0060.0046

29/12/15
0060.0046
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    bộ Lại lấy hơn bù kém thì có chỗ được 10 vụ án, làm tốt, không đủ bù 1 cái án làm xấu, thực là quá nghiêm ! Vậy sai các đình thần đến sau ngày khai ấn sang năm, hết lòng bàn rõ, đem hồ sơ việc làm hình ngục tốt hay xấu dồn cả vào kỳ xét công, đợi đủ 3 năm tính suốt chia hạng ra, bàn định thưởng phạt. Hơn bù kém, cũng nên chiết trung mà bàn xét, cho được công bằng thích đáng. Vả lại, những người ăn lương đủ 3 năm rồi, ở Kinh thì các quan chưởng ấn các nha của Bộ, của Viện, các quan chưởng lĩnh của các quân dinh. ở ngoài các tỉnh thì Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát đều căn cứ vào công việc sự trạng trong chức vụ mình làm bản tự trình bày. Còn như các quan chức văn võ thuộc viên đều do trên cai quản xét hạch về công và lỗi, cứ thực làm sổ. Phàm những sự việc nên làm đều phải bàn bạc thoả đáng tâu trình, đợi chỉ kể bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 13 (1832). Còn những việc hình ngục năm thứ 12 [1831] ở các hạt làm được tốt hay xấu đều chuẩn cho lập thành hồ sơ, không thi hành”.


    Định rõ lại lệnh cấm hút vụng thuốc phiện. Vua dụ rằng : “Thuốc phiện là do người nước ngoài chế ra, đã mắc phải bả độc nghiện ngập rồi thì không thể dứt bỏ được, thậm chí ruột héo, gan khô, khuynh gia, bại sản ! Thuốc phiện nó làm mê mẩn lòng người, có quan hệ đến phong tục không phải là nhỏ. Trước đây đã chuẩn định ngăn cấm có những điều khoản nghiêm ngặt đối với các quan chức và mọi người quân dân hút vụng và mua lậu thuốc phiện. Lại nhiều lần định rõ lại lệ cấm. Đó thực cốt muốn cho mọi người tránh, khó phạm, chẳng đến tiêm nhiễm thuốc nhơ. Thế mà gần đây xảy ra cái án Hoàng Công Tài, Lê Văn Huyên vi phạm lệnh cấm, hút vụng thuốc phiện. Lũ ấy đều là quan chức, mà còn cố phạm như thế. Đủ biết thuốc độc mê người, những kẻ say đắm đã lâu e chưa chắc đã trừ hết được cái cố tật ấy. Vả, khi thấy những người có án ấy đã bị nghiêm phạt, ai nấy phải nên trông thấy mà sợ, coi đó làm gương. Nay lại xuống chỉ dụ : từ Hoàng thân, quốc thích cho đến các quan lớn nhỏ trong Kinh và ngoài các tỉnh đều nên khéo tự giữ gìn, răn kỹ lánh xa để giữ cho thân danh được toàn vẹn. Nếu kẻ nào còn dám vi phạm sẽ bắt tội, không tha”.


    Vua nhân dụ bảo thự Thượng thư bộ Binh là lê Văn Đức rằng : “Tư chất người Gia Định vốn tuấn tú, dĩnh ngộ, dễ hướng dẫn làm điều thiện, nhưng gần đây nghe nói họ đua nhau hút thuốc phiện, buông tuồng xướng ca, cờ bạc, lấy làm phong lưu. Nếu như thế không thôi, thì tình thế sẽ đi đến chỗ là làm trộm, làm cướp, còn phụ nữ thì sẽ quen thói trên bộc trong dâu, lại càng đáng ghét ! Nếu những người chồng đã chuyên nghề phóng túng du đãng thì còn trách vợ không trinh tiết thế nào được nữa ? Người làm quan địa phương nếu chịu ráo riết dạy bảo khuyên răn, khiến mọi người nhận biết chiều hướng, bỏ hẳn thói xấu, sẽ không bị lưu tục lôi cuốn đi được”.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXXVIII



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833] (Thanh, Đạo Quang năm thứ 13).


    Mùa xuân, tháng giêng, ban tiền thay yến tiệc cho quần thần có thứ bậc khác nhau. (Trước kia ban cho bạc lạng, đến bây giờ đổi cấp bằng kim tiền, ngân tiền Phi long ; hoàng tử và mọi tước công : kim tiền Phi long nhỏ đều 1 đồng, ngân tiền Phi long lớn và nhỏ đều 10 đồng. Quan Kinh, Chánh nhất phẩm : ngân tiền Phi long lớn và nhỏ đều 10 đồng ; Tòng nhất phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 9 đồng ; Chánh nhất phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 8 đồng ; Tòng nhị phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 6 đồng ; Chánh tam phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 5 đồng ; Tòng tam phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 4 đồng ; Chánh tứ phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 3 đồng ; Tòng tứ phẩm, Chánh ngũ phẩm : tiền lớn và nhỏ đều 2 đồng ; sung Nội các Hành tẩu, Tòng ngũ phẩm trở xuống : tiền lớn và nhỏ đều 1 đồng).


