0060.0042

29/12/15
0060.0042
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley60cute_smiley60cute_smiley60

    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXxVI



    Thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa đông, tháng 11, ngày mồng 1, tiết Đông chí. Sáng sớm hôm ấy, mây mờ một lúc lại sáng. Có đám mây lượn lờ qua lại, có vẻ như đón mặt trời.


    Vua bảo các quan rằng : “Sách cổ có nói : “Đông chí vào ngày mồng một là đầu lịch số, là hội gia thời. Đông chí vào ngày mồng một là Phước dày của thánh chúa. Ngày Đông chí, mây mờ rét nhiều, lại có đám mây đón mặt trời, sang năm rất tốt”. Vả lại năm ấy tháng giêng và tháng 12, lập xuân, xuân ấy, 120 ngày. Mùa thu, thêm 1 tháng nhuận, cũng 120 ngày. Đó là tượng trưng về xuân, thu rất thịnh. Xem đó có thể nói điềm lành đến nhiều. Nhưng ta chỉ sớm tối lo nghĩ, tu đức, sửa mình, làm hết nhân đạo, chẳng dám cậy có điềm lành mà tự mãn. Khoảng năm Khai Nguyên [713-741] đời Đường, Đông chí vào ngày mồng một, quan Thái sử cho rằng đức sáng của vua rải khắp mọi nơi cảm thống đến lòng trời, liền giao cho các quan làm những việc để tỏ điềm tốt. Điều đó ta không cho là phải. Ôi ! đã có điềm tốt, lại càng nên tu đức hơn nữa, chứ đem việc ấy ra khoe khoang làm gì !” Vua bèn làm bài thơ để tỏ ý mình.


    Quốc trưởng nước Nhã Di Lý (Nước này ở Tây dương, hoặc gọi Hoa Kỳ, hoặc gọi là Ma Ly Căn, hoặc gọi là Anh Cát Lợi mới đều là biệt hiệu nước ấy) sai bọn bề tôi là Nghĩa Đức Môn La Bách Đại, Uý Đức Giai Tâm Gia (tên hai người) đem quốc thư xin thông thương thuyền ở cửa vụng Lấm thuộc Phú Yên. Vua sai Viên ngoại lang Nguyễn Tri Phương, Tư vụ Lý Văn Phức đi hội với quan tỉnh, lên trên thuyền thết tiệc và hỏi ý họ đến đây làm gì. Họ nói : “Chỉ đến vì muốn giao hiếu và thông thương” nói năng rất cung kính. Đến lúc dịch thư ra có nhiều chỗ không hợp thể thức.


    Vua bảo không cần đệ trình thư ấy. Rồi cho quan quyền lĩnh chức Thương bạc làm tờ trả lời. Đại lược nói : “Nước ấy muốn xin thông thương, cố nhiên là ta không ngăn trở, nhưng phải tuân theo pháp luật đã định. Từ nay, nếu có đến buôn bán thì cho đỗ ở vụng Trà Sơn, tấn sở Đà Nẵng, không được lên bờ làm nhà, vượt quá kỷ luật, rồi giao thư cho họ mà bảo họ đi”.


    Hành tẩu bộ Công là Cử nhân Trần Công Tốn, trước theo họ mẹ và quê mẹ để đi thi. Ngày thi Hội, đã xin đổi họ, đến bấy giờ được trúng ngạch bổ dụng do đình thần lựa chọn, Tốn lại xin đổi lại quê quán.


    Vua chán ghét về việc cầu xin lảm nhảm, hẵng chuẩn y cho cải chính quê quán, nhưng đình lại việc cho đi nhận chức. Rồi đưa vào Quốc tử giám để học tập, hạn trong 2 năm, nếu có tấn tới mới cho Giám thần cứ thực tâu lên, đợi chỉ lựa dùng.


    Lại sai truyền dụ các địa phương thông sức cho các sĩ tử trong hạt : từ nay, đến khoa thi, không được đổi tên, họ, quê quan để đi thi ; nếu có sự trà trộn giả mạo như trước thì dẫu có đỗ tiến sĩ, cử nhân, tú tài cũng đều truất đi cả.


    Chuẩn định từ nay, phủ Nội vụ hễ đem nộp bạc đĩnh hạng 10 lạng đều cứ theo đĩnh sẵn cốt đủ số hạng mà thu. Khi chia ra cũng thế. Gián hoặc có thừa số lẻ, chẳng cần đăng ký như trước. Duy đem bạc ấy chế tạo đồ vật thì phải cân cho thực đúng, rồi giao thợ làm để phòng sự gian tham xẻo xén. Việc này ghi để làm lệnh.


