0060.0047

29/12/15
0060.0047
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    lĩnh bảo hộ là Lê Đại Cương. Ngô Bá Nhân cho rằng việc ấy có quan hệ đến biên giới, chưa nên vội động binh đao, hãy nên sai đưa thư nhờ nước Xiêm bắt trị cho và trách hỏi viên phủ mục phủ Bắc Tầm Bôn về cớ chứa chấp kẻ phản thần ; đợi xem hắn xử trí ra sao, rồi sau sẽ làm cho thỏa đáng. Sớ tâu lên, Vua phê bảo : "Việc ấy quyết không phải tự ý vua Xiêm, chẳng qua do lũ quan ở biên giới tham của, gây vạ, nghe theo phạm nhân đang trốn, những mong cướp bắt nhân khẩu mà thôi. Lũ ngươi làm thế, phải lắm !".


    Thăng án sát Quảng Ngãi là Dương Văn Phong lên thự Bố chính ; bổ Tư vụ Vũ khố Nguyễn Đức Hội làm Viên ngoại lang bộ Hình, thự án sát Quảng Ngãi.


    Hộ lý Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Đăng Giai tâu nói : "Từ tháng 8, tháng 9 năm ngoái đến nay, dân đói Bắc Kỳ, nhiều người vào Thanh Hoa kiếm ăn, có kẻ chết ở dọc đường. Tình cảnh ấy, chính mắt trông thấy, thật không đang tâm ! Vả lại, bày cho làm việc để thay phát chẩn, cũng là một cách cứu đói. Bờ hào ngoài thành và cái cầu đá ở đường cái quan chưa từng xây đắp, cần dùng đá núi khá nhiều. Vậy xin quyền đặt một sở Dưỡng tế lớn, tập hợp các dân xiêu lại, chọn lấy những người khỏe mạnh, thuê đi lấy đá. Và đồn Thủy bảo bị nước sông chảy xói, nên đào cảng sông (từ 2 xã Phú Cốc, Thọ Hạc đến xã Nam Ngạn ra sông lớn, dài 574 trượng trên rộng 6 trượng, dưới rộng 4 trượng, sâu 7 thước) để dời đồn Thủy bảo, làm ra chỗ khác. Vậy xin thuê người làm công luôn thể, cấp cho tiền và gạo để họ có cái nương nhờ".


    Vua cho làm và sai phát tiền kho 1.000 quan, gạo 2.000 phương, phát chẩn cho những người già yếu, đàn bà, con trẻ và những người tàn tật không có chỗ kêu than vào đâu.


    Tập thơ ngự chế thứ hai đã khắc in xong (từ mùa xuân năm Minh Mệnh thứ 12 [1831] đến mùa đông năm thứ 13 [1832], thơ cổ thể và kim thể, gồm 10 quyển, cộng 613 bài, 2 quyển mục lục). Thưởng 100 lạng bạc cho những người chuyên biện và hội biện cùng với thợ làm. Sau đó, sai in ra, cấp cho : các hoàng tử, các tước công, các đường quan ở bộ, ở viện, ở Nội các, các quan Quốc tử giám trong Kinh, các quan tỉnh và các quan học chính ở các trực [Tả trực kỳ và Hữu trực kỳ] và các tỉnh ở ngoài, mỗi người 1 bộ.


    Vua bảo bộ Hộ rằng : "Ta nghe nói tỉnh Lạng Sơn có kén tằm trắng, to hơn kén thường, chẳng hay sản ở hạt nào, hay từ Trung Quốc đem sang ? Bộ Hộ ngươi nên tư ra mua lấy 1, 2 cân thử xem thế nào ?". Lại nói : "Ta xem bản đồ nhà chăn tằm của người Trung Quốc, thấy ở dưới nhà đào sâu xuống hơn 5 thước, đốt củi gỗ ở trên, để sưởi cho tằm. Người đàn bà chăn tằm, khi vào nhà tằm, thì mặc áo đơn, rét thì sưởi lửa, nóng thì bỏ lửa, lấy thế làm mức độ. Ngạn ngữ có câu : "Kín như buồng tằm" và kiêng vía van với lời nói xúi, nhưng ta ở trong cung, có cho nuôi tằm, chẳng kiêng cữ gì, mà tằm vẫn rất tốt, thì lời ngạn ngữ ấy chẳng đáng tin. Vả lại tơ tằm của Trung Quốc, ở Hồ Nam tốt nhất. Kén tằm của nước ta cũng tốt, duy cách chuội tơ chưa khéo, cho nên sắc tơ kém tươi và nhũn đó thôi. Bởi thế, xưa kia có gái giặt lụa chuyên làm nghề chuội tơ".


