0060.0045

29/12/15
0060.0045
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    A - Xin theo nguyên nghĩ 8 điều :


    1. Phàm quan viên lớn, nhỏ, trong, ngoài, được thực thụ hay thăng thụ, quan trong Kinh được thăng bổ ra ngoài hay quan ngoài các tỉnh được bổ vào Kinh đều nên cấp cho cáo sắc.


    2. Ngày cáo sắc thi hành, viên quan nào mới được thực thụ hay thăng thụ thì chiếu phẩm cấp cho. Còn những quan viên hiện tại, mà năm trước đã được thực thụ, thì đều do quan trên cai quản làm thành danh sách, kê từng loại, bên văn do Lại bộ, bên võ do Binh bộ, sát thực tâu lên, đợi sẽ cấp cho đạo cáo sắc theo hiện hàm. Viên nào được thăng thự gia hàm, đã có chiếu văn thăng thự gia hàm rồi, cũng cứ theo nguyên phẩm cấp cho một đạo cáo sắc, đợi ngày được thực thụ, sẽ cấp cho cáo sắc theo hàm mới. Viên nào hiện bị giáng lưu đã có chiếu văn giáng lưu rồi thì không cấp cho cáo sắc, đợi khi được khai phục dứt khoát, sẽ truy cấp theo.


    3. Phàm những người bị giáng điệu, hoặc bị cách chức hoặc phải tội mà được khai phục, xin vẫn cứ như trước viết chiếu văn khai phục bổ dùng cấp cho ; đợi khi được cho thăng bổ hoặc điệu bổ quan khác bấy giờ mới chiếu theo chức hàm hiện được, làm cáo sắc cấp cho.


    4. Hàng văn và hàng võ, từ nhất, nhị, tam, tứ, đến ngũ phẩm. Công thức lòng cáo sắc, dùng chữ “chế viết” ( ) ; lục phẩm thì dùng chữ “sắc viết ( ).


    5. Những quan nào hiện bị giáng lưu sau được thăng chức đổi đi và dưới tên vẫn còn ghi là “giáng lưu”, thì cấp cho chiếu văn vẫn theo như trước, đợi khi được khai phục dứt khoát mới viết cáo sắc theo hàm phẩm hiện có, cấp cho.


    6. Quan ở chức này sung làm chức khác, đã có chiếu văn sung lĩnh, thì cứ theo nguyên hàm chức cũ cấp cáo sắc, gián hoặc có viên nào nguyên bị giáng điệu hoặc bị cách chức mà được khai phục chưa nên cấp cho cáo sắc thì đợi khi được thăng bổ chức khác rồi sẽ cấp cho.


    7. Thổ ty Tứ phẩm các hạt dùng giấy rồng bay, ngũ phẩm trở xuống dùng giấy lệnh hội, đều theo lệ viết chiếu văn cấp cho, không phải làm cáo sắc.


    8. Sau khi cấp cho cáo sắc, viên nào bị cách lưu hoặc giáng lưu, thì do bộ kiểm tra thu lại, đợi khi nào viên ấy được khai phục sẽ cấp trả, viên nào bị từ giáng điệu và cách chức trở lên thì thu hồi tiêu huỷ đi.


    B - Vâng mệnh châm chước sửa lại 8 điều :


    1. Mẫu giấy : quan Nhất phẩm, dùng giấy rắc kim nhũ hạng nhất dọc 1 thước 4 tấc, ngang 4 thước 3 tấc, mặt giấy vẽ con rồng to, mây dày, bốn bề chung quanh vẽ vẩy rồng, mặt sau vẽ tứ linh. Quan Nhị phẩm dùng giấy rắc ngân nhũ, điểm vàng, hạng nhì, dọc 1 thước 3 tấc, ngang 4 thước ; mặt giấy vẽ một con rồng lớn, mây kín, bốn bề xung quanh vẽ mây liền ; mặt sau vẽ con lân và con phượng. Quan Tam phẩm, dùng giấy rắc ngân nhũ, điểm vàng, hạng bạ, dọc 1 thước 3 tấc, ngang 3 thước 5 tấc, trên mặt giấy vẽ 1 con rồng to loáng thoáng mây, bốn bề chung quanh vẽ hoa dây, sau vẽ tranh cổ. Quan Tứ phẩm, dùng giấy rắc ngân nhũ, hạng tư, dọc 1 thước 2 tấc, ngang 3 thước 2 tấc, mặt vẽ rồng mây, bốn bề chung quanh vẽ hoa dây. Quan Ngũ phẩm và Đồng tri phủ, Tri huyện ở kinh huyện là Chánh lục phẩm và Tri huyện các huyện là Tòng lục phẩm, dùng giấy rắc ngân nhũ, hạng 5, dọc 1 thước 2 tấc, ngang 3 thước 1 tấc, trên mặt giấy vẽ giao long và mây, bốn bề chung quanh vẽ hoa dây.


