0060.0044

29/12/15
0060.0044
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    các tước công, trước có phát lương bổng hằng năm là bởi lúc ta mới lên ngôi, muốn tỏ ra dốc lòng thân với người thân, nên có đặc cách ưu cấp theo lệ ngoài. Nay nghĩ lại, cũng biết thế là quá đáng. Đúng lý ra nên y lời bàn mà giảm bớt, nhưng lại nghĩ các em và các cháu được phong cho tước công từ trước có đến 11 người, lần lượt có một số đã qua đời, hiện nay chỉ còn 9 người. Ta yêu mến anh em, càng lâu lại càng tha thiết. Nay nếu bớt đi, thực chẳng nỡ. Vậy gia ân đều cho để theo lệ cũ. Sau này, nếu ai được phong tước phẩm thân công, thì sẽ chiếu theo lệ hoàg tử được phong công tước, cấp cho tiền 1.000 quan, gạo 1.000 phương, không được tăng thêm càn bậy. Đến như hoàng tử đã được phong tước công, còn thân hơn các thân công, há có lo gì không đủ tiêu dùng, chỉ lo không tiến đức, không tu nghiệp để giữ tiếng tốt mãi mãi thôi. Cần gì lại còn phải nghĩ đến việc ưu đãi bằng bổng lộc. Vậy những hoàng tử tước công, lương bổng hằng năm vẫn theo lệ cũ cũng đủ rồi, không nên thêm nữa. Và công tử Thiện Khuê là con trưởng Thiện Hoá quận vương, sau này sẽ được tập tước, có phân biệt với các công tử khác. Vậy gia ân hằng năm cho tiền 300 quan, gạo 200 phương”.


    Rồi truyền dụ các hoàng tử, các tước công : “Hiện nay, kho tàng nhà nước tích trữ thực thừa thãi, chẳng có thiếu gì, há lại tiếc gì đối với con em thân thiết ? Chỉ nghĩ : lũ ngươi đã cùng hưởng vui với nước, lương bổng hằng năm nên làm thế nào cho được liên tục và được lâu dài mới là bớt lo xa. Nếu ngay bây giờ, không biết phân biệt kẻ thân, kẻ sơ mà hạn chế thì trăm đời về sau, dòng dõi nhà vua đông nhiều mãi ra, e đến khi các vua nối dõi sau này, những người thân và tôn lại một mực vin vào lệ trước hoặc tuỳ ý cho hậu thêm, chỉ có tăng không có giảm thì biết đến đâu cho cùng ? Bấy giờ lỡ gặp lúc kho nhà nước không đủ, thì xử trí bằng cách nào cho được yên lành về sau ? Lại không khỏi phải rút bớt đi nhiều quá ! Vậy ngày nay nếu làm quá thừa, để cho con cháu lại phải không đủ, thì không phải là ý lũ ngươi khéo lo cho con cháu. Ta nửa đêm suy nghĩ, thực khó bỏ qua, nên buộc phải cúi theo lời bàn của bộ Hộ một phen quy định đúng đắn, đành phải gạt ân tình, dứt lòng yêu, quả quyết mà làm cho được việc. Đó là chỗ khổ tâm, bất đắc dĩ của ta, chẳng những lo tính cho lũ ngươi, mà cũng mưu toan cho cả thiên hạ đời sau nữa”.


    Định rõ lại thể lệ cấp lương bổng hằng năm cho các người trong họ Tôn thất.


    Các nhân viên Tôn thất mỗi năm, tiền 30 quan, gạo 30 phương. Nếu có người tuổi từ 70 trở lên thì thưởng thêm tiền 6 quan, gạo 6 phương, phụ nữ bớt đi một nửa.


    Vua dụ rằng : “Dòng dõi nhà vua ngày thêm phồn thịnh cho nên lệ cấp lương bổng phải một phen châm chước định lại, cốt ở chỗ vừa phải công bằng, khiến cho sau này dẫu không thêm, nhưng cũng không có lý bớt được mới có thể chi cấp đều được lâu dài, chứ chẳng phải có ý tiếc ơn với người thân đâu. Lũ người đều nên phấn khởi cố gắng, nếu cứ học hành thành đạt, nổi bật tài năng có thể hữu dụng cho nhà nước, chắc triều đình sẽ liệu dùng, thì ơn vua lộc nước, ưu hậu gấp mấy, chứ đâu phải có số lương bổng thường ấy thôi ?”.


    Vua lại nghĩ đến những Tôn thất nữ ở chi xa không được hưởng lệ cấp lương. Với lòng thương kẻ mồ côi, vỗ nuôi trẻ nhỏ, cũng nên châm chước ra ơn, vậy đặc ân cho 9 người con gái Hoà Tĩnh Phước Long công, mỗi tháng mỗi người 3 quan tiền 2 phương gạo, 2 người con gái Thống chế Tôn Thất Bính, 4 người con gái Đô thống chế Tôn Thất Dịch, 2 người con gái Vệ uý Tôn Thất Tình, 1 người con gái Tôn Thất Đàm, đều cấp cho mỗi tháng mỗi người tiền 2 quan, gạo 1 phương, khi đã đi lấy chồng rồi thì thôi.


