, Phước Điền thuộc Diên Khánh đã gộp là một huyện Phước điền thì vẫn do Phủ viên kiêm lý.


    3. Lỵ sở thành Gia Định đã đặt làm tỉnh Phiên An, thì quan lại các tào, các phòng và cục Tạo tác thuộc thành cũ đều bỏ đi.


    4. Phủ Lạc Hoá và 2 huyện Tuân Nghĩa, Trà Vinh mới thuộc Vĩnh Long. Công việc có ít thì đặt 1 Tri phủ quản lĩnh phủ hạt và kiêm lý huyện Tuân Nghĩa, còn huyện Trà Vinh thì đặt 1 Tri huyện bỏ bớt chức Tuyên phủ sứ.


    5. Tất cả văn thư sổ sách của Gia Định cũ đều do viên quyền lĩnh ấn thành Gia Định chuyển sức cho các tào kiểm duyệt rồi giao cho Tổng đốc An Biên, để sau này hễ hạt nào có tư đi tra cứu việc gì, thì sao lục đưa cho để chấp chiếu. Còn những thể lệ thông hành xưa nay thì trước hết hãy sao lục đưa cho Tổng đốc An Hà tuân giữ.


    6. Từ Quảng Nam trở vào Nam, các tượng cơ đã lệ thuộc quan địa phương và quan Lãnh binh coi quản. Còn những viên chuyên quản ở Kinh trước đều nên bỏ. Vệ binh Kinh tượng đi thú Gia Định cũng rút về hàng ngũ.


    7. Các hạt Phan An, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên có sự giao thông bằng đường thuỷ ; những nhà, trạm thuỷ dịch đặt từ trước để chuyển đạt đến Kinh, đều nên cứ để như cũ. Lại nên đi lại quan báo thế nào cho việc công được nhanh chóng, thì do địa phương được tuỳ tiện làm cho thoả đáng.


    8. Các đồn điền nguyên có thuế thân ; nay đã sung bổ vào cơ binh thì đều nên miễn.


    9. Đội Lục, thuộc Giáo dưỡng binh ở thành Gia Định cũ có người nào tình nguyện về Kinh, thì bổ vào các đội Giáo dưỡng, còn thì xét theo quê quán, ghi tên vào sổ binh. Đội pháo thủ trấn Phiên An cũ đổi làm đội pháo thủ Nhất của Phiên An.


    Hai đội pháo thủ Nhất, Nhị của thành Gia Định cũ dồn làm đội pháo thủ Nhị của Phan An ; 2 đội Tam, Tứ, dồn làm đội pháo thủ Tam của Phiên An.


    Đội pháo thủ trấn Biên Hoà cũ gộp với đội pháo thủ Ngũ của thành Gia Định cũ dồn làm đội pháo thủ Biên Hoà.


    Đội pháo thủ ở trấn Định Tường cũ gộp với đội pháo thủ Thập ở thành Gia Định cũ dồn làm đội pháo thủ Định Tường. Bốn đội pháo thủ Lục, Thất, Bát, Cửu của thành Gia Định cũ dồn làm 2 đội pháo thủ Nhất, Nhị ở An Giang, chia đóng ở pháo đài Kim Dữ thuộc Hà Tiên và đồn Châu Đốc.


    Đội Pháo thủ Vĩnh Long đã gần đủ số, vẫn để làm đội pháo thủ Vĩnh Long như cũ, đều giao cho Thành thủ uý sở tại kiêm quản.


    Mười đội Hồi lương của thành Gia Định cũ chia cho lệ thuộc Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường và An Giang, mỗi tỉnh 2 đội. Hai đội Gia lâm đổi làm đội Mộc hộ, rồi cho lệ thuộc Phiên An. Đội Thông ngôn đổi cho lệ thuộc An Giang.


    10. Phàm cơ binh triệu mộ ở các hạt, mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người, nếu thiếu thì mộ thêm cho đủ số. Thuỷ cơ hai hạt Quảng Nam, Bình Định hiện còn thiếu ; nếu có người mộ được đủ 1 đội, thì cho tâu xin, thưởng làm Cai đội.


    11. Các hạt từ Bình Định trở vào Nam, sang năm đã đến kỳ duyệt tuyển, hoãn để đến năm Giáp ngọ, Minh Mệnh thứ 15 [1834] sẽ làm.


    12. Các thuế về tiền, thóc, sản vật ở các hạt thuộc thành Gia Định cũ từ đây về sau, đều nộp vào kho ở tỉnh. Các chỗ thuỷ lợi, giang tuần, tổ ong, lưới cá đều do quan địa phương đấu giá phát mại. Còn các sản vật và của kho hằng năm, do bộ Hộ xét tính xem ở Kinh cần dùng bao nhiêu, sẽ tư đi từng hạt để thu mua, rồi sai người vận tải theo đường bộ, đường thuỷ đem nộp.


    13. Các kho tàng thuộc thành Gia Định cũ và kho An Bình ở Phiên An vẫn do Tổng đốc An - Biên nhận giữ. Còn kho Hoà Phước tỉnh Biên Hoà, kho Vĩnh Viễn tỉnh Vĩnh Long, kho Định An tỉnh Định Tường, đều dỡ đem về làm ở tỉnh.