    Ban áo trận và thẻ vàng có tua rủ cho Ngũ quân Chưởng phủ Vũ lâm lưỡng dực Thần sách quân ngũ dinh Thống chế, mỗi người một cái để mặc và đeo khi đi hầu vua.


    Vua thường hỏi Thị lang bộ Binh là Nguyễn Trọng Vũ về việc binh chính. Vũ không trả lời được. Nhân đó, vua bảo thị thần rằng : “Hộ bộ Trương Minh Giảng và Trương Đăng Quế, Binh bộ Lê Văn Đức đều biết rõ việc trong bộ. Còn như lũ Đỗ Khắc Thư và Nguyễn Trọng Vũ, mỗi khi hỏi đến phần nhiều không đáp được. Lũ ấy dẫu vì cớ thực thà chất phác nên được bổ dùng, nhưng đã làm quan, phải cố gắng, để khỏi phụ chức trách của mình, há nên như thế được ư ?”.


    Về mặt trong ở đằng sau bên hữu Kinh thành và đài Thái Bình, nhân gió mưa ngập lụt, có chỗ sụt đổ, vua sai biền binh trước đã làm việc ở đấy sửa đắp lại.


    Một hôm ngự giá đến xem, vua thấy họ làm khó nhọc, dụ bộ Công rằng : “Xét chỗ nào công việc đắp lại khá nặng, thì mỗi trượng cấp cho 20 quan tiền ; còn chỗ nào xây bó sửa sang chút ít, thì cấp cho một nửa”.


    Chuyển bổ : án sát Lạng Sơn là Doãn Văn Xuân đi án sát Quảng Yên ; án sát Quảng Yên là Trần Huy Phước đi án sát Lạng Sơn.


    Vua cho rằng từ Quảng Nam trở vào Nam vừa mới chia tỉnh đặt quan, công việc hãy còn bề bộn, chuẩn cho ngày 30 tháng 12 thì phong ấn, đến mồng 1 tháng giêng sang năm thì mở ấn.


    Định lại phẩm trật cho Trưởng sử và Phó trưởng sử ở phủ Hoàng tử các tước công (Trưởng sử : trước trật Chánh tứ phẩm nay đổi Tòng tứ phẩm. Phó trưởng sử : trước trật Tòng tứ phẩm, nay đổi Chánh ngũ phẩm).


    Định lệ phân xử những viên quản suất, đem lính tù phạm đi phát phối, để lính trốn đi và trong hàng ngũ có lính tái phạm những việc ăn cướp, đốt nhà, giết người. (Suất đội để lính trốn đến 3 người, thì bị đánh 30 roi, cứ thêm 2 người lại thêm nặng 1 bậc. Quản cơ để đến 5 người trốn, thì bị đánh 20 roi, cứ thêm 3 người lại thêm nặng 1 bậc. Cả hai, bắt tội chỉ đến 100 trượng và cách chức thôi).


    Có lính đương tại ngũ mà tái phạm vào tội nặng như ăn cướp, đốt nhà, giết người ; hễ 1 người, thì viên suất đội bị phạt 80 trượng, cứ 2 người lại thêm nặng 1 bậc. Quản cơ, cứ 2 người phạt 60 trượng, cứ 3 người lại thêm nặng 1 bậc. Cả hai cũng chỉ bắt tội đến 100 trượng và cách chức, còn Suất thập được miễn nghị tội. Vua lại ra lệnh cứ đến cuối năm, quan địa phương kê danh sách số lính trốn trong năm ấy, và họ tên, phẩm hàm các viên quản suất, đưa về bộ theo lệ bàn định rồi tâu lên, chớ nên theo án tra xét.



    Cai đội dinh Thần cơ là Tôn Thất Huyên hút thuốc phiện vụng. Hình bộ xử án phạt trượng, và tội đồ ; nhưng chiếu theo lệ cho bỏ gông.


    Vua nói rằng : “Theo lệ người trong Tôn thất phạm tội, thì được bỏ gông. Đó là đặc cách cho người có lỗi tầm thường chứ như Tôn Thất Huyên cố ý phạm cấm, mờ ám tự làm hỏng mình, sao nên vin lệ xử nhẹ được ? Vậy tước bỏ họ Tôn thất, đổi theo họ mẹ, gọi Lê Văn Huyên, phát vãng làm lính ở đảo Phú Quốc. Trưởng tộc là Tôn Thất Thành phạt bổng tôn nhân 1 năm”.