    Thị vệ Hoàng Văn Tường và Lê Quang Chúng, nhân đi công sai nhận ăn hối lộ do bọn gian thương Gia Định khấn khứa, rồi vì chúng mà xin việc. Việc ấy phát giác, vua bảo rằng : "Đối với bọn thị vệ từ trước đến giờ, ta vẫn nhiều lần răn bảo, thế mà lũ Hoàng Văn Tường còn dám tham lam, mắt không trông thấy pháp luật, tuy tang vật chưa đến tay, nhưng bẻ cong pháp luật mà xoay xỏa mưu toan, thật rất đáng ghét ! Vậy buộc phải trừng trị nghiêm ngặt để răn kẻ khác sau này : Hoàng Văn Tường và Lê Quang Chúng đều xử tội giảo giam hậu, đợi đến sau mùa thu, sẽ xử quyết.


    Sai Suất đội Thủy quân là bọn Lê Văn Nhiêu cưỡi thuyền "Bình dương" lớn, sang Tân Gia Ba làm việc công.


    ở khu rừng đạo Quang Hóa, tỉnh Gia Định, đào được hàng vạn viên tròn như hòn đạn, đem nấu chảy ra chất lỏng đóng lại thành khối, đem thí nghiệm thấy nó không thuộc về loại ngũ kim. Lại ra lệnh đào sâu đến 7, 8 thước, chỉ thấy những hòn đạn và đất các màu đỏ, vàng, đen, trắng mà thôi.


    Vua nói rằng : "Trong khoảng mờ mịt, vật gì chẳng có. Chỗ đất ấy 5 sắc cũng là thuộc về ngũ hành. Đó há chẳng phải là cái khí tinh hoa ngưng lại, kết thành ra thế, rồi có lẽ sẽ hóa ra ngũ kim, cũng chưa biết chừng ! Những hòn đạn ấy chất dẫu rắn, nhưng sức nó nhẹ, không đi xa được, nên không thể dùng vào việc binh".


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Binh chế của triều đại ta, mỗi vệ có 10 đội, mỗi đội có 50 người ; mỗi đội có 20 khẩu súng dài, 20 khẩu súng điểu sang và 4 cán cờ. Thế là một vệ 500 người, mà có đến 40 người cầm cờ. Xem binh chế của Tây dương, 2.000 người chỉ có 2 lá cờ ; binh chế nhà Thanh, cũng 1 vệ chỉ có 4 lá cờ, chứ chưa có nước nào nhiều cờ đến như thế ! Súng để bắn, giáo để đâm, đều cần thiết trong việc dụng binh, còn cờ chỉ để chỉ huy lúc lui, lúc tiến, nhiều có ích gì ! Bộ Binh ngươi nên ghi nhớ : mỗi đội chỉ cấp cho 2 cờ thôi, còn thì đều cấp cho khí giới mới được". Vua lại nói : "Ta xem binh lính nhà Thanh, quá nửa là hương dõng, số tại ngũ không có mấy. Các nước phương Tây như Anh Cát Lợi là nước mạnh nhất, mà số quân chỉ có 5, 6 vạn. Số quân của triều đại ta hiện có tên ở trong sổ đã nhiều, nay đang lúc thiên hạ thanh bình, ta muốn một phen sáng lập chương trình, cho quân được nghỉ ngơi. Nhưng vì công trình xây dựng còn cần dùng đến sức quân nên phải đợi sau này sẽ từ từ bàn tính mà làm".


    Thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ tâu nói : "Kẻ đứng nguyên đơn tố giác về việc lậu đinh ít có xác thực, còn những dân bị tố có khi vì thế mà sợ hãi trốn tránh, dần dần trở thành xiêu giạt ! Nay gần đến kỳ tuyển lính xin thông sức khắp các hạt : ai có muốn tố giác việc lậu đinh, thì cho đưa đơn trong hạn tuyển lính để tra xét ; nếu tuyển xong mới tố cáo, thì không xét nữa và chiếu luật trái lệnh trị tội".