    Định lệ lương bổng hằng năm cho [các vợ vua ở] Nội cung.


    Hiền tân : mỗi năm 350 quan tiền, 160 phương gạo. Tiệp dư : mỗi năm 300 quan tiền, 120 phương gạo. Mỹ nhân : mỗi năm 280 quan tiền, 72 phương gạo. Tài nhân : mỗi năm 260 quan tiền, 60 phương gạo. Còn lệ cấp dầu và nến thì bãi bỏ.


    Cho Phước Long hầu Tôn Thất Vĩnh, Thái Bình hầu Tôn Thất Lệ Chung được hưởng lương bổng Chánh nhị phẩm, nhưng trật của hai người ấy ở dưới Tòng nhị phẩm. Đó vì vua nghĩ rằng : Vĩnh là kế thừa tập tước của Phước Long công, Lệ Chung là kế thừa tập tước của Thái Bình công, nên mới lượng tình cấp bổng, hậu đãi đặc biệt hơn.


    Lê Văn Duyệt nguyên Tổng trấn Gia Định, có giấu riêng 1 thớt voi. Bộ Binh xét rõ, đem việc tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Voi trận không như trâu ngựa, tư gia sao được nuôi riêng. Lê Văn Duyệt ương bướng, tự phụ, cậy công kiêu rông, thiên lệch, nghe theo lời nói của tiểu nhân, liều lĩnh dám làm, thực có can phạm pháp luật. Các tào ở Gia Định thành đều có biết cả sự việc, nếu vì sợ quyền thế đè nén, không thể can ngăn được, thì cũng nên làm tập tấu kín dâng lên, chứ sao lại cam lòng hùa theo, một loạt bưng mồm nín lặng ? Đáng lý phải nên trị tội, song vì Duyệt đã chết rồi, nên cho miễn nghị tội. Các tào cũng được gia ơn rộng tha, nhưng phải truyền chỉ nghiêm quở. Bởi thế Kiến An công Đài, Định Viễn công Bính, Duyên Khánh công Tấn mỗi người được ban cho một thớt voi từ khoảng niên hiệu Gia Long đều đem nộp trả cả.


    Đốc học Vĩnh Long là Nguyễn Văn Thanh bị ốm phải thôi việc. Vua cho Giáo thụ Tân Bình là Nguyễn Đức Hiển thăng thự Đốc học Vĩnh Long.


    Hải phận Đồ Sơn thuộc Hải Dương, có thuyền giặc biển đi qua thẳng về phía đông. Thự Tổng đốc Nguyễn Công Trứ tâu xin chọn lấy 10 chiếc thuyền chài cho các thủ hạ mang theo khí giới, giả làm thuyền buôn, kéo cả ra biển. Giặc thấy đường biển không có phòng bị, tất đến cướp bóc. Nhân đó góp sức đánh bắt, cũng dễ thành công. Nếu chưa được toàn thắng thì chính thần xin thân hành đến thẳng sào huyệt tây Hiền, Ba Làng diệt hết mầm ác. Vả lại thủ hạ ấy quá nửa là người Nam Định, xin theo sổ đinh, đòi đến, để điều khiển.


    Vua dụ rằng : “Ngươi có chức trách coi giữ bờ cõi 2 tỉnh Hải Dương, Quảng Yên là thuộc hạt ngươi, quân và dân ở đó đều thuộc hạ, há lại tuyệt nhiên không có người nào có thể sai khiến mà lấy người tỉnh khác mới là người sai phái được việc hay sao ? Vả lại, ngươi đã là viên quan to, lại còn dùng một hạng người dùng làm thủ hạ đã là vô lý, huống chi trong đám ấy, chắc đâu không có kẻ lý lịch không rõ ràng và những đồ vô lại trà trộn mập mờ để cầu may kiếm chác hay sao ? Vậy các việc xin lấy thủ hạ không cho làm. Nếu ngươi biết tìm cách dẹp giặc để biển được yên, đó là chức phận của ngươi thì không kể thuyền công, thuyền tư, cốt ngươi điều khiển được đúng để đến thành công, ta cũng chẳng ở xa mà ngăn cản. Có điều là ngươi không nên thỉnh cầu những việc chẳng hợp lẽ như thế, sẽ bị giao cho đình thần nghị xét đấy !”.


    Định lệ cấp tiền tuất cho các quan hưu trí.


    Phàm các quan văn võ tự Tòng tam phẩm trở lên, đã được nguyên hàm về hưu, nếu có người nào chết, thì cho bộ Lễ tâu lên đợi chỉ cấp cho tiền tuất. Người nào bị giáng hay bắt về hưu thì không được dự hưởng lệ ấy. Chánh tứ phẩm trở xuống người nào vì đi trận bị thương đã cho về quê, cấp nửa lương thì chiếu theo phẩm hàm cấp cho một nửa [tiền tuất]. Còn những người về chịu tang hoặc nghỉ giả hạn, rồi chết đi, thì từ Tam phẩm trở lên, cũng cho do bộ đề tấu đợi chỉ.