    2. Đầu trục : quan Nhất, Nhị phẩm, dùng trục bằng đồi mồi ; Tam, Tứ phẩm, trục bằng ngà voi ; Ngũ phẩm cùng Đồng tri phủ huyện ở kinh huyện là Chánh lục phẩm và Tri huyện ở các huyện, là Tòng lục phẩm, trục bằng sừng trâu trắng.


    3. Phàm có việc sai phái ở Kinh hay ở ngoài các tỉnh hoặc nên cấp chiếu văn hoặc nên sao lục lời chỉ dụ hoặc nên cấp văn bằng của đình thần hay văn bằng của các bộ, đều do bộ tuỳ việc làm ổn thoả.


    4. Những nhân viên được thăng thự gia hàm chưa được chi lương chính ngạch, có khác với người thực thụ đều theo như trước, cấp cho chiếu văn. Còn những nhân viên bị giáng lưu, thì cứ chiếu theo cấp bị giáng, làm văn bằng của đình thần cấp cho. Đến khi được khai phục từng phần, hay được khai phục tất cả thì lại cấp cho văn bằng khai phục và cấp trả văn bằng cũ, không cần làm riêng chiếu văn như trước. Gián hoặc có viên nào chưa được khai phục mà đã chết, thì những việc tập ấm và cho tiền tuất, đều chiếu trong văn bằng bị giáng cấp mà làm.


    5. Những viên được điệu bổ, phẩm trật ngang nhau, không kể là quan trong Kinh hay ngoài các tỉnh, đều vẫn cấp cho chiếu văn như trước điệu bổ chức mới, không cần lại cấp sắc.


    6. Những quan viên được gia cấp, kỷ lục : người nào trước đã được kỷ lục rồi thì cấp cho văn bằng của đình thần, còn người nào được gia cấp, làm chiếu văn khác, cũng nên cấp cho văn bằng của đình thần để cho hợp sự thể.


    7. Ngày thi hành cáo sắc : phàm những nhân viên bị cách lưu, lần lượt được khai phục mà chưa tới được nguyên hàm, thì đều cấp cho văn bằng của đình thần, đợi khai phục được đủ nguyên hàm, mới cấp cáo sắc.


    8. Con cháu các quan văn, võ nhờ ơn vua được mọi chức hàm tập ấm, ấm thụ thì văn từ Chánh lục phẩm, võ từ Tòng ngũ phẩm trở xuống và những người được thự hàm hoặc gia hàm, đều cấp cho chiếu văn. Duy hàng văn từ Tòng ngũ phẩm, hàng võ từ Chánh ngũ phẩm trở lên, đều chiếu theo phẩm cấp cho cáo sắc. Viên nào, lúc mới bổ quan chức mà phẩm trật bằng nhau, hoặc hơi kém, thì chỉ cấp cho chiếu văn. Duy có người nào chức được bổ hơi cao hơn chức tập ấm, mới chiếu theo phẩm cấp cho cáo sắc. Gián hoặc có viên nào được bổ chức khác, mà chức hàm tập ấm theo lệ được giữ theo, thì cứ chiếu theo lệ mà làm.


    Lời bàn ấy tâu lên. Vua chỉ đổi võ giai từ Chánh tứ phẩm trở lên mới chuẩn cho chiếu theo phẩm cấp cáo sắc. Về những nhân viên được điệu bổ, vua đổi là do bộ lục chỉ, không cần làm chiếu văn cấp cho, còn mọi điều khoản khác đều cho làm theo lời bàn.


    Lãnh binh Bắc Ninh là Vũ Văn Thân vì bị giáng luôn nhiều cấp, xuống đến làm Cai đội, nay bắt về hưu. Đổi bổ Trương Văn Hậu, Phó vệ uý vệ Cẩm y lên làm Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, sung chức Lãnh binh Bắc Ninh.


    Dùng : Vệ uý ở Long võ Trung vệ là Đoàn Dũ làm Vệ uý Cẩm y, chuyên coi mọi đội Túc trực kiêm quản Trấn phủ ty ; Lê Thuận Tĩnh, do nguyên hàm Vệ uý, cai quản thị vệ, đội Tài hoa, vệ Dực bảo và các ty Lý thiện.


    Ban cho tỉnh An Giang cái chậu sành để đo lượng nước mưa.


    Quy định phần việc của tả lĩnh lại điển thuộc Nội các.