    Vua bảo bộ Hộ rằng : "Cái tội lậu đinh, trong luật đã nói rõ. Trước giờ chưa từng cấm người tố giác bao giờ. Duy lũ côn đồ hư hỏng, trả thù, báo oán, thường lấy sự đó để đe dọa làng xóm, cho nên ít được thực mà phần nhiều là vu. Văn án hãy còn nhan nhản ra đó. Thói ấy thật đáng ghét ! Nay các tỉnh Bắc Kỳ đương kỳ tuyển lính, nên truyền cho các Tổng đốc, Tuần phủ : sức khắp hạt mình, làng nào có ẩn lậu, cho cứ thực bày tỏ ; rồi Tổng đốc và Tuần phủ hội đồng với các quan Khâm mạng tuyển lính làm việc tra xét, hễ kẻ nào tố cáo không thực, thì kết tội nặng hơn. Nếu kỳ tuyển duyệt đã xong, trong số lính, số ngạch đã ổn định, nội 1 năm không được khiếu nại nữa, để lũ điêu ngoan không còn chỗ khua múa, mà dân ta mới được sống yên".


    Chuẩn định : chức Tri bạ ở các đội Thân binh, trật Tòng lục phẩm (trước, Tòng ngũ phẩm) ; chức Tri bạ ở các đội Cấm binh, trật Chánh thất phẩm (trước, Chánh lục phẩm) ; chức Tri bạ ở các đội Tinh binh, trật Chánh bát phẩm (trước, Tòng lục phẩm). Tòng bát phẩm thư lại ở các đội Thân binh, Chánh cửu phẩm thư lại ở các đội Cấm binh, Tòng cửu phẩm thư lại ở các đội Tinh binh đều bớt đi. Mỗi đội chỉ đặt 1 Vị nhập lưu thư lại. Hễ Tri bạ có khuyết thì chọn lấy người Vị nhập lưu thư lại mà cần mẫn, được việc, tâu xin cho làm thí sai. Sổ ngạch Điển ty : về Thân binh, lúc mới thí sai, Chánh cửu phẩm thư lại, mãn hạn được thực thụ ; lại thí sai Chánh bát phẩm thư lại, mãn hạn, được thực thụ, bấy giờ mới thí sai Tri bạ. Về cấm binh, lúc mới thí sai, Tòng cửu phẩm thư lại, mãn hạn, được thực thụ ; lại thí sai Tòng bát phẩm thư lại, mãn hạn, được thực thụ, bấy giờ mới thí sai Tri bạ. Kỳ hạn thí sai đều 6 năm, mãn hạn, mới được thực thụ.


    Hộ lý Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu tâu nói : "Đối với tên đầu đảng giặc là Lê Duy Lương cùng đồng đảng là bọn Quách Tất Công, Quách Tất Tế, Cao Viết Biện, Quách Đình Chi, trước đây đã nghiêm ngặt định hạn dò bắt, đến nay chưa bắt được, xin lại rộng cho một hạn 6 tháng nữa, để tùy cơ dò bắt". Vua ưng cho.


    Hồ Hựu lại tâu nói : "thổ Tri châu Mỹ Lương là Đinh Công Trọng, vì tội không bắt được giặc, phải cách chức, phát đi làm lính ở cơ Định man, nay Công Trọng xin giam lại ở tỉnh 1 năm, để tiện việc ủy cho thân thuộc dò bắt lũ Lê Duy Lương, để chuộc tội trước. Vả lại, Mỹ Lương giáp giới với Lạc Thổ, Phụng Hóa, thuộc Ninh Bình, mà những thân thuộc của hắn đã quen thủy thổ, người hợp với đất. Nếu ủy cho việc dò xét, thì những thân thuộc của hắn vì tình thân, sẽ sốt sắng ra sức lùng tìm, có khi bắt được lũ tội phạm ấy đem đến để kết án ; nếu hết năm không làm được công trạng gì, bấy giờ sẽ phát vãng hắn đi, cũng chưa muộn".


    Vua phê bảo : "Lời tâu này rất phải. Lũ Duy Lương và Tất Công đều chưa bị bắt để làm án, ấy là việc của Hồ Hựu hãy còn chưa xong ! Nếu bắt được chúng thì ngươi sẽ chuộc được lỗi trước, mà Đinh Công Trọng thế nào cũng được lấy công bù tội. Nếu chỉ nói suông, thì tội lại thêm tội đấy !".


    Truy khai phục cho viên bị cách là Lê Nguyên Đản làm Viên ngoại lang (được đi trổ sức làm việc để chuộc tội ở đường biển, Đản chết ở dọc đường).