    Vua sai 2 bộ Lại, Binh xem các quan lớn nhỏ trong ngoài từ năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] trở về trước, những ai vì làm việc công mà phạm lầm lỗi, đã phải phân xử giáng phạt, thì đều làm thành danh sách tâu lên, sẽ liệu cho khoan giảm hoặc tha hẳn.


    Lại cho rằng hai tỉnh Nam Định, Hà Nội và 3 huyện Yên Khánh, Yên Mô, Gia Viễn thuộc tỉnh Ninh Bình, mùa đông năm ngoái, giá gạo quá cao, nhân dân thiếu ăn, vua bèn xuống dụ sai Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng, thự Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm, mỗi tỉnh phát thóc kho 50.000 hộc, hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu phát thóc kho 15.000 hộc, đều theo trong sổ đinh cho mỗi người vay 1 hộc, ai muốn xin đong thì bán rẻ cho ; nếu có thừa thì cho phép liệu cấp cho những cùng dân trong hạt, hạng người không kêu vào đâu được.


    Thưởng cho 100 trạm từ Thừa Thiên vào Nam đến Phiên An, từ Thừa Thiên ra Bắc đến Hà Nội, mỗi trạm tiền và gạo 6 tháng. (Thừa Thiên 6 trạm, Quảng Nam 7 trạm, Quảng Ngãi 5 trạm, Bình Định 6 trạm, Phú Yên 6 trạm, Khánh Hòa 11 trạm, Bình Thuận 16 trạm, Biên Hòa 5 trạm, Phiên An 4 trạm, Quảng Trị 4 trạm, Quảng Bình 6 trạm, Hà Tĩnh 6 trạm, Nghệ An 5 trạm, Thanh Hoa 5 trạm, Ninh Bình 2 trạm, Hà Nội 6 trạm. Duy 1 trạm Ninh Đa, mỗi tháng tiền 40 quan, gạo 25 phương, còn các trạm khác đều tiền 30 quan, gạo 20 phương. Mùa hạ ân thưởng cũng thế).


    Hoàng tử Đức Thọ công là Miên Nghi, Hoàng đệ An Khánh công là Quang và Từ Sơn công là Mão, vì trong 3 ngày Tết Nguyên đán được tạm quyền đi tế các miếu, vì chậm trễ lỡ việc, liên danh dâng sớ lên xin lỗi.


    Vua nói rằng : "Ngày thường, ta dạy con em, chắc là cả đình thần đều biết, không ngờ lũ ấy quen tính dong chơi, gặp việc, chẳng biết kinh sợ, ta là cha anh, thực cũng khó chối được cái lỗi dạy bảo không nghiêm". Vua bèn giao cho Tôn nhân phủ bàn xét thì Đức Thọ công và An Khánh công đều bị phạt lương 1 năm, còn Từ Sơn công vì trễ không kịp việc tế, phạt lương 4 năm. Vua lại cho rằng bộ Lễ và viện Đô sát điềm nhiên không tham hặc về việc ấy, bèn ra lệnh cho phải tâu lại. Thì họ đều nói : vì gặp ngày tết, chưa kịp dâng trình.


    Vua nói : "Ta đã từng dụ bảo tận mặt : hễ có việc gì phải tâu, thì không câu nệ là ngày tết. Vậy mà các ngươi lại lót miệng bằng cớ đó thì có nên không ? Bộ và Viện đáng lẽ có lỗi đấy, nhưng nghĩ : nếu nay giao xuống để xét, thì tựa hồ con em ta có lỗi mà giận lây đến người bên cạnh, nên hẵng tạm tha. Từ nay, phàm các hoàng tử, các tước công và văn võ đại thần, nếu ai có lầm lỗi thì [Bộ và Viện] nên tức khắc chỉ tên mà tham hặc, không được chậm chạp quanh co nghe ngóng.