    Chuẩn định : từ nay về sau, phàm những vàng đưa ra để làm đồ vật thì viên giám tu hội đồng với người đốc công, phải thử vàng trước, rồi giao cho thợ làm. Khi làm thành đồ rồi lại phải xét nghiệm lại, cốt được như cũ. Nếu không xem xét, để thợ xoay xở làm vàng kém đi, thì lập tức giao cho đình thần nghị xử, bắt bồi thường.


    Cấp ấn tròn bằng sừng cho các tỉnh Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên (mặt ấn khắc tên tỉnh. Ví dụ tỉnh Phiên An, thì khắc 2 chữ “Phiên An”. Còn những lúc phát ống trạm ((1) ống trạm : ống đựng công văn, do các trạm cho người chuyển đệ.1) thì làm theo nghị định năm trước).


    Vua cùng quần thần bàn đạo trị nước. Vua bảo họ rằng : “Ta đã từng xét các đế vương đời trước, đặt toà Kinh diên để giảng giải nghĩa sách bàn bạc sự việc xưa nay. Đối với đạo trị nước rất là bổ ích. Còn như Thần tôn [1573-1619] nhà Minh bàn kinh sách văn nghĩa khó, ấy là lối học tầm chương trích cú của thầy đồ, chứ không phải lối học của đế vương. Vua Đạo Quang [1821-1850] nhà Thanh đã có chỉ dụ nói rằng : Khoảng niên hiệu Gia Khánh [1796-1820] có một giảng quan nhân bàn đoạn văn trong kinh sách, có ngụ ý chê bai [triều đình] bèn bị cho rằng : giảng quan có chức vụ là giúp vua trở thành đạo đức, mà lại ngầm chứa bụng xấu, chê bai chính trị, triều đình như thế. Từ đó toà Kinh diên phải phế bỏ. Ôi ! giảng quan dẫu có lòng xấu, nhưng về phần người làm vua cũng nên có định kiến, cốt phải tự chọn ra sao mà thôi, há nên vì một việc ấy, mà bỏ toà Kinh diên, không giảng sách nữa ? Ta thì không thế, thân ái quần thần coi như một thể, biết gì thì cứ nói, đã nói thì cứ nói hết, cần gì phải đợi đến lúc giảng luận ở toà Kinh diên rồi mới kiếm lời phúng thứ như kẻ đáng ghét, đáng bỉ kia ư ?”.


    Vua lại nói : “Gần đây, xem Hội điển triều Thanh, thấy có chức gọi là Quân cơ đại thần, ta muốn cũng phỏng theo mà làm, song cái gọi là Quân cơ thì tựa hồ chỉ để bàn tính mọi việc quân sự như viện Khu mật đời Tống. Nay nên tham bác cổ kim xưa, tuỳ nghi xếp đặt, gọi là viện Cơ mật, là lấy nghĩa rằng viện ấy giữ việc bí mật về quân sự và quốc sự. Rồi chọn lấy vài người đại thần mỗi ngày thay phiên túc trực, nếu có việc gì cơ mật, thì người đương ở phiên túc trực ấy làm phiếu nghĩ bàn. Trong thì Nội các ở bên tả, viện Cơ mật ở bên hữu, ngoài thì võ có Ngũ quân Đô thống phủ, văn có đường quan Lục bộ : tả hữu có người, trong ngoài giúp nhau. Phàm những việc Lục bộ làm chưa đúng, thì Nội các hạch ra, những việc Nội các làm chưa hợp lẽ thì Cơ mật viện hạch ra, khiến cho ràng rịt lẫn nhau mới mong đến được thịnh trị. Nếu mỗi khi có chỉ dụ của ta đưa xuống mà các đình thần thảy đều ký tên phụng nghĩ, ngày ngày ở triều đình cả còn rảnh đâu làm việc chức vụ ? Nếu một mình Nội các phụng chỉ thì việc lớn việc nhỏ đều giữ làm hết, chẳng hoá ra riêng cầm nhiều quyền quá sao ? Này, lúc mới đặt ra pháp độ, nếu không ngăn chặn dần dần từ đầu thì sau giữ sao được không sinh ra mối tệ hại ? Ta cùng các khanh một lòng một đức, vẫn không có gì ngăn cách, nhưng đó là muốn tính kế cho ngày sau”. Vua bèn sắc sai bộ Lễ tra rõ Hội điển nhà Minh, nhà Thanh tiến trình vua coi.


    Phan Hiển Đạt, án sát Hải Dương, vì không soi xét để trong ty có hạng lại viên mọt dân, nên bị giáng 3 cấp và đổi đi. Sau đó, Đạt lại can tội cho tên kẻ cướp đổi tờ cung khai ban đầu, nên bị cách chức.


    Bỏ bớt sở Nội tạo, gộp cả vào ty Chế tạo.