    Hà Nội tâu báo về giá gạo xuống mau, nhưng trong tập tấu không nói gì đến tình trạng của dân gian.


    Vua xem tấu, phê rằng : "Dân tình ra sao ? Chẳng có một chữ nói đến, thực đáng gọi là quan làm vì, văn chiếu lệ !".


    Bộ Hộ tâu nói : "Từ Kinh kỳ ra Bắc, trước đã chia hạt, đặt quan, các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát, Lãnh binh theo lệ được chiêu mộ thuộc binh để tùy tiện sai khiến. Từ Kinh kỳ trở vào Nam, các tỉnh nay đã chia hạt đặt quan, xin cũng nên cho theo cùng một lệ với Bắc Kỳ.


    Vua bảo rằng : "Các quan địa phương ở Bắc Kỳ có thuộc binh để giúp việc đi tuần bắt giặc ; còn các tỉnh Nam Kỳ đều yên ổn, sao nên vin đó làm lệ ? Vậy những viên Đốc, Phủ, Bố, án và Lãnh binh nào từ Bắc Kỳ thẳng điệu vào mà có thuộc binh thì cho đem theo, còn thì không được".


    Tuần phủ Thuận - Khánh là Hoàng Quốc Điều tâu nói : "Biền binh các cơ, các đội Bình Thuận, lệ trước, có chia làm hai ban, bốn ban hoặc năm ban, rất không thống nhất ; vậy xin chia làm ba ban". Vua y cho.


    Cửa Đại Cung làm đã gần xong.


    Vua khen là khéo đẹp, thưởng cho thợ 300 quan tiền ; sai 2 Hiệu úy, 2 Cai đội vệ Cẩm y, 4 thị vệ, 6 hộ vệ, 4 Đội trưởng vệ Cẩm y, 10 binh lính ; 2 Đội trưởng và 6 binh lính ty Trấn phủ đều cầm gươm đeo súng, mỗi ngày một lần đổi ban, thay nhau coi giữ.


    Sai quan phần việc chế đúc dấu kiềm cho thủ hộ viên coi giữ cửa Ngọ Môn và coi giữ cửa Đại Cung mỗi viên một cái để dùng. Các cửa thành cùng cửa Thủy quan Đông thành và cửa Thủy quan Tây thành cũng đặt thêm 2 chữ "Thủ hộ" đổi lại dấu kiềm mà cấp phát cho (đều bằng đồng). Dùng Lang trung bộ Hình, nguyên trước theo làm việc ở thành Gia Định là Phan Phu làm Lang trung bộ Lại.


    Tổng đốc An - Biên là Nguyễn Văn Quế, tâu nói : "Theo tập tấu kiến nghị của bộ Lại, phủ Tân Bình tỉnh Phiên An kiêm lý Tân Long, thống trị Bình Dương, vả lại Bình Dương ở chung quanh tỉnh thành, đất rộng, người nhiều, buôn bán sầm uất, thực là một nơi xung yếu. Vậy xin nên đổi phủ Tân Bình kiêm lý Bình Dương, thống trị Tân Long, còn chỗ lỵ sở Bình Dương trước cách tỉnh thành hơi xa, nay Tân Bình là thủ phủ, nên đặt phủ lỵ ở ngay nguyên chỗ trấn Phiên An đóng trước, ngõ hầu mới là tiện lợi". Vua y lời tấu.


    Đắp thành đất tỉnh Hà Tĩnh (thành mở 4 cửa tiền, hậu, tả, hữu, mỗi mặt đều dài 140 trượng). Trước kia khi chia đặt tỉnh hạt, Tổng đốc, Tuần phủ cùng với Giám thành chọn được chỗ xã Trung Tiết, huyện Thạch Hà, địa thế cao ráo rộng rãi, đằng trước có núi Cảm Sơn, lại có một dải sông dài chảy quanh phía trước, vòng sang bên tả, trên thông với sông Nại Giang, dưới thông ra cửa Luật. Đó là một khu đất đẹp. Họ bèn xin đóng tỉnh thành ở đấy, duy có nước sông hơi mặn, đến đâu phải đào giếng ở đó.


    Vua sai đình thần bàn lại, rồi cho thi hành. Đến bấy giờ lấy 3.000 quân lính ở 2 tỉnh Nghệ - Tĩnh, ủy cho Tổng đốc Tạ Quang Cự trông coi mọi việc.