    Một chiếc quân thuyền đi tuần biển của tỉnh Quảng Đông nhà Thanh, vì bị gió bão, trôi giạt sang vụng Trà Sơn tỉnh Quảng Nam. Quan tỉnh đem việc đó tâu lên. Vua bảo : "Đó là thuyền công sai, chẳng ví như thuyền buôn gặp nạn được". Vậy ra lệnh cấp cho tiền 300 quan, gạo trắng 300 phương. Lại sai Lang trung bộ Hộ là Lê Trường Danh đến thăm hỏi, yên ủi và đem trâu, rượu thết đãi ưu hậu. Thuyền ấy có chỗ nào hư hỏng, thì sửa chữa giúp. Lại nghe nói những binh khí và nghi trượng đem theo, có nhiều thứ không dùng được nữa, bèn sai đem tặng 40 khẩu súng điểu sang máy Trung Quốc và 40 khẩu súng trường kèm theo thuốc đạn đủ dùng.


    Tuần phủ Quảng Tây nhà Thanh đưa thư sang tỉnh Lạng Sơn nói rằng : "Lịch ở Yên Kinh chưa đưa đến, vậy tạm đem lịch ở Quảng Tây cấp thay". Quan thự Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền đem việc tâu lên.


    Vua phê bảo rằng : "Chẳng biết công việc nước ấy ra sao, đến nỗi không có lịch ghi chính sóc để cho người ta ! Thật đáng tức cười ! Há có lẽ nào Tuần phủ được ban chính sóc ? Quyết không nên nhận. Phải từ chối đi !".


    Vua bảo Nội các rằng : "Cái phép dùng ngọc Thổ khuê ((1) Thổ khuê : Ngọc dài 1 thước 5 tấc, cổ nhân dùng để đo bóng mặt trời.1) để đo bóng mặt trời, chỉ dùng ở Trung Quốc thì được, chứ ở nước ta : ngày Đông chí, mặt trời ở phía nam thì bóng xế về bắc ; ngày Hạ chí, mặt trời ở phía bắc, thì bóng về nam, không lấy gì làm chuẩn đích. Lại như phép đong thì thóc có hột lớn hột nhỏ, không giống nhau, so sánh thực khó thích đáng. Lũ ngươi nên khảo cứu rõ ràng rồi tâu lên".


    Ngự giá đi chơi cánh đồng về phương Đông, đường qua làng Dương Xuân, thấy lúa tốt, bèn cho vời ông già làm ruộng đến thăm hỏi yên ủi và ban cho 3 đồng ngân tiền Phi long nhỏ.


    Tỉnh Quảng Nam tâu báo giá gạo rẻ.


    Vua phê bảo rằng : "Lúc mới chia đất đặt tỉnh, hạt ngươi là một tỉnh lớn ở phía nam Kinh thành, nay được gạo rẻ, lúa tốt, gặp ngày Khai xuân cầu Phước thực là điềm lành, ta xem lời tâu lấy làm mừng lắm !".


    Thự Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu nói : "Mùa xuân năm nay, đến kỳ duyệt đinh tuyển lính, thuộc hạt có huyện Tiền Hải là nơi mới lập, làng mạc nơi đông, nơi thưa, chưa phân biệt rõ. Vậy xin đợi đến khóa sau, sinh sản ngày thêm đông nhiều, sẽ làm theo lệ duyệt tuyển". Vua y cho.


    Bộ Binh tâu nói : "Khóa tuyển duyệt trước ở Bắc Kỳ, quan Khâm mạng từ Kinh ra, mỗi trường sở, theo lệ phái 150 kinh binh đi hộ tống ; khi đến tỉnh, sở tại lại cấp thêm 150 lính thú nữa, cộng là 300 người theo hầu ở trường sở. Vậy xin từ nay đến kỳ duyệt tuyển, từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, phàm những địa phương mà quan Khâm mạng đi qua đều lấy 50 biền binh đón đưa theo địa hạt mình ; khi về cũng thế. Còn cái lệ kinh binh đi hộ tống thì bỏ đi. Khi quan Khâm mạng đến trường sở rồi, thì quan địa phương phái ngay 300 lính hàng tỉnh để tùy tòng sai khiến". Vua chuẩn y lời tâu.


    Giảm bớt ngạch thuế cho những thuyền buôn Phước Kiến ; lệ trước, thuế thuyền buôn Phước Kiến nặng hơn Triều Châu, gần đây vì thấy dân nghèo, hàng cao, ít người đến buôn bán, nên vua định bắt đầu từ năm nay, phàm những người Phước Kiến có đến buôn bán ở các tỉnh thì cứ đánh thuế theo lệ như người Triều Châu.


    Đổi cấp thẻ tín bài bằng ngà cho các hạt từ Quảng Nam trở vào Nam.