    14. Những quan lại và biền binh tỉnh An Giang mới đặt, hãy đóng tạm ở đồn Châu Đốc, đợi quan Tổng đốc chọn chỗ đất nào có thể làm thành trì thì tâu lên sẽ cho khởi công xây dựng. Các tỉnh có phủ, huyện mới đặt, cũng do quan địa phương tuỳ tiện lựa chọn lấy chỗ đóng và làm việc. Còn tiền công nhu thì tỉnh An Giang chiếu theo lệ tỉnh lớn, mỗi năm cấp cho 250 quan tiền. Còn các phủ huyện thì do bộ Hộ tuỳ nơi nhiều hay ít việc mà châm chước bàn tính chi cấp.


    15. Trong thành Gia Định cũ có nha thự, công sảnh của Tổng trấn, Phó tổng trấn và các tào, các cục, cùng các trại, các nhà ở của chư quân với các nha, thự, trại, xưởng của lỵ sở Phiên An cũ, chỗ nào nên để, chỗ nào nên bỏ, đều do các Tổng đốc An Biên, Long Tường, An Hà hội nghĩ tâu lên. Lại nữa các công sảnh của các trấn thủ các hạt trước, có chỗ xây dựng ở sau hành cung, do bộ Công sẽ gửi kiểu mẫu đến để làm lại.


    16. Các tỉnh Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên và các đồn tấn trước hết hãy đem các thuyền của thành Gia Định cũ mà chia phát ra, rồi do bộ Công tiếp tục xét bàn, sẽ chuẩn định thành ngạch.


    17. Các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát và Lãnh binh các hạt đã cấp cho ấn quan phòng bằng bạc, ấn triện bằng đồng, dấu kiềm bằng ngà để dùng rồi. Còn ấn bạc, kiềm ngà của Tổng trấn thành Gia Định, ấn quan phòng bằng đồng, dấu kiềm bằng ngà của ba tào Hộ, Binh, Hình, cùng với ấn đồng, kiềm đồng của 11 trấn từ Quảng Nam trở vào Nam, ấn quan phòng bằng đồng, dấu kiềm bằng ngà của quản lý Thuận Thành và đồ ký bằng đồng, dấu kiềm bằng gỗ của cục Tạo tác thành Gia Định mà trước đã cấp, đều nộp về bộ để huỷ đi. Duy có ấn bảo hộ nước Chân Lạp thì giao cho quan Tổng đốc An Hà kiêm lĩnh.


    18. Những phủ, huyện mới lập thì phủ đặt 1 Giáo thụ, huyện đặt 1 Huấn đạo để dạy học.


    19. Từ sang năm trở đi hễ kính gặp những tiết Thánh thọ, Vạn thọ, Nguyên đán, Đoan dương, thì các Tổng đốc Bình Phú, An Biên, Long Tường, An Hà, các Tuần phủ Nam - Ngãi, Thuận - Khánh, hội đồng với các Bố chính, án sát trong kiêm hạt, làm tờ mừng, biểu mừng, cùng nhau ký tên, không cần đóng ấn triện quan phòng, rồi lựa giao 1 viên phủ, huyện thuộc hạt mình vào Kinh để mừng. Còn uỷ viên các hạt Nam - Ngãi, Bình - Phú, Thuận - Khánh, đều theo lệ trước là : 1 lần đi mừng tiết Thánh thọ, ở lại đợi lễ tiết Nguyên đán xong, mới trở về lỵ sở ; 1 lần đi mừng tiết Vạn thọ, ở lại đợi lễ tiết Đoan dương xong, mới được về lỵ sở. Duy có các tỉnh An - Biên, Long - Tường, An - Hà, đường sá xa hơn, hằng năm, uỷ viên đi mừng tiết Thánh thọ, phải ở lại đến năm sau, khi xong lễ các tiết Nguyên đán, Vạn thọ, Đoan dương, rồi mới về lỵ sở.


    20. Cung tiến vật phẩm thổ sản từ nay về sau, các Tổng đốc các hạt An - Biên, Long - Tường, An - Hà, đều xét hạt mình và các nơi kiêm hạt, xem có thức gì là thổ sản thì theo lệ, làm tập tấu dâng tiến ; duy có các trái cây Trung Quốc thì do Tổng đốc An Biên chọn mua cung tiến.


    21. Sắp xếp công việc đối với sứ giả (nước ngoài), từ nay về sau, các nước Xiêm La, Chân Lạp sai sứ đến giao hiếu và triều cống đều do quan Tổng đốc An - Hà xét xem đi qua những đâu, chuyển sức cho Bố chính An Giang theo từng khoản mà làm. Sứ bộ mà được chuẩn cho tiến Kinh thì lập tức sửa soạn binh thuyền chuyển giao những hạt tiếp giáp hộ tống. Nếu có công văn đi lại Tổng đốc bàn cùng 2 ty Bố, án, làm cho ổn thoả. Công văn, đứng quan hàm Tổng đốc. Khi có giấy tờ gửi Phật lăng ((1) Phật lăng : có thể là một chức quan to của Xiêm La.1) nước Xiêm thì dùng ấn quan phòng Tổng đốc ; khi có giấy tờ gửi quốc vương Chân Lạp thì đóng ấn bảo hộ nước Chân Lạp. Nếu có việc gì không hợp pháp, thì người bị tội, đầu là Tổng đốc, thứ đến Bố chính và án sát.