    Vua thấy ty viên trong Nội các không thống thuộc nhau, nên nhiều khi việc chậm trễ, bèn sai đường quan là lũ Hà Duy Phiên, Thân Văn Quyền liệu chia ra từng tào, từng cục, chiếu theo lệ ty viên ở lục bộ, chia ra tá nhị, thủ lĩnh và lại điển, hễ việc làm có lầm lỗi thì sự phân xử cứ theo thứ bậc lần lượt giảm xuống cho có chuyên trách. Vậy chuẩn định cho 2 tào Thượng bảo và Ký chú mỗi tào một Thị độc ; 2 tào Đồ thư và Biểu bạ, mỗi tào 1 Thừa chỉ, mỗi tào 1 Tu soạn ; 2 tào Thượng bảo và Ký chú, mỗi tào 1 Biên tu ; 2 tào Đồ thư và Biểu bạ, mỗi tào 1 Kiểm thảo và mỗi tào 2 Điển bạ, Đãi chiếu. Thị độc và Thừa chỉ ngang với Lang trung là Tứ nhị Lục bộ ; Tu soạn, Biên tu và Kiểm thảo ngang với Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ là thủ lĩnh Lục bộ ; Điển bạ và Đãi chiếu ngang với Bát Cửu phẩm thư lại, là lại điển của Lục bộ. Phàm những công việc nên làm, tá lĩnh sức cho lại điển tuân làm, rồi theo thứ tự xét kỹ, chuyển trình đường quan rồi viết rõ dâng lên vua. Việc làm nếu có lầm lỗi thì theo lệ đình nghị phân xử lục bộ, cứ theo thứ bậc, lần lượt giảm xuống, và xét lầm lỗi ấy bởi đâu, mà phân biệt bắt tội. Đến như lũ cung phụng, do đường quan, tuỳ việc, sai biên, viết, không cần chia bổ vào hẳn tào nào. Nếu họ có lầm lỗi thì cũng xử theo lệ đối với lại điển. Và ngày thường ứng trực, 2 người đã được vào Nội các thì ứng trực ở Nội các, 6 người chưa được vào, thì ứng trực ở phòng túc trực. Phàm biểu chương do các nha dâng lên và các việc công được truyền báo đến thì trong ngày hôm ấy, phải cùng nhau hội đồng mà nhận làm. Còn người không phải là đương phiên túc trực, cũng cứ buổi sớm, lậu hồ 2 lần chuyển, tề tựu đến làm việc, 10 lần chuyển thì lui về. Buổi chiều lậu hồ 4 lần chuyển thì đến, chập tối, đầu canh một hai khắc, thì lui về ; tất cả mọi việc đều cùng làm với người đương trực. Nếu không có cớ gì mà bỏ việc đến 5, 6 ngày, thì liền bị vạch tên tham hặc.


    Lũ quan Đê chính Bắc Kỳ là Nguyễn Văn Quyền và Nguyễn Hữu Gia đều bị miễn chức.


    Trước đây lũ Quyền dâng sớ nói xin trích ra những đoạn đê cũ, đê mới ở các hạt để sửa chữa, công trình nhỏ thì hơn 46.500 trượng, trong đó có chỗ nên đắp cao, có chỗ nên đắp này, có chỗ nên đào moi ruột đê ra rồi đổ đất đầy và đầm nện, tưởng cũng chẳng khác gì việc công trình lớn, nếu chiếu theo lệ, bắt dân sửa đắp, e khó đắp được xong sớm, rất lấy làm lo. Khi sớ tâu lên, vua bác đi, trả về và dụ rằng : “Đặt ra đê, bối, cốt để bảo vệ cho dân. Lũ ngươi trách nhiệm trị hà chẳng hay hết lòng coi giữ, mùa thu này để cho cái đê nhỏ ở huyện Duy Tiên, rút cục đến nỗi hỏng việc. Ta đã xuống dụ cho các ngươi được cách lưu cốt mong các ngươi cố gắng làm công hiệu sau này, nên sắc cho tìm cách hàn khẩu cho kín chỗ đê vỡ. Thế mà đến nay vẫn không thi thố được một việc gì. Lỗi ấy đã khó từ chối ! Nay lại đem việc làm những đoạn đê với công trình nhỏ hàm hồ tâu lên, hòng làm đường lối cho sau này tiêu tốn tiền lương và chậm trễ công việc. Như thế thực là hèn kém. Vậy giao xuống cho 2 bộ Lại, Binh nghị xử”. Sau lũ Quyền đều bị cách chức, nhưng vẫn cho ở chỗ làm đê, gắng sức làm việc để chuộc tội. Đổi bổ Bố chính Sơn Tây là Lê Nguyên Hy làm Hữu thị lang bộ Công sung giữ công việc Đê chính.


    Chuyên chở 30.000 hộc thóc kho Bình Định ra Quảng Ngãi.


    Vua sai người phần việc chế tạo các bài ngà “Phụng chỉ do dịch” ((1) Phụng chỉ do dịch : vâng chỉ vua, đi đường trạm.1) (từ số 1 đến số 10). Phàm ai làm việc sai phái bất kỳ thì cấp cho. Lại sắc sai bộ Binh chiểu theo y thức, sao lục đưa cho các tỉnh làm bằng chứng để xét nghiệm.