    Điều bổ : Bố chính Tuyên Quang là Nguyễn Hữu Khuê làm Bố chính Hải Dương, thự Lang trung bộ Công là Đỗ Tuấn Đại làm thự án sát Hải Dương. Thăng án sát Sơn Tây là Đỗ Huy Cảnh lên thự Bố chính, Viên ngoại lang bộ Binh là Hoàng Văn Tú lên thự án sát Sơn Tây, án sát Tuyên Quang là Phạm Phổ lên thự Bố chính, thự Hàn lâm Thị độc học sĩ sung làm việc Nội các là Thân Văn Quyền bổ đi án sát Tuyên Quang, án sát Cao Bằng là Trần Văn Trị thăng thự Bố chính, Lang trung bộ Lại là Phạm Đình Trạc bổ đi án sát Cao Bằng, thự Đại lý Thiếu khanh là Hồ Hữu Thẩm bổ đi án sát Khánh Hòa.


    Cho : Thị lang bộ Hộ, sung làm việc Nội các là Hà Duy Phiên làm Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát, Hàn lâm viện Thừa chỉ là Hà Quyền làm Thị độc học sĩ sung làm việc Nội các.


    Sai Hữu tham tri bộ Hình là Bùi Phổ kiêm cai quản Đại lý tự.


    Vua sai bộ Lễ truyền chỉ cho quan tỉnh Quảng Yên xét xem từ khi đặt chức Đốc học đến nay, văn học có phát đạt không, học trò có thêm nhiều không, cứ thực tâu lên. Thự Tuần phủ là Lê Đạo Quảng tâu nói : "Những sĩ tử ở tỉnh, trước kia theo học ở tỉnh Hải Dương, không được mấy người, từ khi có Đốc học chuyên trách dạy dỗ, học trò ngày càng thêm nhiều".


    Vua bảo bộ Lễ : "Tỉnh ấy ở về ven biển, văn phong mới nhóm lên, rất nên dốc lòng bồi dưỡng cho lũ áo xanh cắp sách chóng được thành tài ; vậy cho cứ đặt chức Đốc học như cũ, để giúp việc dạy học".


    Tổng đốc An - Tĩnh là Tạ Quang Cự tâu nói : "Em của Chuyên Cương, Tuyên úy đồng tri ở phủ Lạc Biên là Hạt Sà Bút và Thổ mục là Phìa Mường Chân có lòng tráo trở, ngầm muốn theo nước Xiêm, quân dân xứ ấy chẳng ai là không ngờ nó ! Thần đã mật sai đòi đến, nhưng Hạt Sà Bút mượn cớ không chịu đi. Vả lại các phủ Lạc Biên đều là đất mới quy phụ, xa cách tỉnh thành mà gần đất Xiêm. Những người man ở bờ bên Nam sông Khung thường thường mượn tiếng người Xiêm hay đến dụ dỗ. Cái thói man di chỉ làm theo hành động của kẻ thổ mục. Nay Chuyên Cương già yếu hèn kém, không thể chế ngự được người dưới. Trước đây, Chiêu Thăng đem dân đi nơi khác, chẳng ai ngăn cấm nổi. Nay Hạt Sà Bút, Phìa Mường Chân đã thay lòng đổi dạ, nếu ta chẳng sớm trừ đi, thì e khó giữ yên được dân biên giới. Thần đã giữ lại ở tỉnh tên Phìa Mường Chân hiện đã bắt được để đợi lệnh, rồi phái Phó vệ úy vệ Tuyển phong tiền là Văn Hữu Xuân đem quân đi, nói phao lên là đóng đồn canh phòng, để bí mật nã bắt Hạt Sà Bút giải về trừng trị”.


    Vua dụ kín rằng : "Nhân dân phủ Lạc Biên đều là tôi con của triều đình, mà lũ thổ mục còn dám ngấm ngầm nghe ngóng, tráo trở hai lòng như thế, thật cũng đáng ghét ! Nay nếu cứ để tạm bợ, thì kẻ khác trông đó bắt chước, sau này xảy việc, chẳng khỏi phải làm tốn mất nhiều công ! Ngươi nên đem tên Phìa Mường Chân giam lại, rồi mật sức cho người đi phái đi trước là Văn Hữu Xuân tùy cơ bắt giải Hạt Sà Bút, tra tấn, nếu thấy quả có thực tình làm phản thì liền nghĩ xử nghiêm ngặt, đệ tâu lên. Còn Tuyên úy đồng tri Chương Cương cũng nên xét xem nếu quá già yếu thì tâu xin bắt về hưu, rồi chọn người nhanh nhẹn thay làm công việc phủ ấy".