    Lại truyền chỉ thông sức cho các nhân viên trong Tôn thất biết : “Này, những con em nhà thường dân nếu có ngoài khuôn phép, bại hoại nết na, còn bị người trong họ không đếm xỉa đến, huống chi người dòng dõi nhà vua ? Từ đây, ai nấy đều nên răn bảo nhau noi theo đạo thường, mới không thẹn là cành vàng lá ngọc. Nếu còn có kẻ cam tâm sa ngã vào nơi hèn hạ nhơ bẩn như Lê Văn Huyên, thì tất phải xử trí bằng pháp luật, không cho được dự vào sổ họ Tôn thất. Còn tộc trưởng và cha anh không biết dạy bảo con em cũng sẽ bị giao cho đình nghị luôn thể. Ta là chủ tể thiên hạ, mọi việc đều giữ một mực công bằng, không dung thứ lũ hư hỏng ấy, để có hại đến công nghĩa”.


    Trước kia, Tôn Thất Huyên sai người nhà đi Hà Nội, mua thuốc phiện lậu, bị cửa ải Quảng Bình khám bắt được. Có chỉ vua sai bắt để tra. Nội giám là Nguyễn Đức đến nhà Hữu vu nói với hộ vệ Tôn Thất Bảo. Bảo lại nói với Tôn Thất Trì. Trì đến bảo Huyên, Huyên lén đem thuốc phiện đương hút giấu đi nơi khác. Việc phát giác, vua giao bộ Hình cho gộp cả vào bản án. Bộ Hình đem việc ấy xét xử trước.


    Vua nói rằng : “Lũ ấy đều được sung vào túc trực trong cung cấm, thế mà đối với việc bắt kẻ tội phạm, lại dám cùng nhau đưa tin để tiết lộ trước. Vậy Nguyễn Đức phải đánh ngay 100 trượng, đóng gông 1 tháng, hết hạn phát đi coi giữ cửa Địa Bình. Tôn Thất Trì, Tôn Thất Bảo đều phải đánh ngay 100 trượng, đuổi ra khỏi hộ vệ, lui làm chân nhàn tản. Tôn Thất Trì tội lại nặng hơn ; vậy về lương tôn nhân bớt đi một nửa mãi mãi.


    Lại nữa, từ nay về sau, nội giám tiếp đệ tấu sớ của các nha, không kể phong kín hay để ngỏ, chỉ cứ nguyên phong dâng đệ trình, không được hỏi trong đó nói về việc gì. Các nha cũng không được nói với nội giám về những việc dâng trình lên vua, kẻ nào vi phạm, sẽ bị trị tội.


    Lại sai Nội các truyền chỉ cho lũ nội giám, thị vệ, hộ vệ, phàm tất cả công việc bí mật trong nội đình, hễ kẻ nào đem ra bàn tán riêng và tiết lộ tin tức về chính sự, thì trị tội nặng ; nếu việc đó quan hệ đến quân cơ thì xử chém ngay”.


    Tống Văn Trị được khai phục làm Cai đội chư quân và thự Thành thủ uý Cam Lộ. (Trị, trước làm Trấn thủ Thái Nguyên phải tội, bị cách chức, theo Bắc Thành gắng sức làm việc chuộc tội).


    Phái thêm biền binh canh giữ Tướng quân xưởng (trước kia phái 1 Suất đội, và 50 lính ở Trung vệ, dinh Thần cơ. Nay phái thêm 20 lính ở ty Hộ vệ và Cảnh tất).


    Biền binh ở các ty, Cảnh tất, Loan nghi thuộc vệ Loan giá có người theo đạo Gia tô.


    Vua nghe thấy, nói rằng : “Đạo Gia tô, ta cho là chỉ có lũ ngu mới bị mê hoặc, không ngờ ngay ở bên tả hữu ta cũng có kẻ tin theo, thật rất đáng lạ”. Vua bèn sai bộ Hình bắt để trị tội.


    Dân ở phường Nam Dương Tây, tỉnh Quảng Trị, trước đây cũng theo đạo, đến bấy giờ biết hối, đem huỷ hết các ảnh, tượng và kinh thánh, còn nhà thờ, nhà giảng thì triệt hạ, sung công. Quan tỉnh đem việc tâu lên.