    Vua cho rằng công việc Nội tạo và Chế tạo liên quan với nhau mà chia làm 2 nha thì không khỏi có sự cách trở, bèn sai bộ Công châm chước, nghĩ cách hợp lại làm một, liệu đặt nhân viên chức dịch và những công việc nên làm rồi tâu lên. Quan bộ Công tâu nói : “Những viên dịch 2 nha ấy, trước có Chủ sự, Tư vụ và Bát phẩm thư lại đều 3 người, Cửu phẩm thư lại 4 người, Vị nhập lưu thư lại 45 người ; nay xin đặt thêm : Chủ sự, Tư vụ mỗi chức 3 người, Bát Cửu phẩm thư lại đều 4 người, Vị nhập lưu thư lại 50 người đều quy cả về sổ ngạch ty Chế tạo. Tất cả đều do nguyên giám đốc sở Nội tạo cùng với đốc công sở Vũ khố cai quản đốc suất. Phàm mọi việc chi, lĩnh đồ vật nhà nước và các thứ đơn, hàng, sổ sách, thì hội đồng với nhau để làm. Nguyên 2 nha mỗi năm được cấp tiền công nhu tính chung cả là hơn 250 quan, nay xin cứ chi cấp như thế.


    Vua xuống dụ quở rằng : “Sở Nội tạo và ty Chế tạo đã hợp lại làm một, để đỡ bận rộn, cớ sao trong tập tấu vẫn thấy quan lại còn nhiều và nhu phí không giảm, rõ ràng là lũ đường quan Lê Đăng Doanh có bụng thiên lệch, bao che cầu may càn bậy, ví thử quan Đô sát hặc là theo ý riêng quên việc công, quan bộ Hình cho là tâu xin mập mờ, thì các ngươi thử nghĩ xem có đương nổi cái lỗi nặng ấy ? Thực ra, ngươi Lê Đăng Doanh, muốn tỏ lòng rộng rãi, để thuộc hạ yêu, ngại việc, tràn lại, sợ phải thay đổi ! Các ngươi Nguyễn Trung Mậu và Đoàn Văn Phú, chỉ biết một niềm hùa theo chẳng thi thố được điều gì ! Như thế đều phụ lòng ta đã uỷ thác! Vậy truyền chỉ nghiêm quở tất cả. Sau khi nghe ta dạy bảo lần này phải nên biết cảm kích, biết phấn khởi, càng cố gắng, càng chăm chỉ, để mong đón ơn đoái thương. Nếu cứ đành chịu thấp hèn, không vươn lên được, lại chực làm theo ý riêng, thì là tự làm khổ mình. Như vậy tất bị công luận phán xét, quyết khó uốn cong pháp luật mà thay cho được. Nay chiếu trong tập tấu đã bàn, chuẩn cho giảm bớt : Chủ sự, Bát, Cửu phẩm thư lại mỗi chức 1 người, Vị nhập lưu thư lại 10 người, tiền công nhu 100 quan ; còn ngoài ra cho làm theo như lời bàn”.


    Bắt đầu đặt 7 phân phủ ở các phủ địa phương (phàm những huyện trong phủ hạt thuộc Đồng tri phủ kiêm lý hoặc thống hạt thì gọi là phân phủ). Bộ Lại bàn tâu, cho rằng mọi phủ huyện trong các hạt, có phủ đã đặt Tri phủ, lại đặt thêm phủ Đồng tri, có huyện đã đặt Tri huyện, lại đặt thêm Huyện thừa, có phủ kiêm lý đến 2 huyện, cũng có phủ không kiêm lý huyện nào, có huyện kiêm lý thêm 1 huyện nữa. Những huyện do phủ kiêm lý, có huyện đặt Huyện thừa, có huyện đặt Tri huyện, cũng không giống nhau. Thế thì nên châm chước, đặt chương trình để tỏ ra nhất trí. Vậy xin phàm những phủ tối yếu khuyết ((1) Tối yếu khuyết : địa điểm rât quan trọng xung yếu, có nhiều công việc nặng nề.1) hoặc yếu khuyết ((2) Yếu khuyết : địa điểm khá trọng yếu, công việc khá nặng.2), phủ nào có 2 huyện thuộc hạt thì đặt một Tri phủ, kiêm lý 1 huyện, thống hạt 1 huyện ; phủ nào có 3 huyện thuộc hạt, cũng đặt 1 Tri phủ kiêm lý 1 huyện, thống hạt 2 huyện ; phủ nào có 4 huyện thuộc hạt thì đặt 1 Tri phủ, 1 Đồng tri phủ mỗi người kiêm lý 1 huyện, thống hạt 1 huyện ; phủ nào có 5, 6, 7 huyện thuộc hạt thì đặt Tri phủ và một Đồng tri phủ, mỗi người kiêm lý một huyện, còn những huyện thống hạt nếu 5 huyện thì Tri phủ thống hạt 2 huyện, Đồng tri phủ thống hạt 1 huyện ; nếu 6 huyện thì Tri phủ và Đồng tri phủ mỗi người thống hạt 2 huyện. Nếu 7 huyện thì Tri phủ thống hạt 3 huyện, Đồng tri phủ thống hạt 2 huyện. Phàm phủ nào thống hạt đến 2, 3 huyện thì mỗi huyện kiêm lý ấy đều đặt thêm 1 Huyện thừa, nếu thống hạt chỉ có một huyện thì không cần đặt thêm Huyện thừa nữa. Còn phủ nào là trung khuyết ((1) Trung khuyết : địa điểm trọng yếu vừa, công việc cũng vừa, không nặng quá, không nhẹ quá.1) hay giản khuyết ((2) Giản khuyết : địa điểm không quan trọng mấy, công việc có ít và giản đơn.2) không kể số huyện thuộc hạt nhiều hay ít, cũng chỉ đặt một Tri phủ kiêm lý một huyện ; còn các huyện khác đều là thống hạt. Mà huyện kiêm lý cũng chẳng cần đặt Huyện thừa. Gián hoặc có phủ trước đã đặt Đồng tri phủ thì bỏ bớt đi.