    Sau đó Văn Hữu Xuân bắt được Hạt Sà Bút. Ra lệnh đem cùng tra hỏi với Phìa Mường Chân, chúng đều nhận tội, rồi đem giết đi cả.


    Vua lại cho rằng hai phủ Lạc Biên, Trấn Tĩnh, địa giới giáp bờ sông Khung, đường bộ đi lại không tiện bằng thuyền bè, bèn sai quan tỉnh chọn chỗ nào có sông ngòi thông với sông Khung thì đóng lấy sáu chiếc thuyền công sai để dùng. Quan tỉnh xin vát lính thợ đóng thuyền ở bến đò Tiểu Khê, bờ Bạc Phiệt (chỗ Chuyên Cương ở thuộc phủ Trấn Tĩnh).


    Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng tâu nói : "Hà Nội có chiếc thuyền buôn "Đại địch" của người lái buôn nhà Thanh, đi buôn không thấy trở về, vậy xin liệt vào hạng mất tích, cho miền thuế".


    Vua bảo Nội các rằng : "Trước giờ, nghe nói có nhiều lái buôn nhà Thanh hay đem các thuyền đã lĩnh bài bổ rồi chở trộm gạo về Quảng Đông, đổi làm hình dạng thuyền khác trở lại, chực mong miễn thuế. Đó là mánh lới, gian giảo của con buôn ! Sao được lấy cớ là mất tích mà xin miền thuế ? Thuyền ấy, cứ người bảo lãnh, bắt phải nộp thuế cảng hằng năm, đợi khi nó trở lại sẽ xét xử. Nguyễn Kim Bảng phải phạt lương 3 tháng và truyền cho các địa phương : Từ nay về sau, hễ có lái buôn nhà Thanh đóng thuyền, xin chịu thuế cảng, chỉ cho đi buôn ở trong nước ta thôi, không được trở về Trung Quốc hoặc đi Tân Gia Ba. Nếu có thuyền nào lén lút đi về, không trở lại, thì trách cứ ngay người bảo lãnh, mà thu thuế, lại sẽ trị tội nghiêm ngặt!".


    Ngày Canh thìn, làm lễ Xuân hưởng. Hôm ấy, sấm dậy ở phía nam. Tòa Khâm thiên giám đem việc đó tâu lên và dẫn sách Quản Khuy nói : "Sấm mùa xuân dậy ở phương Nam, năm ấy có hạn hán nhỏ". Lại nói : "Mùa xuân, tháng giêng có sấm, thì dân đói !".


    Vua phê bảo rằng : "Đất phương Nam không được dày dặn lắm, cho nên dương khí không chứa được nhiều, dễ bốc lên. Mùa đông còn có sấm, nữa là mùa xuân ? Vả lại, còn mấy ngày nữa đến tiết "Kinh chập", thì ngày hôm nay đã đến thời hậu rồi, còn lấy gì làm lạ nữa ? Xưa có nói : "Trong trăm dặm, chỗ có sấm, chỗ không có sấm", huống hồ khí hậu phương Nam lại khác hẳn. Chỉ đọc sách cổ, mà không xét đoán theo khí hậu thì chẳng phải sách làm lầm các ngươi, mà chính các ngươi tự làm lầm mình ! Duy khí mùa đông mà rét nhiều thì mùa hè chẳng khỏi nóng nhiều, hoặc đến tháng 5, tháng 6, có hạn hán chút ít, cũng là lẽ thường thôi. Đọc sách quý ở chỗ biết suy xét cho thấu nghĩa lý. Các ngươi kiến thức nông cạn, sao đủ nói điềm hay, điềm dở ?".


    Sai dinh Tiền phong đi thú Hà Nội, vệ Hữu bảo nhị đi thú Nam Định.


    Đổi tên các trạm ở tỉnh An Giang : trạm Vĩnh Giai gọi là trạm Giang Tân, trạm Vĩnh Định là trạm Giang Định, trạm Vĩnh Lộc là trạm Giang Lộc, trạm Vĩnh Hòa là trạm Giang Hòa, trạm An Phước là trạm Giang Phước. Làm lại cái thẻ trạm cấp cho. (Bốn trạm Vĩnh Giai, Vĩnh Định, Vĩnh Lộc, Vĩnh Hòa, nguyên trước thuộc tỉnh Vĩnh Long. An Phước là trạm mới đặt).


    Thự Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền tâu nói : "Mỏ sắt Mãnh Sá ở Lạng Sơn, mỗi năm lấy thuế 120 cân sắt, người lĩnh trưng xin đổi nộp bằng 6 lạng bạc". Vua y cho sai và sai trong 1 năm, sẽ xét lại, nếu sắt có hơi nhiều lên thì tâu xin tăng thuế ngay".