    Vua đặc cách tha tội cho họ, nhân dụ bộ Hình rằng : “Đạo Gia tô nguyên từ người Tây dương đem vào truyền bá đã lâu, dân ngu phần nhiều bị mê hoặc mà không biết hối. Thử nghĩ : cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ đều là chuyện hoang đường, không có bằng chứng. Hơn nữa không kính thần minh, chẳng thờ tiên tổ, rất trái với chính đạo. Thậm chí lập riêng nhà giảng tụ tập nhiều người, cám dỗ dâm ô phụ nữ, lừa gạt lấy mắt người ốm. Những việc trái luân lý, hại phong hoá, điều ấy kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật. Đạo ấy lại quy là tà thuật hơn đạo nào hết. Trong luật đã có điều cấm rõ ràng rồi. Trước kia, những xã Mông Phụ ở Sơn Tây và xã Dương Sơn ở Thừa Thiên tập nhiễm đạo ấy, vừa mới nhóm lên, tức thì nghiêm trị. Đó là muốn cho mắt thấy tai nghe, đổi theo đường lành tránh xa tội lỗi. Nay dân hạt Quảng Trị, đã biết hồi tâm nghĩ lại, theo về đường thiện, phải nên, ta đã xuống chỉ gia ơn miễn tội rồi. Nhân nghĩ : các hạt còn có những kẻ cố chấp mê man, trôi giạt quên đường về. Song, tính giữ đạo thường, người người đều có nếu biết tỉnh ngộ liền có thể trở thành lương thiện. Phải nên một phen khuyên bảo khiến họ biết đường đổi mới, để tỏ cái ý trước hãy giáo dục, sau mới dùng đến hình phạt. Vậy truyền dụ Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh bá cáo khắp quan, quân, dân, thứ trong hạt. Có ai trước đã trót theo đạo Gia tô, nay nếu cảm phát lương tâm, biết sợ, biết hối, thì cho phép được đến bày tỏ với quan sở tại, tình nguyện bỏ đạo. Quan địa phương xét quả thành thực thì sai làm ngay tại chỗ : bước qua cây thập tự. Rồi làm tập tâu lên vua, sẽ được chuẩn cho miễn tội. Còn những nhà thờ, nhà giảng, thì ra lệnh cho huỷ triệt đi. Bao nhiêu việc mê tín sai lầm trước đó đều không xét nữa. Sau phen răn bảo thiết tha này, nếu kẻ nào không chừa thói cũ còn dám lẻn lút tụ tập nhau, cam tâm vi phạm lệnh cấm, một khi bị phát giác ra thì liền trị tội nặng. Lại nghiêm cấm lũ võ biền, lại dịch và các tổng lý không được tạ sự mà nộ nạt, hống hách, bắt càn nhiễu dân. Kẻ nào vi phạm sẽ phải tội”.


    Kinh đô mưa rét mấy ngày liền. Các sở thợ làm được nghỉ việc 5 ngày.


    Vua nghĩ các quan đình thần đi lại xông pha rét mướt, bèn ra lệnh hễ ngày tâu việc, cho các đường quan ở bộ, viện và Nội các đều được quỳ ở trên chiếu chỗ tâu việc.


    Lại dụ Nội các rằng : “Các đại thần chia ban vào túc trực đã có định lệ. Nhưng nghĩ : trong các đại thần như Trần Văn Năng, Phan Văn Thuý và Nguyễn Văn Xuân tuổi ngoại 70, càng nên thể tất. Vậy từ nay về sau, nếu gặp mưa to, gió lớn hoặc ngày nắng dữ, rét buốt, đều miễn vào túc trực để tỏ lòng ta ưu đãi hạng bề tôi kỳ cựu”. Liền đó, ban cho Trần Văn Năng 1 áo cẩm bào màu tía và bảo : “Gặp tiết đông giá rét, nghĩ khanh tuổi già, ta đặc cách ban cho áo này, để chống rét dữ”.


    Vua ra ngự chầu cho vời Kinh doãn Đoàn Khiêm Quang hỏi rằng : “Mấy hôm nay, trời mưa, việc làm ruộng ra sao ?”. Quang tâu : “Ruộng nương cao thấp đều đủ nước làm, việc nông rất thuận tiện”. Vua nói : “Nay đương mùa cày cấy, nếu chỉ mưa nhỏ thì lợi cho ruộng thấp, mà ruộng cao lại e chưa đủ nhuần thấm ; nếu mưa to thì lợi cho ruộng cao mà ruộng trũng lại lo ngập lụt. Vất vả, khó nhọc, nhà nông vẫn thường phải như vậy ! mà lòng ta tha thiết coi trọng nghề nông nên thường cầu mưa, mong tạnh, chưa hề xao lãng chút nào”.


    Thanh Hoa có sớ báo giá gạo xuống mau. Bộ Hộ đem việc tâu lên.


    Vua mừng cầm bút phê rằng : “Hiện nay giá gạo không đâu rẻ bằng hạt ngươi. Đủ biết dân ta được no ấm rồi, xiết bao vui vẻ”.


    Đổi bổ : Bố chính Hà Nội là Nguyễn Văn Mưu làm Bố chính Ninh Bình hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ ; Bố chính Hải Dương là Trần Thiên Tải làm Bố chính Hà Nội. Thăng án sát Cao Bằng là Nguyễn Huy Chiêm thăng lên thự Bố chính Hải Dương.