    Những huyện thống hạt, không cứ là huyện nhiều việc hay huyện ít việc, đều đặt 1 Tri huyện, mà bỏ bớt chức Huyện thừa. Duy có 4 huyện thuộc hạt phủ Hà Trung, công việc ít, xin đặt 1 Tri phủ, vẫn kiêm lý 2 huyện Tống Sơn và Hậu Lộc, thống hạt 2 huyện Nga Sơn và Hoằng Hoá. Huyện lỵ đóng ở Hậu Lộc đặt 1 Huyện thừa. Tống Sơn là quý huyện ((3) Quý huyện : vì Tống Sơn là quê quán nhà Nguyễn nên được nhà Nguyễn tôn làm huyện quý.3), công việc thể thống không giống các huyện khác đã có phủ viên kiêm lý, không phải đặt huyện viên nữa. Đến như 3 huyện Hương Trà, Phú Vinh và Quảng Điền là những kinh huyện ((4) Kinh huyện : những huyện thuộc phạm vi Kinh đô.4) dù có phân biệt với các huyện khác, nhưng nay đã vâng chỉ sửa định cũng xin một loạt bỏ bớt Huyện thừa. Vậy đem những việc sửa đổi, đặt lại và những việc nên làm kể rõ từng điều để tâu lên :


    1. Phủ yếu khuyết thuộc hạt có 2 huyện đặt 1 Tri phủ : Tri phủ Diễn Châu, kiêm lý huyện Đông Thành, thống hạt huyện Quỳnh Lưu.


    2. Những phủ tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết, thuộc hạt có 3 huyện , đặt 1 Tri phủ Hoài Đức, Tri phủ kiêm lý huyện Từ Liêm, thống hạt huyện Thọ Xương và huyện Vĩnh Thuận. Tri phủ Thường Tín kiêm lý huyện Thượng Phước, thống hạt huyện Thanh Trì và huyện Phú Xuyên. Tri phủ Tiên Hưng kiêm lý huyện Thần Khê, thống hạt huyện Hưng Nhân và huyện Duyên Hà. Tri phủ Bình Giang kiêm lý huyện Đường An, thống hạt huyện Đường Hào và huyện Cẩm Giàng.


    3. Những phủ tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết có 4 huyện thuộc hạt, đặt 1 Tri phủ, 1 Đồng tri phủ : Tri phủ ứng Hoà kiêm lý huyện Sơn Minh, thống hạt huyện Hoài An ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Chương Đức, thống hạt huyện Thanh Oai. Tri phủ Thiên Trường kiêm lý huyện Giao Thuỷ, thống hạt huyện Nam Chân ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Mỹ Lộc, thống hạt huyện Thượng Nguyên. Tri phủ Thái Bình kiêm lý huyện Đông Quan, thống hạt huyện Thuỵ Anh ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Phụ Dực, thống hạt huyện Quỳnh Côi. Tri phủ Ninh Giang, kiêm lý huyện Vĩnh Lại, thống hạt huyện Tứ Kỳ ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Thanh Miện, thống hạt huyện Gia Lộc. Tri phủ Nam Sách, kiêm lý huyện Chí Linh, thống hạt huyện Thanh Lâm ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Thanh Hà, thống hạt huyện Tiên Minh. Tri phủ Thiên Phước, kiêm lý huyện Thiên Phước, thống hạt huyện Kim Hoa ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Việt Yên, thống hạt huyện Hiệp Hoà. Tri phủ Quốc Oai kiêm lý huyện An Sơn, thống hạt huyện Mỹ Lương ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Đan Phượng, thống hạt huyện Thạch Thất. Tri phủ Quảng Oai kiêm lý huyện Tiên Phong, thống hạt huyện Phước Thọ ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Minh Nghĩa, thống hạt huyện Bất Bạt. Tri phủ Yên Khánh kiêm lý huyện Yên Khánh, thống hạt huyện Gia Viễn ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Yên Mô, thống hạt huyện Kim Sơn.