    Giá gạo tỉnh Quảng Trị còn cao. Vua chuẩn cho lại lấy 15.000 hộc thóc kho bán cho dân.


    Các tỉnh Bắc Kỳ tâu báo cuối mùa đông năm nay, các địa phương đều yên ổn.


    Vua bảo thị thần rằng : "Bắc Kỳ, năm trước, luôn bị nước lụt, nhân dân đói kém, đến nỗi phải đi kiếm ăn khắp đông tây, thế mà sở tại yên ổn, không còn giặc cướp. ý hẳn gặp loạn ở cuối đời nhà Lê, nhân tâm phong tục đã thối nát quá lắm, cho nên lòng người được trời ngấm ngầm xui khiến, đổi bỏ thói bạc trở lại phong tục thuần hậu để cùng hưởng Phước thái bình chăng ?".


    Tổng đốc An - Biên Nguyễn Văn Quế, Tổng đốc An - Hà Lê Đại Cương cùng ký tâu lên nói : "Hai tỉnh Phiên An, An Giang, nơi thì xe thuyền tụ họp, nơi thì địa thế xung yếu, cần phải có nhiều quân để đóng giữ. Thế mà cơ binh thuộc tỉnh phần nhiều chưa tập luyện thành thạo ! Vậy xin lượng cấp cho mỗi tỉnh 1 vệ Kinh binh đến thú, mỗi năm một lần thay đổi, để lúc hoãn lúc cấp có quân nanh vuốt giúp đỡ".

    Vua dụ bảo rằng : "Nhân dân các hạt Nam Kỳ vốn gọi có tiếng là trung nghĩa, dẫu nước ngoài phương xa đâu cũng nghe biết, từ lúc dấy quân ở Đông Thổ đến lúc lấy lại dư đồ, đều nhờ sức giúp đỡ của nhân dân Nam Kỳ cả. Triều đình chưa có lúc nào không nhớ nghĩ đến. Huống chi do sự bồi dưỡng ung dung của các triều đại ta, chắc nhân dân ấy được hưởng ân đức vui hòa đã lâu năm rồi. Họ một lòng nghi nhớ, chẳng lúc nào quên. Chỉ hiềm nỗi viên quan đại thần, chuyên coi giữ ở ngoài như Lê Văn Duyệt, và những người làm việc chăn dân ở địa phương, chẳng biết hết lòng vỗ về nuôi dạy cho phải đường, để thói dân dần đến kiêu bạc, binh bị cũng gần như trễ tràng. Lỗi ấy còn đổ cho ai được ? Ta đoái trông về phương Nam, quặn lòng mưu tính những việc thiện hậu. Nay là lúc mới chia hạt, đặt quan, mọi việc đều đã ngăn nắp, tưởng cũng có thể mong được yên ổn đến nghìn muôn đời. Việc đặt thú binh, ta đã tính kỹ trước các ngươi, không đợi các ngươi phải thiết tha xin nữa. Duy ta nghĩ : các hạt Bắc Kỳ, năm trước, trộm cướp lan tràn ; sau khi chia tỉnh đặt quan ngày dần yên ổn. Hiện nay, về việc phòng thú các tỉnh lớn, chỉ có 2 vệ Kinh binh là đủ trấn áp ; huống chi các hạt Nam Kỳ, tình hình đã chẳng giống như Bắc Kỳ, mà số quân lại cũng chẳng ít. Nếu chỉ ngờ rằng không đủ trông cậy, thì một hai vệ quân do Kinh phái đến, sao đủ dùng làm nanh vuốt để giúp đỡ được ? Các ngươi đều là người do ta kén chọn cử ra chính mình gánh vác trách nhiệm nặng nề. Các ngươi phải nên chấn chỉnh quân đội, huấn luyện quân sĩ và nghiêm chấp quan võ dưới quyền không được làm một chút gì khó chịu phiền lụy để cho sức quân có thừa, thao diễn thành thục, chuẩn bị để dùng trong lúc có việc. Sau này, nếu cần phái thêm quân đến thì ta sẽ ban chỉ điều khiển ngay, nào có muộn gì !".


    Dùng Viên ngoại lang bộ Binh là Bùi Quốc Trinh làm Lang trung bộ Binh.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : "Kho chứa đũi ta và vải trắng hiện đã đầy phè. Gần đây, ở dân gian giá đũi và vải lại hơi cao. Vậy truyền dụ các hạt : những thuế đũi, vải phải nộp về năm nay và số còn thiếu từ năm trước, đều gia ơn chuẩn cho chiếu theo số đinh đều nộp thay bằng tiền, mỗi người 3 quan ; nếu ai muốn nộp bằng đũi, vải cũng cho".