    Điều quyền thự Bố chính Nghệ An là Lê Dục Đức đi thự Bố chính Hà Tĩnh, hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ. Thăng thự Quang lộc Tự khanh là Nguyễn Đình Tần lên thự Bố chính Nghệ An.


    Điều thự Tả thị lang bộ Lại là Trần Văn Tuân, đi thự Bố chính Quảng Bình. Dùng Viên ngoại lang bộ Hình là Nguyễn Trữ làm Lang trung.


    Thự Tuần phủ Nam Ngãi là Đặng Chương và án sát Quảng Nam là Phạm Thế Hiển đều bị cất chức. Chương trước kia làm Tham hiệp Quảng Nam, lấy người con gái dân trong hạt mình làm vợ lẽ, tư vị cho anh người vợ lẽ ấy trước làm thư lại đã bị tước tên lại được hồi ngạch. Hiển đồng sự với nguyên Hiệp trấn Hoàng Công Tài, đã chẳng hay tham hặc tâu lên, lại không làm việc ở công đường, thường cùng nhau họp bàn ở nhà bếp. Khâm sai Phan Bá Đạt nhân đi khám vụ án Công Tài luôn dịp phát giác ra việc ấy đem tâu lên. Vua giao bộ Lại nghị tội. Chương và Hiển, đều bị tội giáng chức đổi đi nơi khác : Chương giáng bổ Viên ngoại lang bộ Binh ; Hiển giáng bổ Viên ngoại lang bộ Hộ.


    Cho thự Hữu tham tri bộ Binh là Đỗ Khắc Thư thự lý ấn Tuần phủ quan phòng Nam Ngãi ; Lang trung bộ Binh là Hoàng Văn Minh làm án sát Quảng Nam.


    Vời án sát Hà Tĩnh là Nguyễn Sỹ Bảng về Kinh đợi chỉ. Sau đó, vua cho rằng Bảng trong khi làm quan, nhiều lần phạm lỗi, lần lần bị giáng đến 7 cấp, bèn ra lệnh cho bộ Lại tính suốt những cấp đã giáng, đổi bổ nơi khác.


    Sai Nội các sát hạch tình hình các thuộc viên chăm chỉ hay lười biếng, rồi làm thành sách tâu lên. Vua chuẩn cho : hạng bình, vẫn được giữ chức như cũ ; hạng thứ, đình lại một năm, không được thăng ; hạng liệt, giáng 1 cấp, đổi đi nơi khác.


    Trẻ chăn trâu ở Biên Hoà bắt được cái mũ cổ bằng vàng (nặng hơn 5 lạng, 2 đồng cân), đem đập ra để chia nhau. Quan tỉnh thu lại, đem dâng lên.


    Thấy mảnh vàng có khắc những chữ nhỏ là thứ chữ “phiên” vua bảo thị thần rằng : “Mũ này là đồ cổ của nước Chiêm Thành, lũ mục đồng không biết, tự tiện đập vỡ khiến đồ vật mấy trăm năm về trước không còn lại làm ghi, thực khá tiếc !”. Ra lệnh thưởng cho người bắt được cái mũ ấy 20 lạng bạc.


    Lãnh binh Thuỷ sư ở Nghệ An là Trần Văn Quần vì già ốm, hưu trí, đổi bổ Vệ uý vệ Trung thuỷ của Thuỷ quân là Nguyễn Văn Sáng làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung Lãnh binh Thuỷ sư ở Nghệ An.


    Sai đình chỉ lễ ẵm con trai, con gái của nhà vua và con trai con gái của các hoàng tử, cùng với con trái con gái của các tước công, nhân ngày đầy tuổi tôi, vào ra mắt vua, kể bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 14 [1833].


    Bộ Hộ tâu nói : “Sổ sách tiêu đi hay còn lại ở Nội vụ phủ theo lệ vẫn do bộ Hộ kiểm tra, mà kỳ thanh ta, thay đổi người coi giữ, cũng do bộ Hộ làm tờ tư sức cho nha cũ lựa bổ. Từ trước đến nay noi theo như thế, có chỗ rất trở ngại. Vậy xin từ nay về sau, đến kỳ thay đổi, giao cho bộ Lại đứng làm”. Vua chuẩn y.


    Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói : “Từ trước đến nay, nguyên toàn hạt Bắc Thành, hạng giản binh quen thói hư lậu : có khi 5 năm 1 lần đổi, có khi 3 năm hay 1 năm 1 lần đổi mà trong đó phần nhiều lại thuê mướn người thay trong vòng 1 năm, thay đổi chia phiên ở hàng ngũ không được mấy ngày mới thuộc tiết mục chiêng trống, lại đổi 1 lũ buôn đay, bán rau đến, động có việc điều khiển, thì những phép tiến, lùi, đi đứng, đâm, đánh đều lờ mờ cả, nên thường đến nỗi hỏng việc ! Ngô Tử có nói : “Sở dĩ bị thua vì ở chỗ bất tiện, chính là thế”. Vậy xin : từ nay, phàm những người dân đi lính nếu muốn đưa người thay thế thì phải chọn con nhà đa đinh, giàu mạnh sức lực, tuổi đến 50 mới được thải về. Nếu còn theo thói thuê mượn như cũ, có tên không thực, hoặc làm khoán ước riêng, tự ý thay đổi cho nhau thì lý trưởng, hương mục đương thứ, đều phải tội nặng. Người lính vin vào khoán ước tự tiện bỏ về, sẽ bị xử tội theo luật đào ngũ”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Lời tâu của Công Trứ rất phải. Này, binh lính là để giữ nước. Những người đã lệ thuộc vào quân lính, tất phải ở lâu trong hàng ngũ, để luyện tập thông thạo gặp việc mới mong làm được đắc lực. Vả lại, những thói tệ hại ấy, từ trước đã nhiều lần nghiêm cấm, thế mà đến nay vẫn chưa bỏ được cái thói quen ấy. Ta tưởng chẳng những riêng một hạt ấy như thế, mà các địa phương khác chắc cũng không ít. Đó đều bởi lũ quân và dân lâu ngày quen thói, nói theo lẫn nhau mà quan địa phương và viên quản suất không chịu để tâm xem đó thôi. Vậy, truyền chỉ cho Tổng đốc và Tuần phủ các tỉnh ra cáo thị cho quân và dân trong hạt từ nay nên sửa bỏ vết xấu, nếu không chừa sẽ nghiêm trị cả”.


    Định rõ số ngạch các thuyền cho 6 tỉnh Nam Kỳ. Đem hết số thuyền ở toàn hạt thành Gia Định trước chia cấp cho các tỉnh. Các hiệu thuyền trước là chữ “Gia ” đều đổi khắc theo tên tỉnh. Ví dụ : Gia an đổi Chiêu ân, Gia tĩnh đổi Vĩnh tĩnh… Ngoài ra, theo đó mà suy.


    Định ngạch cho tỉnh Phiên An : Phiên An hiệu thuyền 3 chiếc và thuyền Sam bản nhỏ kèm theo 3 chiếc. Thuyền Hải đạo 5 chiếc ; thuyền Lê, thuyền Ô, thuyền Chu, thuyền Sai và thuyền Sam bản mỗi thứ 10 chiếc, cộng 61 chiếc. Lại thuyền Sam bản ngoại ngạch 1 chiếc nữa.


    Định ngạch cho tỉnh Biên Hoà : hiện thuyền Biên an 1 chiếc và thuyền Sam bản nhỏ kèm theo 1 chiếc, thuyền Hải đạo 5 chiếc ; thuyền Lê, thuyền Ô, thuyền Chu mỗi thứ 10 chiếc ; cộng 37 chiếc và thuyền Hải đạo ngoại ngạch 2 chiếc.


    Định ngạch cho tỉnh Vĩnh Long : hiệu thuyền Vĩnh an, Vĩnh tĩnh, mỗi thứ 1 chiếc, và thuyền Sam bản nhỏ kèm theo 2 chiếc ; thuyền Hải đạo 5 chiếc ; thuyền Lê, thuyền Ô mỗi thứ 10 chiếc ; thuyền Chu, thuyền Sai, mỗi thứ 20 chiếc ; cộng 69 chiếc. Còn đồn điền Uy viễn do viên Tổng đốc Long - Tường chiếu trong số thuyền định ngạch ở Vĩnh Long liệu lượng chia cấp.


    Định ngạch cho tỉnh Định Tường : hiệu thuyền Định tĩnh 1 chiếc và thuyền Sam bản nhỏ kèm theo 1 chiếc, thuyền Hải đạo 5 chiếc ; thuyền Lê, thuyền Ô, thuyền Chu, mỗi thứ 10 chiếc ; cộng 31 chiếc.


    Định ngạch cho tỉnh An Giang : hiệu thuyền An tĩnh 1 chiếc và thuyền Sam bản nhỏ kèm theo 1 chiếc ; thuyền Hải đạo, thuyền Lê mỗi thứ 5 chiếc ; thuyền Chu, thuyền Sai mỗi thứ 10 chiếc ; cộng 32 chiếc.