    4. Những phủ tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết, thuộc hạt có 5 huyện đặt 1 Tri phủ, 1 Đồng tri phủ. Tri phủ Lý Nhân kiêm lý huyện Kim Bảng, thống hạt huyện Duy Tiên và huyện Thanh Liêm ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Nam Xang, thống hạt huyện Bình Lục. Tri phủ Kiến Xương kiêm lý huyện Vũ Tiên, thống hạt huyện Thư Trì và huyện Thanh Quan, Đồng tri phủ kiêm lý huyện Chân Định, thống hạt huyện Tiền Hải. Tri phủ Khoái Châu kiêm lý huyện Đông An, thống hạt huyện Thiên Thi và huyện Kim Động ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Phù Dung, thống hạt huyện Tiên Lữ. Tri phủ Thuận An kiêm lý huyện Siêu Loại, thống hạt huyện Gia Bình và huyện Lang Tài ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Văn Giang, thống hạt huyện Gia Lâm. Tri phủ Từ Sơn kiêm lý huyện Đông Ngàn, thống hạt huyện Yên Phong và huyện Tiên Du ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Quế Dương, thống hạt huyện Võ Giàng. Tri phủ Vĩnh Tường kiêm lý huyện Bạch Hạc, thống hạt huyện Lập Thạch và huyện Tam Dương ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện An Lãng thống hạt huyện An Lạc.


    5. Những phủ tối yếu khuyết và hoặc yếu khuyết, thuộc hạt có đến 6, 7 huyện, đặt 1 Tri phủ, 1 Đồng tri phủ. Tri phủ Lạng Giang kiêm lý huyện Phượng Nhỡn, thống hạt huyện Bảo Lộc và huyện Lục Ngạn ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện Yên Thế, thống hạt huyện Hữu Lũng và huyện Yên Dũng. Tri phủ Kinh Môn kiêm lý huyện Giáp Sơn, thống hạt huyện Kim Thành, huyện Đông Triều và huyện Thuỷ Đường ; Đồng tri phủ kiêm lý huyện An Dương, thống hạt huyện Nghi Dương và huyện An Lão.


    6. Những phủ trung khuyết hoặc giản khuyết, đặt 1 Tri phủ : Tri phủ Thăng Hoa kiêm lý huyện Lễ Dương, thống hạt huyện Duy Xuyên và huyện Hà Đông. Tri phủ Điện Bàn kiêm lý huyện Diên Phước, thống hạt huyện Hoà Vinh. Tri phủ Tư Nghĩa kiêm lý huyện Chương Nghĩa, thống hạt huyện Bình Sơn và huyện Mộ Hoa. Tri phủ Hoài Nhân kiêm lý huyện Phù Cát, thống hạt huyện Phù Mỹ và huyện Bồng Sơn. Tri phủ An Nhân kiêm lý huyện Tuy Viễn, thống hạt huyện Tuy Phước. Tri phủ Tuy An kiêm lý huyện Đồng Xuân, thống hạt huyện Tuy Hoà. Tri phủ Hàm Thuận kiêm lý huyện Hoà Đa, thống hạt huyện Tuy Định. Tri phủ Ninh Thuận kiêm lý huyện An Phước, thống hạt huyện Tuy Phong. Tri phủ Ninh Hoà kiêm lý huyện Quảng Phước, thống hạt huyện Tân Định. Tri phủ Duyên Khánh, kiêm lý huyện Phước Điền, thống hạt huyện Vĩnh Xương. Tri phủ Tân Bình kiêm lý huyện Tân Long, thống hạt huyện Bình Dương. Tri phủ Tân An, kiêm lý huyện Thuận An, thống hạt huyện Phước Lộc và huyện Tân Hoà. Tri phủ Phước Long kiêm lý huyện Phước Chính, thống hạt các huyện Bình An, Phước An và Long Thành. Tri phủ Định Viễn kiêm lý huyện Vĩnh Bình, thống hạt huyện Vĩnh Trị. Tri phủ Hoằng An, kiêm lý huyện Tân Minh, thống hạt huyện Bảo An. Tri phủ Lạc Hoá kiêm lý huyện Tuân Nghĩa, thống hạt huyện Trà Vinh. Tri phủ Kiến An kiêm lý huyện Kiến Hưng, thống hạt các huyện Kiến Đăng và Kiến Hoà. Tri phủ Tân Thành, kiêm lý huyện Vĩnh An, thống hạt huyện Vĩnh Định. Tri phủ Tuy Biên kiêm lý huyện Tây Xuyên, thống hạt huyện Đông Xuyên. Tri phủ Quảng Bình kiêm lý huyện Phong Lộc, thống hạt các huyện Lệ Thuỷ, Bố Trạch và Bình Chánh. Tri phủ Triệu Phong, kiêm lý huyện Minh Linh thống hạt huyện Hải Lăng và huyện Đăng Xương. Tri phủ Anh Sơn kiêm lý huyện Nam Đường, thống hạt các huyện Hưng Nguyên, Thanh Chương và Chân Lộc. Tri phủ Tương Dương kiêm lý huyện Tương Dương thống hạt các huyện Kỳ Sơn, Hội Nguyên và Vĩnh Hoà. Tri phủ Hà Hoa kiêm lý huyện Kỳ Hoa, thống hạt huyện Thạch Hà. Tri phủ Đức Thọ kiêm lý huyện La Sơn, thống hạt các huyện Nghi Xuân, Thiên Lộc và Hương Sơn. Tri phủ Tĩnh Gia kiêm lý huyện Ngọc Sơn, thống hạt huyện Quảng Xương và huyện Nông Cống. Tri phủ Thiệu Hoá kiêm lý huyện Thuỵ Nguyên, thống hạt các huyện Đông Sơn, An Định, Vĩnh Lộc, Quảng Địa, Thạch Thành và Cẩm Thuỷ. Tri phủ Thọ Xuân kiêm lý huyện Lôi Dương, thống hạt huyện Thọ Xuân. Tri phủ Nghĩa Hưng kiêm lý huyện Thiên Bản, thống hạt các huyện Đại An, ý Yên và Phong Doanh. Tri phủ Lâm Thao kiêm lý huyện Sơn Vi, thống hạt các huyện Thanh Ba, Hoà Khê và Hạ Hoa. Tri phủ Đoan Hùng kiêm lý huyện Tây Quan, thống hạt các huyện Phù Ninh, Hùng Quan, Sơn Dương và Đăng Đạo. Còn những phủ ở ven biên giới cùng phủ Cam Lộ thuộc Quảng Trị, phủ Thiên Quan thuộc Ninh Bình, phủ Khai Biên và huyện Hà Châu thuộc Hà Tiên, huyện Tuy Hoà thuộc phủ Tuy An và 3 huyện Quảng Địa, Thạch Thành, Cẩm Thuỷ thuộc phủ Thiệu Hoá chưa có quan thống trị đều không đặt, cứ để như trước.