    Viên An Phủ ốc Nha là Sô Đột Lục Cố, ở phủ Phủ Lật, nước Chân Lạp, nhân vua Phiên ((2) Vua Phiên : đây chỉ vua Chân Lạp.2) gọi về Nam Vang và uỷ người khác đến thay chức ấy, Lục Cố trong lòng ngờ sợ, đem bộ thuộc hơn 100 người trốn sang Xiêm. Tuần phủ lĩnh bảo hộ Ngô Bá Nhân liền sai biền binh giúp sức Phiên mục, Phiên binh cùng đuổi bắt. Nguyên quyền lĩnh ấn Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Văn Quế nghe báo đem việc tâu lên. Sau đó biền binh đuổi bắt không được, Ngô Bá Nhân lại làm tập tấu dâng lên.


    Vua mật dụ rằng : “Địa đầu nước Chân Lạp liền với đất Xiêm, một khi nó đã phản bội trốn đi chỉ nhấc chân là đến Xiêm ngay. Trước đây cứ theo Nguyễn Văn Quế tâu báo, ta đã biết rõ đuổi cũng không kịp ; nay lại nghe báo quả nhiên chẳng bắt được. Ngươi Ngô Bá Nhân, việc này làm không hợp cơ nghi và khiến cho lũ nhãi nhép có thể nhòm thấy tình hình hư thực của ta ! Năm trước nước Phiên đã có ốc Nha Chiết Ma trốn đi, nay lại có việc này. Vua tôi nó đã không hoà hợp, thì việc nước ấy không hỏi cũng đủ biết. Tổng đốc Lê Đại Cương có trách nhiệm kiêm việc bảo hộ, càng nên thông thạo hết cả tình hình biên giới. Ngày từ biệt trước bệ, ta đã đem tình hình ấy bảo rõ tận mặt, chắc ngươi đã lĩnh ý cả rồi. Nay lũ ngươi Lê Đại Cương và Ngô Bá Nhân phàm những việc có quan hệ đến mềm dẻo để lấy lòng thuộc quốc, đề phòng chế ngự nước láng giềng thì nên cùng lòng bàn bạc làm cho đúng sự cơ, không nên khinh suất như trước. Nếu có điều gì nên làm, thì đừng chậm trễ lỡ việc. Lại nữa, trước kia, Nguyễn Văn Thuỵ và Bùi Đức Minh rông rỡ làm liều, không giữ thể diện, đến nỗi tự chuốc lấy tội lỗi. Gương cũ còn sờ sờ đấy. Hai ngươi càng nên tỉnh táo và đề phòng hơn nữa. Lại nên ngăn cấm thuộc viên, thân thích lính tráng, chớ để cho họ tạ sự, sách nhiễu dân man. Nếu các ngươi chỉ biết giữ mình mà không biết ngăn cấm người dưới, thì cũng như chính mình đã làm, sau hối sao kịp. Các ngươi đều nên kính cẩn tuân theo ! Thềm vua dù xa muôn dặm nhưng ánh sáng mặt trời ở ngay gang tấc, khó che đậy được”.


    Vua đi thăm sông Lợi Nông. Dọc đường, gặp mưa, thưởng tiền cho biền binh theo hầu có thứ bậc khác nhau. Kịp lúc xe hồi loan, vua bảo bộ Lễ rằng : “Chuyến đi này gặp mưa mà không đình chỉ ấy là có ý muốn xem xét việc làm ruộng, chứ không phải cốt đi chơi”.



    Tuyển dân vạn ((1) Vạn : làng những dân làm nghề chở thuyền và chài lưới.1) thuỷ cơ ở các tỉnh Bắc Kỳ sung làm lính. Trước đây đã 2 lần tuyển cơ binh ở Bắc Thành, trước trích ra lấy những người các phường thuỷ cơ, sai sở tại bàn định ổn thoả rồi tâu lên. Đến bấy giờ bản tâu của các tỉnh dâng lên, đều giao bộ Binh hội bàn ; bèn chuẩn định : phàm số đinh các phường các vạn : tráng hạng từ 21 người trở lên cho làm sổ phường riêng, từ 20 người xuống đến 7 người thì vẫn cho giữ tên phường cũ, sáp nhập vào sổ các xã thôn sở tại nơi đỗ thuyền, để chiếu theo lệ mà tuyển lính. Sáu người trở xuống chưa đủ lệ tuyển thì cũng sáp nhập vào sổ xã thôn sở tại, vẫn giữ tên phường, đợi về sau, số đinh tăng thêm đủ lệ sẽ tuyển lính. Nơi nào đã có tên xã từ trước lại gọi tên phường thì bỏ tên phường đi gộp cả vào dân xã, cùng chịu ra lính và dao dịch. Còn các tiền thuế như thuế thân và gạo cước đều căn cứ vào số hiện có theo từng hạng mà đóng góp. Còn thuế thuỷ sản thì đình chỉ.