    Định ngạch cho tỉnh Hà Tiên : thuyền Điện hải 5 chiếc và kèm theo thuyền Sam bản nhỏ 5 chiếc ; thuyền Hải đạo, thuyền Lê mỗi thứ 5 chiếc, thuyền Chu 10 chiếc ; cộng 30 chiếc.


    Sai Chưởng cơ Bùi Công Huyên kiêm quản các đội Kim thương và Ngân thương.


    Bỏ bớt chức Đốc học tỉnh Phú Yên.


    Vì số học trò tỉnh Phú Yên có ít, nên bỏ Đốc học, đặt một Giáo thụ giảng dạy ở trường tỉnh. Phàm các việc học tập, khảo, hạch vẫn theo lệ, làm như trước.


    Tỉnh Phú Yên lâu không mưa. Giá gạo ngày càng đắt. Vua sai quan tỉnh phát 10.000 hộc thóc kho, giảm giá bán ra cho dân. Người ta muốn vay cũng cho. Huyện Đồng Xuân lại có bệnh dịch, lây chết đến hơn 1.000 người. Ra lệnh cho lập đàn tế kỳ yên. Sau đó bệnh dịch được yên. Chuẩn cho theo số người chết, cấp cho tiền tuất (mỗi người nội tịch được 3 quan tiền còn đều 2 quan, trẻ con 1 quan).


    Định lệ về việc cung cấp sáp vàng, dầu và chiếu cho các nơi trung tự ((1) Trung tự : lễ cúng tế mặt trời, mặt trăng, tiên nông và đế vương các triều đại…1) và quần tự ((2) Quần tự : lễ cúng tế các miếu, như miếu Trung hưng công thần, miếu Khai quốc công thần… và các đền như đền Quan công, đền thần cửa Tư Hiền…2). ở miếu Lịch đại đế vương : mỗi năm nến sáp 45 cân 12 lạng (do của công chi ra thực sự. Dưới đây cũng thế), dầu 311 cân, 1 lạng trừ cấp thành tiền 47 quan 4 tiền (năm nào có tháng nhuận thì cấp thêm. Dưới đây cũng thế) ; các hạng chiếu 32 đôi (3 năm 1 lần lĩnh. Dưới đây cũng thế).


    Miếu “Phong bá” ((1) Phong bá : thần gió.1) : sáp 5 cân 6 lạng 2 đồng cân 5 phân ; dầu 18 cân 11 lạng, 5 đồng cân ; trừ cấp thành tiền 12 quan 3 tiền ; chiếu 4 đôi 1 chiếc.


    Miếu “Vũ sư ((2) Vũ sư : thần mưa.2) : sáp 5 cân 6 lạng ; dầu 98 cân 5 lạng ; trừ cấp thành tiền 11 quan, 9 tiền, 12 đồng ; chiếu 10 đôi 1 chiếc.


    Miếu “Nam hải Long vương” : sáp 8 cân 11 lạng, dầu 99 cân 3 lạng, trừ cấp thành tiền 12 quan 40 đồng ; chiếu 5 đôi.


    Miếu Đô thành hoàng : sáp 7 cân 5 lạng, dầu 70 cân 7 lạng, trừ cấp thành tiền 10 quan 7 tiền, 20 đồng ; chiếu 12 đôi.


    Miếu Hội đồng : sáp 19 cân 10 lạng, dầu 21 cân 14 lạng ; trừ cấp thành tiền 3 quan, 3 tiền, 20 đồng ; chiếu 14 đôi.


    Đền Quan công và đền Thiên phi : dầu 154 cân, 14 lạng ; trừ cấp thành tiền 23 quan, 6 tiền ; chiếu 8 đôi.


    Ba đền Sơn thần núi Khải Vận ((3) Núi Khải Vận : tức núi lăng Trường Cơ (lăng Thái tổ Gia dụ Hoàng đế) ở xã La Khê, huyện Hương Trà, Thừa Thiên (theo Đại Nam Nhất thống chí, quyển I, Kinh sư, tờ 22a, 26a).3), núi Hưng Nghiệp ((4) Núi Hưng Nghiệp : tức núi lăng Cơ Thánh (lăng Hưng tổ Hiếu khang Hoàng đế) ở xã Cư Chánh, huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên (theo sách dẫn trên, tờ 22a, 28a).4) và núi Thiên Thụ ((5) Núi Thiên Thụ : tức núi lăng Gia Long ở xã Định Môn huyện Hương Trà (theo sách dẫn trên, tờ 22a, 28b).5) : sáp 5 cân 13 lạng ; chiếu 6 đôi.


    Đền thần Hà bá : sáp 15 lạng 5 đồng cân.


    Miếu Hoả thần : sáp 11 lạng, 2 đồng cân 5 phân ; dầu 77 cân 7 lạng ; trừ cấp thành tiền 11 quan, 8 tiền ; chiếu 3 đôi.