    7. Việc nhận giữ ấn triện phủ nào chỉ có Tri phủ và đặt Tri huyện ở các huyện thống hạt thì đều nhận giữ ấn triện làm việc. Phủ nào có đặt Đồng tri phủ thì cấp thêm 1 cái dấu đồng có khắc chữ : “mỗ phủ phân phủ đồ ký” ((1) Con dấu của phân phủ ở phủ X.1), và 1 cái triện gỗ do Đồng tri phủ giữ. Những huyện kiêm lý có đặt Huyện thừa thì ấn triện của huyện do Huyện thừa giữ. Gặp có việc phải tường trình với viên Tri phủ để hội đồng mà làm thì đóng ấn ấy.


    8. Phàm những việc thu thuế, xử kiện, đắp đê, thì Huyện thừa các huyện do phủ kiêm lý, theo viên Tri phủ cùng làm, còn Tri huyện các huyện do phủ thống hạt, đều được tự mình chiếu thể lệ làm việc. Những việc như thu lương thực và bắt lính thì do huyện giải lên tỉnh, rồi phải đem sổ đóng thu số đáng bắt và số hiện giải nộp tường trình cho viên Tri phủ biết. Nếu chưa đủ số thì viên Tri phủ đốc thúc ngay. Đến kỳ khảo xét thành tích quan lại nếu còn bỏ thiếu khoản nào thì viên phủ cùng với viên huyện sẽ bị nghị xử có phân biệt. Việc đê điều nếu có tình hình khẩn cấp, thì viên huyện phải đi trước để hộ đê và báo ngay cho viên phủ góp sức trong việc đắp giữ. Nếu để hỏng việc thì viên phủ cùng với viên huyện sẽ bị nghĩ xử có phân biệt. Văn án nếu có vụ nào đáng phải đệ lên để xét xử lại thì do phủ thẩm duyệt rồi đệ lên tỉnh. Vụ án nào do viên huyện phân xử mà nhân dân chưa phục thì trước hãy kêu phủ xét lại : nếu còn chưa phục, mới cho phép chống án lên tỉnh, chứ không được vượt bậc. Còn những án do Đồng tri phủ tra xét và phân xử nếu chưa phục tình thì cho kêu lên tỉnh, không được đến chỗ Tri phủ xin xét xử lại.


    9. Những sự việc tầm thường thì Tri phủ và Đồng tri phủ không cần phải trình báo cho nhau. Duy có những việc trọng đại như điều gì có lợi hoặc có hại đến sự sinh sống của nhân dân, việc bí mật về quân sự, thì nên họp mặt, bàn cách làm cho được thoả đáng, không được chia rẽ, để đến lỡ việc.


    10. Những huyện do phủ thống hạt, nếu có giặc cướp lén lút nổi to và những việc quan trọng khẩn cấp thì viên huyện một mặt báo tỉnh, một mặt báo phủ, không được uỷ cho viên phủ chuyển trình để khỏi chậm trễ, lỡ việc. Còn những việc thường, việc gì từ trên xuống dưới, thì do tỉnh xuống phủ rồi xuống huyện ; việc gì từ dưới lên trên thì do huyện lên phủ rồi lên tỉnh, không được trái chiều vượt bậc.