    Đổi chức Chánh, Phó tri sự ở các cục tượng trong Kinh và ngoài các tỉnh làm Chánh, Phó tri tượng nhưng phẩm hàm vẫn như trước. Đó vì cớ trùng với chức Tri sự các nha phủ, huyện.


    Tha cho lũ quan phạm tội là Hoàng Quýnh và Nguyễn Lương Huy.


    Tháng chạp năm ngoái, vua đã sai thả lũ Hoàng Quýnh 10 người cho về thăm nhà, hẹn đến sang xuân phải đến đủ, truyền dụ bảo rằng : "Ta nghĩ lũ ngươi bị giam đã lâu, nay gần hết năm, bất giác ta lại động lòng thương xót, cho nên thả cho về xum họp với gia quyến trong vài ngày thôi, chứ há thèm làm theo Thái Tôn nhà Đường đâu ? Nếu các ngươi lén lút trốn tránh thì sẽ bị nghiêm trị theo luật pháp. Đó là lũ ngươi tự làm nên tội. Nếu đúng hẹn đều đến rồi theo án trước phân xử, ta cũng không có lý nào uốn cong pháp luật mà tha đâu". Đến bây giờ bọn Hoàng Quýnh đều y hạn đến nhà ngục.


    Quan bộ Hình được việc tâu lên. Vua bảo rằng : "Ta vốn lấy sự tin thực đối xử với người, chắc rằng lũ ấy không dối ta đâu. Nay quả thực thế". Vua bèn tha cho, phát vãng đi làm việc trên đường biển, để gắng sức chuộc tội.


    Núi Truân Sơn (thuộc thôn Thủy Dương, huyện Phú Vinh) ở phủ Thừa Thiên sụt ước 300 trượng.


    Chuẩn định : Các cột cờ ở Kinh thành và các tỉnh hằng năm gặp chính nhật và trước một ngày, ngày giỗ 19 tháng 12 với chính nhật, mọi ngày giỗ khác đều miễn treo cờ. Việc này ghi làm lệ mãi.


    Cho những Viên ngoại lang trong sáu bộ và những viên khoa đạo ở viện Đô sát hễ là hạng người có vào túc trực đều được dự ăn tiệc.


    Giặc trốn ở Quảng Yên là Nguyễn Bảo, liên kết với đoàn thuyền giặc Thanh, ra vào ở vùng biển Hoa Phong, Vân Đồn. Viên thổ lại mục ở Vạn Ninh là Phan Huy Bích, đem thủ hạ và hương dõng đi tuần thám, gặp giặc, giặc vừa đánh vừa lui. [Bọn Bích] đuổi 1 ngày 1 đêm, đến bãi Vụ Thủy (thuộc hải phận Hải Nam, phủ Quỳnh Châu nhà Thanh), đánh đắm được 1 cái thuyền giặc, chém được tên đầu đảng giặc Thanh là Ngô á Tam và bắt sống được tên đồng đảng là Phan á Bát. Còn tên Bảo nhảy lên bờ, chỉ kịp một mình trốn thoát. Các thuyền khác chạy về phía đông, đều bị quan quân nhà Thanh bắt được.


    Thự Tuần phủ Lê Đạo Quảng đem việc đó tâu lên. Vua rất khen ngợi, thưởng Phan Huy Bích Tòng bát phẩm bá hộ và 500 quan tiền.


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Bọn phỉ ấy bị dồn đến bước đường cùng, đều do sức quân hương dõng của nước ta, quan nhà Thanh nhờ đó mà được thành công, chẳng hay lũ người nhà Thanh ở những thuyền gặp nạn có nghe biết không !". Vua liền sai ty thuộc ở bộ, đi ra vụng Trà Sơn dò hỏi.


    Sau đó, Phan Huy Bích lại săn bắt được Nguyễn Bảo, đem nộp. Giặc biển yên hết. Vua xuống chỉ khen thưởng, cho Phan Huy Bích Chánh thất phẩm thiên hộ, thưởng thêm cho 100 lạng bạc và 200 quan tiền.


    Sai quan tỉnh Định Tường dồn 3 đội trấn binh trong tỉnh làm đội Nhất cơ Tường tráng và mộ thêm dân ngoại tịch, xếp đặt sung bổ theo thứ tự từng đội, mỗi đội hạn là 50 người.


    Chuẩn định : Hằng năm, gặp tiết Thiên thụ, vua thân đến điện Phụng Tiên làm lễ. Nội giám dự vào chấp sự. Các hoàng tử, mọi tước công đều theo vào lễ. Các quan văn võ từ Tam phẩm trở lên đều miễn bồi tế.