    Đền thần Hoả pháo : sáp 11 lạng, 2 đồng cân 5 phân ; dầu 77 cân 7 lạng ; trừ cấp thành tiền 11 quan, 8 tiền ; chiếu 3 đôi.


    Đền thần cửa biển Tư Dung : sáp 15 lạng, 5 đồng cân ; dầu 77 cân 7 lạng ; trừ cấp thành tiền 11 quan, 8 tiền ; chiếu 1 đôi 1 chiếc.


    Lăng Tẩm nhị vương : sáp 11 cân, 3 lạng ; dầu 156 cân 3 lạng ; trừ cấp thành tiền 23 quan, 8 tiền ; chiếu 24 đôi.


    Lăng tẩm Anh Duệ ((1) Lăng Hoàng tử Cảnh.1) : sáp 15 cân, 4 lạng, 5 đồng cân ; dầu 155 cân, 12 lạng, trừ cấp thành tiền 23 quan, 7 tiền, 20 đồng ; chiếu 8 đôi.


    Đền Triển Thân : sáp 14 cân, 14 lạng ; dầu 156 cân, 3 lạng ; trừ cấp thành tiền 23 quan, 8 tiền ; chiếu 22 đôi.


    Đền Quy Quốc công : sáp 3 cân, 13 lạng ; dầu 77 cân, 14 lạng ; trừ cấp thành tiền 11 quan, 8 tiền, 40 đồng, chiếu 5 đôi.


    Đền Hoa Quốc công : sáp 16 cân, 4 lạng ; dầu 80 cân 1 lạng ; trừ cấp thành tiền 12 quan, 2 tiền ; chiếu 10 đôi.


    Đền thờ hai bà cung tần Hồ, Phạm : sáp 39 cân, 13 lạng, 5 đồng cân ; dầu 156 cân, 6 lạng ; trừ cấp thành tiền 25 quan, 2 tiền ; chiếu 24 đôi


    Miếu Trung hưng công thần : sáp 14 cân 6 lạng ; dầu 274 cân, 1 lạng 5 đồng cân ; trừ cấp thành tiền 41 quan, 7 tiền, 40 đồng ; chiếu 42 đôi, 1 chiếc.


    Miếu Khai quốc công thần : sáp 4 cân 15 lạng ; dầu 156 cân, 10 lạng ; trừ cấp thành tiền 23 quan, 8 tiền, 40 đồng ; chiếu 7 đôi 1 chiếc.


    Miếu Trung tiết công thần : sáp 7 cân, 15 lạng ; dầu 153 cân, 10 lạng ; trừ cấp thành tiền 23 quan, 8 tiền, 40 đồng ; chiếu 8 đôi 1 chiếc.


    Đàn Ân Tự : sáp 5 cân, 8 lạng ; dầu 1 cân, 12 lạng ; trừ cấp thành tiền 2 tiền, 40 đồng.


    Đền An Ninh bá : sáp 2 cân 5 lạng ; dầu 14 lạng ; trừ cấp thành tiền, 1 tiền 20 đồng ; chiếu 2 đôi, 1 chiếc.


    Đàn tế thần dịch lệ : sáp 6 cân 10 lạng ; dầu 8 cân 12 lạng ; trừ cấp thành tiền 1 quan, 3 tiền, 20 đồng.


    Sai thự Hữu thị lang bộ Lại là Đặng Văn Bằng về bộ cung chức, vẫn giữ công việc Kinh thương.


    Thống chế Thuỷ quân là Nguyễn Tài Năng đương say rượu, lên điện, tâu thưa thất thố, bị viện Đô sát tham hặc. Vua giao bộ Binh nghĩ xử, đáng lẽ phải giáng chức đổi đi, nhưng được đặc ân đổi phạt 6 tháng lương.


    Vua dụ Nội các rằng : “Ta mới đặt chức quan phong hiến ((2) Phong hiến : tức là quan Ngự sử ở viện Đô sát, giữ việc tham hặc và can ngăn..2), để làm trách nhiệm can gián. Gần đây mới hơi xứng chức, thực nên hậu thưởng để khuyến khích. Vậy lũ nguyên thự Chánh ngũ phẩm là Ngô Dưỡng Hạo, và nguyên Tòng ngũ phẩm là Nguyễn Mưu 7 người đều cho thực thụ ; lũ nguyên thự Tòng ngũ phẩm là Nguyễn Chân và nguyên Tòng lục phẩm là Phạm Duy Trinh 15 người đều thưởng cho ăn lương Tòng ngũ phẩm để tỏ ra đó là đặc cách”.
  • Chia sẻ trang này