    11. Những viên quản phủ các phủ cùng với viên Tri phủ cùng đóng ở phủ thành, gián hoặc có viên Đồng tri phủ thì ở riêng chỗ lỵ sở khác. Việc tuần phòng trong cả một phủ là chuyên trách của viên quản phủ. Các huyện thuộc phủ quản hạt nếu xảy giặc cướp, hễ tiếp được tin báo thì quản phủ phải lập tức liệu cơ đánh dẹp, nếu để chậm trễ hỏng việc, sẽ bị nghị xử theo pháp luật.


    Vua y theo và bảo Nội các rằng : “Phủ nha có các huyện kiêm lý, nên chọn lựa cho viên Tri phủ đóng ở nơi xung yếu và có thể dễ liên lạc để coi cả những huyện thống hạt mới được ổn thoả tiện lợi. Vậy ra lệnh cho các quan trên xét lại, nếu có chỗ nào nên thay đổi, thì cứ việc theo sự thực tâu bày, đợi chỉ thi hành, đừng ngại vì việc tâu lên đã được chuẩn y rồi, dù có sự chưa tiện, cũng không nên chấp lệ tâu nữa !”.


    Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ tâu nói : “Thái Nguyên là tỉnh kiêm hạt, địa thế xa khơi, núi khe hiểm trở, từ trước đến giờ giặc cướp thành đàn, đầu đảng tuy đã trừ được, nhưng dư đảng chưa hết, thế mà số quân thuộc tỉnh có ít, chỉ vẻn vẹn 2 cơ Thái Nguyên và Thái hùng. Vậy xin liệu lượng phái toàn số 2 đội cơ binh thuộc Hậu quân ở Bắc Ninh và 2 thớt voi mang đến đóng giữ tỉnh thành [Thái Nguyên], mỗi năm 1 lần đổi phiên. Vua y cho.


    Giá gạo các tỉnh Bắc Kỳ lại cao vọt ! Vua sai bộ Hộ làm tờ tư cho các Tổng đốc, Tuần phủ : chiếu theo hoá vật trong hạt mà nhà nước mua, chuẩn cho trả bằng thóc với giá hạ.


    Nguyên thự Trấn phủ Phiên An là Trần Hữu Thăng, trước kia đem binh thuyền đi tuần để bắt giặc biển Chà Và chẳng đánh được gì nên có chỉ phạt cách lưu và định hạn buộc phải dẹp yên. Đến bấy giờ chung quy vẫn không được gì cả. Vua giao việc ấy xuống bộ Hình bàn xử. Hữu Thăng phải tội phát phối làm lính.


    Cấm dân gian không được mua bán gỗ táu, nếu ai vi phạm sẽ bị khép tội như thể lệ mua bán gỗ lim. Nếu có ai đã mua trữ từ trước thì cho đem nộp quan và được trả tiền. Nếu gỗ ấy đã làm thành nhà cửa, đồ vật từ trước, thì hạng chức dịch bậy bạ không được mượn cớ để sách nhiễu. Kẻ nào trái lệnh sẽ bị trị tội theo luật lừa đảo.


    Thự Hậu quân Phan Văn Thuý và Thống chế Phạm Văn Lý, dâng 2 con ngựa tốt. Vua đặt tên 1 con là Phước Thông, 1 con là Tường Yên đều cho sung vào viện Thượng tứ chăn nuôi theo lệnh ngựa của vua. Thưởng cho lũ Thuý mỗi người 2 cuốn sa nhỏ.


    Thự Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu nói : “Số quân tỉnh Hưng Yên không có mấy mà công việc sửa sang xây đắp thành trì lại nhiều, vậy xin phái thêm quân Thần sách đi thú”.


    Vua sai Nghệ An phái đến Hưng Yên 300 biền binh Thần sách, đợi xây thành xong, lại cho về hàng ngũ.


    Định lệ ban cáo sắc cho các quan.


    Năm trước, nhiều lần đã bàn định cách thức về giấy và cáo sắc và trục các bản cáo sắc, nhưng chưa kịp thi hành ; đến bấy giờ vua sai bộ Lại, kê rõ từng khoản tâu lên. Lại sai các đình thần bàn lại. Họ xin : phàm quan chức trong Kinh và ngoài các tỉnh, văn từ Tòng ngũ phẩm trở lên, võ từ Chánh ngũ phẩm trở lên, Đồng tri phủ và Tri huyện ở kinh huyện là Chánh lục phẩm văn giai, cùng với Tri huyện các huyện là Tòng lục phẩm văn giai đều chiếu phẩm cấp cho cáo sắc. Còn ngoài ra đều cấp chiếu văn. Những công việc nên làm, có cái theo lời bàn trước, có cái châm chước sửa lại đều xin kê rõ tâu lên.
  • Chia sẻ trang này