    Ngày Mậu tý, duyệt binh.


    Bộ Lại tâu nói : "Chức vụ của trăm quan, cốt yếu ở Hội điển. Nay Hội điển chưa làm xong, vậy xin từ mồng 1 tháng giêng năm nay về sau, những nhân viên được thăng thụ, thực thụ đáng được cấp cáo sắc đều do bộ viết sao chiếu chỉ, giao cho đi cung chức ; đợi khi Hội điển ban hành, sẽ chiếu lệ làm cáo sắc cấp sau". Vua y theo.


    Bố chính Quảng Ngãi là Lưu Đình Luyện nhận đồ lễ biếu. Việc phát giác, vua sai trước hãy cất chức, rồi đặc cách phái Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát là Hà Duy Phiên, cầm cờ biển, đem theo Ngự sử Lê Bình Trung và ty thuộc bộ Hình cùng với trấn phủ đi đến tra xét.


    Sai Tả tham tri bộ Hộ là Trương Đăng Quế tạm quyền giữ ấn triện viện Đô sát.


    Chuẩn định : Từ nay về sau, phàm những quan chức văn võ ở Kinh, phải giáng cấp, hay bắt về hưu, đều do bộ Binh, bộ Lại cấp cho văn bằng, không nên làm tờ chiếu như trước.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : "Trước đây đã định lệ về tên húy các miếu : 1 chữ, bên tả bộ ngọc, bên hữu chữ hoàn ; 1 chữ trên thảo đầu, dưới liên chữ nôm, trong chữ giản : đều cho lúc đọc, thì tránh âm, lúc viết thì thêm nét ; còn tên người, tên đất đều không được mạo dùng. Nay nghĩ : nguyên hai chữ ấy, trong các văn thư thường phần nhiều phải dùng đến, nếu nhất khái câu nệ theo điều cấm, thì người ta dễ sai lầm, chẳng khỏi can phạm pháp tắc. Vả lại, tên người tên đất, đã cho đổi tránh, cũng đủ rõ ý kính cẩn rồi, vậy trong chỗ giấy mực chớ nên quá ư câu chấp. Từ nay về sau, phàm những lúc viết hễ gặp 2 chữ Hoàn, Lan đều không phải viết thêm nét, đến như lúc đọc thì tránh âm, còn khi gọi tên người, tên đất thì vẫn theo lệ cấm.


    Tên húy đức Tiên sư Khổng Tử, đã chuẩn cho lúc đọc thì đọc là Kỳ, lúc viết thì viết là Khâu : ấy là ý sâu xa của ta tôn sư trọng đạo. Vả, chữ húy ấy đã chính thức dùng vào việc lễ lớn tế Giao, chẳng hay nên thay đổi mặt chữ, thì ngoài ra tất cả các văn thư còn nên thêm nét làm gì ? Từ nay về sau, khi viết, hễ gặp chữ Khâu thì chuẩn cho viết đúng mặt chữ, khi đọc thì tránh âm như trước. Việc này ghi làm lệnh lâu dài.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : "Trước đây, gặp các ngày tết, ở sân điện theo lệ, có đốt đèn, nhưng ánh sáng không được xa. Nhân đó ta nhớ trong Kinh Thi có nói : "Chưa đến nửa đêm, đình liệu vẫn sáng", thì cái tên gọi đình liệu thực có ở trong kinh sách. Hôm nọ, sai đặt hai cây đình liệu cũng đủ sáng khắp trong ngoài. Vậy lệ đốt đèn từ nay về sau nên bãi bỏ.


    Ngày Canh dần, xây dựng điện Thái Hòa, cửa Đại Cung và cửa Ngọ Môn. Điều 10.000 kinh binh làm việc. Sai thự Hiệp biện Đại học sĩ Lê Đăng Doanh, Thống chế Nguyễn Tăng Minh, thự Thống chế Hồ Văn Khuê, thự Thượng thư Lê Văn Đức, chia coi mọi việc. Thị lang bộ Công là Nguyễn Trung Mậu và Đoàn Văn Phú theo giúp việc.


    Khi mới trung hưng, xây đắp cung thành, hoàng thành, dựng làm cung điện. Mặt trước cung thành, chính giữa là điện Thái Hòa, hai cửa tả hữu là Tả Túc và Hữu Túc. Mặt trước hoàng thành, chính giữa là điện Càn Nguyên, hai cửa tả hữu là Tả Đoan và Hữu Đoan. Đến bấy giờ dời điện Thái Hòa, hơi dé về phía nam, đồ sộ và rộng lớn. Dưới thềm điện ấy làm bệ đỏ, dưới bệ đỏ là long trì, dưới long trì là hồ Thái Dịch, có xây cái cầu ở giữa. Hai đầu cầu đều có cửa ngăn (Cột đồng trụ, chạm hoa bằng đồng đỏ kẽm trắng, pha chế 4 phần đồng, 6 phần kẽm).