    22. Việc áp giải tù phạm. Giải đến hạt gần thì chiếu lệ, đi đường bộ. Còn giải đi hạt xa, từ Quảng Trị trở ra Bắc, thì đi đường biển. Cứ đến kỳ chở tù, Tổng đốc, Tuần phủ phái ra cho ty án sát giải, và cấp lương ăn, làm giấy tư vào Kinh, do bộ chuyển phát đi. ở bộ phát giải tù phạm, từ Quảng Nam vào Nam cũng theo đường biển, xét về hạt nào, giao cho hạt ấy.


    Vua chuẩn y lời bàn ấy. Trước kia, khi đình thần bàn định chưa xong. Vua nghĩ: buổi mới kiến thiết, điều lệ quá nhiều, hễ có việc gì nên chỉnh đốn trước thì sai theo từng khoản, kê khai ra, chuyển sức cho quan địa phương theo làm, để kịp bàn giao.


    1. Những văn thư việc quan từ trước ở thành Gia Định viên quyền giữ ấn thành Gia Định sức trước cho các tào kiểm duyệt, chia ra từng hạng, làm thành từng sách, để đợi quan Tổng đốc An Biên tiếp nhận. Và, những thể lệ ban tống xưa nay, cũng sức cho sao lục thành bản, để đợi đưa giao Tổng đốc An Hà.


    2. Sang năm, các đồ vật phải giải nộp, và những thức hiện nay phải trưng thu, mua sắm, hễ thứ gì có thể làm thì nên làm ngay, không được đun đẩy cho nhau, phải kê khai rõ ràng đích xác số mục các đồ vật ở cục Tạo tác thuộc thành, đợi giao quan mới tiếp nhận làm việc.


    3. Về những đồ vật, tiền, thóc, vàng bạc ở kho của thành, làm sổ kê rõ thực số là bao nhiêu, giữ ngay người làm việc, người coi kho lại ; rồi hội đồng tra xét cho được thanh thoả, chớ để lũ kia mong manh biết trước, tìm cách che giấu hoặc đánh tráo. Làm vậy để tiện đến kỳ bàn giao.


    4. Những án kiện mà Hình tào của thành hiện đang xét xử, hạn trong năm nay phải xử cho xong, không được nghe ngóng chờ đợi.


    Cho thự Tham tri bộ Hộ lĩnh Hộ tào thành Gia Định là Đặng Trương, đổi thự Tham tri bộ Binh làm Tuần phủ Nam - Ngãi. Tham hiệp Quảng Nam là Phạm Thế Hiển, đổi bổ án sát sứ ; Phó vệ uý dinh Thần sách là Nguyễn Cửu Đức, lấy nguyên hàm trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Quảng Nam. Hiệp trấn Quảng Ngãi là Lưu Đình Luyện đổi bổ Bố chính sứ ; Lang trung Hiệp lý Hộ tào thành Gia Định là Dương Văn Phong điệu bổ làm án sát sứ Quảng Ngãi ; Trấn thủ Hà Tiên là Trần Văn Hựu, cho hàm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh quan Quảng Ngãi; Quản cơ cơ Tĩnh man là Nguyễn Vĩnh cho hàm Phó vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Phó lãnh binh quan ; Tổng đốc Thanh Hoa là Đoàn Văn Trường đổi bổ Tổng đốc Bình Phú ; thự Hiệp trấn Bình Định là Trịnh Đường đổi làm thự Bố chính sứ ; thự Lang trung bộ Binh hiệp lý Binh tào thành Gia Định là Nguyễn Tử Cư điệu bổ làm thự án sát sứ Bình Định, Trấn thủ Định Tường là Lê Sách cho hàm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh quan Bình Định ; Quản phủ Tiên Hưng là Nguyễn Thọ Tuấn cho hàm Phó vệ úy, trật Tòng tam phẩm, sung Phó lãnh binh quan ; Hiệp trấn Phú Yên là Nguyễn Công Liêu đổi bổ Bố chính sứ, thự lý ấn quan phòng của Tuần phủ. Thự Tham hiệp Phùng Huy Giảng đổi thự án sát sứ; Quản phủ Thiên Trường là Nguyễn Hữu Vĩ cho hàm Phó vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh quan Phú Yên.


    Thăng nguyên Tuần phủ Hưng Hoá hàm Thị lang là Hoàng Quốc Điều lên thự Tham tri bộ Binh, làm Tuần phủ Thuận Khánh. Đổi bổ Tham hiệp Bình Thuận là Tôn Thất Gia làm án sát sứ. Cho Trấn thủ Vĩnh Long là Lê Văn Nghĩa thự Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh quan Bình Thuận, Cai đội dinh Vũ lâm là
  • Chia sẻ trang này