    Định lại lệ tiền công nhu của các nha ở Kinh đô (bộ Lại mỗi năm trước được cấp hơn 578 quan tiền, nay đổi làm 550 quan. Bộ Hộ trước được hơn 677 quan, nay đổi làm 600 quan. Bộ Lễ trước được 528 quan nay đổi làm 500 quan. Bộ Binh trước được hơn 702 quan nay đổi làm 600 quan. Bộ Hình trước được hơn 609 quan nay đổi làm 550 quan. Bộ Công trước được hơn 444 quan, nay đổi làm 500 quan. Đại lý tự trước được hơn 150 quan, nay đổi làm 100 quan. Thái thường tự trước được hơn 81 quan, đổi làm 40 quan. Quang lộc tự trước được hơn 63 quan, nay đổi làm 40 quan. Thương trường trước được hơn 336 quan, nay đổi làm 150 quan. Nội tàng trước được hơn 198 quan, nay đổi làm 70 quan. Kho thuốc đạn trước được hơn 36 quan, đổi làm 20 quan. Kho súng trước được hơn 30 quan, nay đổi làm 20 quan. Ty Bưu chính trước được hơn 61 quan, nay đổi làm 50 quan. Nội vụ phủ trước được hơn 320 quan, nay đổi làm 200 quan. Nội vụ phủ đốc công trước được hơn 120 quan, nay đổi làm 90 quan. Vũ khố trước hơn 249 quan, nay đổi làm 150 quan. Tào chính trước được 106 quan nay đổi làm 30 quan. Khâm thiên giám trước được hơn 61 quan nay đổi làm 30 quan. Đô sát viện, Nội các và Thái y viện chưa có định lệ, nay chuẩn cấp cho Đô sát viện 150 quan, Nội các 80 quan, Thái y viện 30 quan. Tam pháp ty Công chính đường trước được 34 quan, nay nên bỏ đi, nhưng trích trong sổ đáng được của Hình bộ, Đô sát viện và Đại lý tự mà cấp cho để tiêu dùng.


    Định lệ trừ hao cho sắt chín rèn làm đồ dùng (Sắt chín Quảng Nam, Bình Định: cứ 100 cân, đánh thành đinh thành đồ, hao mất 32 cân, đánh ra đinh thuyền và đồ sắt hao mất 49 cân. Sắt chín của Phiên An, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên và Ngưu Giang : cứ 100 cân đánh thành đinh, thành đồ sắt, hao mất 32 cân, đánh ra đinh thuyền, đồ sắt hao mất 40 cân. Sắt chín Hà Sung cứ 100 cân đánh thành đinh, thành đồ, hao mất 24 cân, đánh thành đinh thuyền, đồ sắt, hao mất 34 cân ; đánh đinh đóng xe trên bộ, xe nước, lòng súng, cốt sắt, lưỡi sắt, hao mất 41 cân ; đánh bánh lái thuyền, dao đầu cán cờ, đá máy đánh lửa theo súng điểu thương hao mất 56 cân ; đánh ra mỏ neo hao 47 cân. Sắt chín Nghệ An : cứ mỗi 100 cân, đánh thành đinh, thành đồ, hao 40 cân, đánh đinh thuyền, đồ sắt hao 49 cân. Sắt chính Thanh Hoa, Bình Thuận : mỗi 100 cân, đánh thành đanh thành đồ, hao 19 cân, đánh thành đinh thuyền đồ đạc, hao 27cân. Sắt chín Sơn Tây, Bắc Ninh, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng : mỗi 100 cân, đánh thành đinh hao mất 10 cân, đánh thành đồ sắt và đinh thuyền hao mất 17 cân, đánh đồ đóng thuyền, hao mất 23 cân, đánh dây neo hao mất 49 cân).


    Chuẩn định : từ nay về sau, các tỉnh có khuyết chức Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát thì ấn quan phòng Tổng đốc giao cho Tuần phủ, ấn quan phòng Tuần phủ giao cho Tổng đốc ; ấn triện của Bố chính, án sát cũng theo lệ ấy giao lẫn cho nhau để quyền làm việc. Tỉnh nào, Tuần phủ hộ lý ấn Tổng đốc quan phòng hoặc Bố chính hộ lý ấn Tuần phủ quan phòng và có chuyên đặt Tuần phủ lĩnh Bố chính thì cho tuỳ tiện giao cho Bố chính, hoặc án sát cùng tỉnh quyền nhận, rồi đem việc tâu ngay lên đợi viên kế tiếp đến lỵ sở sẽ nhận để làm việc. Chuẩn định này được ghi làm lệnh.


    Sai quan đến thanh tra Nội vụ phủ. Cho thự Phủ doãn phủ Thừa Thiên là Đoàn Khiêm Quang sung chức Đổng lý và thự Lang trung bộ Hình là Trương Văn Uyển làm Phó đổng lý.


    Vua nhân nghe đến những lại dịch trong Nội vụ phủ làm việc bận rộn và khó nhọc, bèn ra lệnh đợi sau khi thanh tra, nếu không sa sảy thiếu sót gì thì liền chia bổ đi nha khác, cho mỗi người thăng 1 thứ. Rồi lại lựa người trong các nha, theo thứ tự, điền bổ vào.