    Còn ở mặt trước cung thành, chỗ chính giữa xây cửa Đại Cung (1 cửa giữa, 1 cửa tả và 1 cửa hữu). Hai bên phía bắc cửa Đại Cung, làm tả hữu hành lang, thông đến tả hữu giải vũ điện Cần Chính. Thềm đằng trước cửa Đại Cung cách hơn 2 trượng thì đến thềm phía bắc điện Thái Hòa, bên tả bên hữu đều đặt cửa ngăn : bên tả là cửa Nhật Tinh, bên hữu là cửa Nguyệt Hoa (sau đổi là Nguyệt Anh).


    Mặt trước hoàng thành, chỗ chính giữa dựng cửa Ngọ Môn (giữa 1 cửa, 2 bên tả hữu mỗi bên 2 cửa, tất cả 5 cửa). Cửa giữa và 2 cửa giáp 2 bên, trên cửa có gác dầm ngang thẳng đều làm bằng đồng, 58 cái dầm ngang bằng đồng đỏ và kẽm trắng, pha chế 3 phần đồng, 7 phần kẽm, 12 cái dầm thẳng pha chế 4 phần đồng, 6 phần kẽm, đều 3 tấc bề mặt, 2 tấc bề dày. Hai cửa bên tả hữu, xây làm 2 cửa quyết). Phía trên cửa, làm lầu Ngũ phượng, phía trước cửa có hồ, đặt tên là Ngoại Kim Thủy Trì ; trên hồ xây cầu Kim Thủy (giữa và tả hữu mỗi chỗ 1 cái). ở đan bệ, long trì, hồ Thái Dịch, cầu Kim Thủy và tầng trên cửa Ngọ Môn đều có câu lơn (đều dùng gạch hoa bằng lưu ly các màu). Kiểu mẫu tôn nghiêm, thực là chế độ đời thái bình.


    Vua nghĩ : Việc làm đó là cả một công trình to lớn, nên muốn tìm cách làm dè dặt sức lực quân lính, bèn định rõ thời hạn làm việc và nghỉ ngơi : mỗi ngày làm từ sáng sớm đến đầu giờ Ngọ ((1) Khoảng 11 giờ.1) thì nghỉ ; đầu giờ Mùi ((2) Khoảng 14 giờ.2) làm, chập tối nghỉ. Lại phái 5 người trong Thái y viện đem thuốc nhà nước đến chỗ thợ làm, có ai đau ốm thì chữa cho.


    Vua thường hỏi Thị lang bộ Công là Nguyễn Trung Mậu : "Xưa nay việc xây dựng đô thành đều làm hướng nam có phải không ?". Mậu thưa : "Vâng, nếu không đóng hướng vào những chữ tý, ngọ, thì cũng quý, đinh, nhâm, hay càn, tốn, đều thuộc về hướng nam".


    Vua nói : "Năm nay là năm Quý tỵ, hướng đông là hướng "sát", mà hướng nam là hướng lợi, việc xây thành nên làm đi. Câu nệ về sự kiêng kỵ, là cái học của nhà thuật số, ta rất không tin, nhưng việc sửa sang thành trì là kế lâu dài của nhà nước, thì theo lành, tránh dữ cũng không sao !".


    Có kẻ lấy trộm cây nến bằng bạc ở điện Minh Thành. Trực ban là lũ Tôn Thất Chung đều phải cách chức, bắt để xét hỏi. Hộ lăng Trung vệ Vệ úy là Tôn Thất Đạo và Tiền vệ Vệ úy là Tôn Thất Cung cũng đều bị cách thức, đợi xét. Sau đó kẻ trộm lén bỏ tang vật ở bên đường. Quân Trung vệ nhặt được, đem nộp. Có 4 người can chứng, bị nhiều người chỉ trích, tra tấn mãi vẫn chưa nhận. Vua sai bộ Hình giam giữ để đợi xét, còn thì thả ra cả.


    Tên phản thần nước Chân Lạp là ốc Nha Cố ở Bắc Tầm Bôn, cầu viện quân Xiêm sang khuấy rối cướp bóc phủ Phủ Lật. Vua Phiên là Nặc Chân sai quân đi bắt. ốc Nha Cố lại trốn đi. Nặc Chân đem việc đó báo cho Tổng đốc An Giang kiêm
  • Chia sẻ trang này