    Ngày giỗ ở điện Phụng Tiên, vua thân đến làm lễ, các quan đến lễ, có nhiều người chưa sẵn lễ phục. Vì vội vã có sự thất lễ. Đô sát viện vạch tên, tham hặc, nên đều phải phạt. Vua xuống sắc : từ nay các quan văn, võ, ai có mũ áo mới được theo ban thứ vào làm lễ.


    Ngày Đinh tỵ làm lễ Hợp hưởng.


    Vua xuống sắc, từ nay hễ gặp kỳ tế Giao, tế Miếu là những lễ trọng thể, thì quan văn từ Ngũ phẩm quan võ từ Tứ phẩm trở lên, đều được theo ban thứ vào bồi tế. Văn từ Lục phẩm, võ từ Ngũ phẩm trở xuống, không dự vào hàng chấp sự thì đều quỳ ở 2 bên đường xe vua đi để đón và đưa. Các Tôn thất học sinh cũng quỳ để đưa đón, theo lễ nghi ; còn khi ở triều hạ thì đứng vào cuối ban các quan võ để lạy. Việc này được ghi làm lệnh.


    Chuẩn định : từ nay, những tù phạm các tỉnh đã được tha, dồn làm lính và những người bị án xử phải làm lính, thì lúc mới bổ đều được cấp quần áo một lần.


    Đổi người Nùng Cao Bằng làm người Thổ. Trong dân 4 châu thuộc hạt Cao Bằng trước kia có chức được gọi là phụ đạo. Vua đã chuẩn cho các quan trong bộ bàn đổi gọi là người Nùng. Nhưng dân ấy cho rằng Nùng là người Trung Quốc xiêu giạt sang. Vậy xin cho tên khác để phân biệt. Quan tỉnh đem việc tâu lên. Vua bảo rằng : “Đấy cũng là một cơ hội biến người Di làm người Kinh, liền cho đổi gọi là người Thổ, vẫn phải nộp thuế bạc như cũ”.


    Tả phó đô ngự sử, viện Đô sát là Phan Bá Đạt có mẹ chết, xin về làng làm ma, vua y cho.


    Chuẩn định, từ nay những nhân viên can án bị cách điệu mà mới được khai phục, một khi có việc ở nơi làm quan trước phát giác ra, đang đem phân xử, nếu án sau nặng hơn án trước, hay cũng bằng thế, thì miễn cho theo án sau, nếu nhẹ hơn án trước, thì miễn cho.


    Khai mỏ vàng Cổ Đạo ở Bằng Thành thuộc Thái Nguyên (thuộc châu Bạch Thông, mỗi năm nộp 11 lạng vàng 5 tuổi).


    Tên giặc trốn là Trần Hữu Thường ở tỉnh Hưng Yên, năm ngoái, cùng với tên giặc biển là Nguyễn Bảo họp nhau ở Đồ Sơn (thuộc tỉnh Hải Dương) đem đồ đảng đến chùa Bi (thuộc tỉnh Quảng Yên) cùng nhau suy tôn tên tướng giặc Lê Duy Độ làm minh chủ : đúc ấn nguỵ, đặt quan chức nguỵ, tên Độ tự xưng là Lê Hoàng, tên Thường xưng là Trung quân, tên Bảo xưng là Hậu quân, mưu toan làm việc trái phép. Đến bấy giờ, tên Thường bị bộ biền Hưng Yên bắt được giết chết. Việc đó tâu lên. Vua bảo bộ Hình rằng : “Cứ như lời tâu, thì lũ tướng giặc này rõ ràng có người mà đi lại tụ họp, lại có đất, nên sớm dập tắt đi, chớ để lan tràn rộng ra. Vậy, truyền chỉ cho thự Tổng đốc Hải - Yên Nguyễn Công Trứ tìm cách dò bắt cho kỳ được lũ Lê Duy Độ, chớ để lọt lưới ; còn những quan quân lính tráng Hưng Yên, thưởng cho 50 lạng bạc”.


    Nguyễn Đức Nhuận, Tuần phủ Hưng Yên, tâu nói : “Giá gạo đắt quá, nhân dân thiếu ăn, có khi đến chết đói. Vả, về chính sách cứu đói, có phát chẩn, có bán rẻ thóc gạo, hoặc cho vay thóc gạo, nhưng bán thì nhà nghèo không tiền mua, cho vay thì lúc nộp trả, bọn lại dịch mọt già dễ làm bậy. Vậy quyền nghi cấp cứu, chỉ có cách phát chẩn là hơn cả, xin cho phát chẩn”.


    Vua xuống dụ quở rằng : “Ngươi có trách nhiệm chăn nuôi dân, nếu thấy tình hình có hại sao chẳng tâu ngay từ trước, lại đợi đến khi đóng hòm ấn ((1) Tức là khoảng từ ngày 25 tháng chạp, vua quan nghỉ việc chuẩn bị ăn tết Nguyên đán.1) rồi mới đệ tập tâu lên. Vả, giá gạo hạt ngươi so với Hà Nội và Nam Định còn hơi rẻ hơn, thế mà vội nói là dân có chết đói, há chẳng phải ngươi muốn nói cho to chuyện để mong được đặt lời. Huống chi phát chẩn là việc để cứu cấp trong lúc cần kíp như bị lửa sém mày, chứ lúc chưa khẩn cấp lắm, thì chưa nên khinh suất nói đến. Nếu theo ý muốn nhà ngươi, thì những tỉnh Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình sẽ lại ra sao ? Đem số của cải có hạn của nhà nước mà nhiều lần bán giá rẻ và cho vay, lại còn xá miễn hoặc cho triển hạn chậm, đã thấy là chỉ có chi ra, không có thu vào. Nay lại vội muốn làm việc phát chẩn, thảng hoặc có việc cần cấp hơn nữa, thì sẽ lại làm thế nào ? Ta từ lên ngôi đến nay, hễ gặp những khi tai biến, hoạn nạn thì việc chẩn cấp cho dân nghèo dù có tốn kém đến đâu cũng không tiếc của, duy chính sách cứu hoang vừa bán rẻ vừa cho vay, người xưa cũng làm như thế. Nếu lo bọn lại dịch xẻo xén chấm mút, nhân dân có kẻ không được hưởng ơn, thì nên nhổ tận gốc, lấp tận nguồn, nghiêm ngặt ngăn cấm hơn nữa, chứ đâu lại lấy thế làm khó mà chỉ chuyên bàn phát chẩn ? Thử nghĩ xem 1 vạn tiền và gạo có thể cứu được dân toàn tỉnh không ? Sao chẳng nghĩ những lời nói mâu thuẫn ấy ? Nếu bảo cho vay để sinh mối tệ, thì phát chẩn chắc đâu không có tệ, ta e cái nạn kẻ gian trá giả mạo lại càng tệ hơn nữa ! Ngươi là quan to, coi giữ bờ cõi chẳng nghĩ đến quốc kế dân sinh, đem bàn tính gảy con tính, lại tự ý nâng cao hạ thấp, nài xin càn dỡ ! Thực chẳng biết ý nhà ngươi nghĩ ra sao ! Vậy truyền chỉ nghiêm quở, đợi đến ngày khai ấn ((1) Tức là ngày mồng 7 tháng giêng, bấy giờ mới mở hòm ấn, làm việc.1) sang năm, liền cho lấy 15.000 hộc thóc theo số người trong sổ đinh không kể có hay không có vật lực, đều cho vay 1 hộc thóc, còn thì đem phát chẩn cho dân nghèo khó”.


    Nguyên quyền giữ ấn Tổng trấn Gia Định là Nguyễn Văn Quế tâu nói : “Đồn Châu Đốc tỉnh An Giang do các viên bảo hộ trước đã nhiều lần chiêu tập dân cư khai khẩn ruộng đất hơn 20 năm nay, chưa định ngạch thuế. Năm nay quan thành Gia Định trước sai người đi xem xét thì 41 xã thôn phường phố, lý đã lập từ trước, đinh số được hơn 1.100 người, ruộng đất được 9 thửa và 15 thôn, phố mới lập, đinh số được hơn 300 người, ruộng chân núi được 5 thửa. Sau khi chia đặt tỉnh hạt, thì lệ thuộc vào tỉnh An Giang. Vậy xin châm chước đặt cho ngạch thuế”.


    Vua nghĩ : những thôn và phố mới lập, sinh sống chưa được thừa thãi, chuẩn cho miễn tô thuế 3 năm. Còn những thôn xã lập trước thì bắt đầu từ sang năm phải nộp thuế thân, nhưng cho hoãn tô ruộng một năm nữa.


    Tuần phủ An Giang Ngô Bá Nhân, tâu nói : “Trước đây đình thần bàn về phía đông sông Hậu Giang, đặt huyện Đông Xuyên, lấy các thôn ấp mới lập ở đồn Châu Đốc làm 1 tổng, lại trích lấy 2 tổng của huyện Vĩnh Định cho lệ thuộc vào. ở phía tây sông Hậu Giang, đặt huyện Tây Xuyên, trích lấy 4 tổng của huyện Vĩnh An cho lệ thuộc vào. Nay xét 3 tổng thuộc huyện Đông Xuyên, đều ở bên tây sông Hậu Giang, 4 tổng của huyện Tây Xuyên đều ở bên đông sông Hậu Giang, vậy xin đổi lại cho hợp với địa thế đông tây”. Vua y theo.


    Vua cho rằng đạo Quang Hoá thuộc Phiên An là nơi quan trọng xung yếu, bèn ra lệnh cho quan tỉnh liệu phái 2 suất đội và 100 biền binh hiệp sức với quản đạo cùng đóng giữ. Lại sai tỉnh An Giang phái 1 Thành thủ uý, 100 biền binh đóng giữ pháo đài Kim Dữ : hạn 3 tháng 1 lần thay phiên, 1 quản cơ, 100 biền binh đóng giữ thành Nam Vang, hạn 6 tháng 1 lần thay phiên.


    Bỏ lệ nữ nhạc hát thờ.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Mỗi năm gặp 2 lễ đản ở điện Phụng Tiên, tiết Trừ tịch, tiết Nguyên đán và tết mồng 5 tháng 5, đã chuẩn cho theo lệ cũ hát xướng. Nhưng điện và miếu đều là chỗ tôn nghiêm, cốt phải mươi phần tĩnh túc, vậy từ nay hễ gặp các lễ ấy đều đình chỉ ban nữ nhạc lên hát thờ và cũng nên tước bỏ cả đội nữ tiểu hầu do ngạch cũ đã đặt”.


    Cho Nguyễn Văn Toán làm Lang trung bộ Binh, thưởng thêm cho 10 lạng bạc. Lúc mới chia đặt 6 tỉnh Nam Kỳ, tổ chức lính cơ, Toán vâng mệnh đi làm việc ấy sớm được thành công, cho nên được hậu thưởng. Sai dịch thuộc ty ở các tỉnh chuyên làm việc này cũng đều được thưởng mỗi người 5 lạng bạc.


    Bố chính Cao Bằng là Dương Tam và nguyên án sát hiện thự Bố chính Hải Dương là Nguyễn Huy Chiêm đều bị miễn chức.


    Trước đây, có phái viên ở huyện Vĩnh Thuần nhà Thanh, vượt tỉnh thành, đến phố Lương Mã, bắt tội nhân mà không có giấy tư báo. Lũ Dương Tam để cho cứ đi, điềm nhiên không tâu lên vua biết. Đến khi Thông phán Nguyễn Đăng Diêu vì là uỷ viên được về Kinh mới đem việc ấy tố cáo. Vua giao bộ Lại xét xử. Đến bấy giờ bộ Lại bàn xong dâng lên. Nguyễn Huy Chiêm vì chuyên giữ việc hình, phải cách chức, về bộ gắng sức làm việc để chuộc tội. Dương Tam bị giáng xuống hàm Chánh ngũ phẩm bắt về hưu trí. Tuần phủ Lạng Bình là Hoàng Văn Quyền vì sơ suất trong việc coi xét, phải phạt lương một năm.


    Đặt ty Bưu truyền ở tỉnh Phiên An (Tư vụ, Bát cửu phẩm thư lại mỗi chức 1 người, Vị nhập lưu thư lại 12 người. Ty này thuộc viên án sát kiêm coi. Phàm những sớ tấu, công văn của các tỉnh Phiên An, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên đệ về Kinh, nếu gặp sự việc thượng khẩn phải phi đệ thì do Tổng đốc, Tuần phủ sở tại phát trát đệ thẳng ; còn thì đều làm trát giao ty Bưu truyền tiếp nhận. Việc khẩn vừa thì trong một ngày nhằm giờ Mão và giờ Dậu, đệ đi. Việc thường thì 3 ngày 1 chuyến, đổi trát của Tổng đốc An - Biên giao trạm Phiên Tân chuyển đệ. Còn như ống trạm bộ Binh ở Kinh phát đi, một khi nhận được thì phải đổi trát ngay chiếu theo tỉnh hạt mà phát đi, không được để chậm. Lại cho rằng ở Gia Định và Bắc Thành trước, có lệ hằng năm, cứ nửa tháng về trước cưỡi ngựa trạm đi tâu báo giá gạo. Đến bấy giờ Phiên An và Hà Nội đều đã đặt ty Bưu truyền, còn việc lấy ngựa chạy trạm để báo tin thì cho Tổng đốc 2 tỉnh làm theo lệ cũ.


    Bỏ lệ cứ mỗi năm thưởng, phạt về sự làm việc hình ngục được tốt hay xấu.


    Vua dụ Nội các rằng : “Đốc suất làm việc và xét xem thành tích, thực là việc cần để chỉnh đốn quan lại. Trước đây đã sắc sai định rõ chương trình là có ý muốn học phép người xưa 3 năm 1 lần xét công để định thăng, giáng, tỏ rõ sự thanh trừng và nhiệm dụng. Đến như việc làm hình ngục được tốt xấu, cứ đến cuối năm làm thành tập sách bàn thưởng hay phạt, là do các quan đương thứ ở bộ bàn xin, chứ không phải ý ta. Vả, việc xét công trạng vẫn hạn 3 năm mà việc hình ngục văn án cũng là một việc ở trong kỳ khảo xét công trạng, thế mà lại lấy cuối năm để xét việc làm tốt, xấu thì là chưa đến kỳ xét công mà đã thưởng phạt trước, chẳng những thêm phiền và lại chẳng khỏi có sự hai bên khấp khểnh không ăn nhịp. Vả xưa nay
  • Chia sẻ trang này