    Sai thự Thống chế Thần sách Hữu dinh là Tôn Thất Bằng đi Quảng Nam, thự Vệ úy vệ Loan giá là Tôn Thất Tường đi Thanh Hoa. Đến ngày tết Thanh minh, Bằng đến 2 lăng Vĩnh Diễn ((1) Vĩnh Diễn : lăng vợ Nguyễn Phước Tần (Hiếu văn) ở xã Chiêm Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam.1) và Vĩnh Diên ((2) Vĩnh Diên : lăng vợ Nguyễn Phước Chu (Hiếu chiêu), cùng địa điểm trên.2), Tường đến 2 lăng Trường Nguyên và Vĩnh Nguyên, khâm mạng làm lễ. Về sau, cứ theo thế làm lệ.


    Chuẩn định : Từ nay về sau, phàm các địa phương cấp phát biển bài cho các thuyền, tỉnh nào có Tổng đốc, Tuần phủ thì đóng dấu Tổng đốc, Tuần phủ mà cấp phát ; tỉnh nào theo lệ không có hoặc còn khuyết Tổng đốc, hội đồng mà chiếu cấp. Còn thuế lệ vẫn do ty Bố chính chuyên làm. Việc này ghi để làm lệ.


    Vua đi xem xét chỗ thợ làm cửa Ngọ Môn, thấy trên đó có cái xưởng làm tạm, nên bảo Đổng lý Nguyễn Tăng Minh : "Ngày trước, ta theo đức Hoàng khảo đi chơi sơn lăng, trên lăng có cái nhà rạp lợp cỏ thình lình đổ, có người bị đè chết. Đức Hoàng khảo và ta đều ở trong cái rạp ấy, đều không can chi, dường có thần linh giúp đỡ. Hoàng khảo khoan dung nhân từ, những người coi việc đều được bỏ qua không xét hỏi đến. Giá phải ta thì ta quyết không tha thứ. Đó là chỗ ta không bằng Hoàng khảo. Ta lại có lần đi thuyền, thuyền mắc cạn, mui thuyền gẫy sụt xuống, bỗng nghe có tiếng răng rắc, ta đứng lên ngoảnh lại, thì ra cái ván ngồi, đã vỡ. Việc ấy dẫu là ngẫu nhiên, xong cũng là có mệnh trời ; vì thế, người ta không lo xa đã đành là không nên, nhưng không quá lo, cũng lại không được. Chỉ nên vui đạo trời, yên số mệnh, đến lúc làm việc, thì nên giữ gìn như lội trong nước sâu, đi trên ván mỏng mới được".


    Thự Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu nói : "Vụ đông năm ngoái, tỉnh Nam Định nộp tiền và thóc thuế còn thiếu, mà trong hạt, gạo kém dân khó kiếm ăn. Vậy xin triển hạn cho đến vụ chiêm, sẽ thu cả một thể".


    Vua phê bảo rằng : "Thóc ở kho còn phải bỏ ra để phát chẩn và cho dân vay, nữa là ở trong dân gian ? Vậy chuẩn y cho làm theo lời xin".


    Lãnh binh Nghệ An là Nguyễn Văn Cận, trước làm Trấn thủ Sơn Nam, giữ việc đốc thu số thuế còn thiếu, đến nay bản án thanh tra xét ra. Cận phải giáng 3 cấp và dưới tên còn ghi giáng 4 cấp, cộng là 7 cấp. Bộ Binh đem đủ lý do tâu lên. Cận bị cách chức.


    Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu tâu nói : "Thuộc hạt có 3 huyện An Hóa, Phụng Hóa và Lạc Thổ thuộc phủ Thiên Quan, đều là đất rừng núi, thung lũng, tiếp giáp các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa và Thanh Hoa, rất dễ cho bọn phỉ ẩn náu. Thế mà lính tỉnh còn ít, sai phái không đủ. Vậy xin phái thêm biền binh đến đồn thú".


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Số quân tại ngũ của tỉnh Ninh Bình có đến hơn 600 người, lại có 2 đội do Hà Nội phái đến, sao đến không đủ sai phái ? Song những điều xin ấy cũng là có ý dự bị trước khi xảy ra việc. Vậy truyền dụ cho Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng trích thêm lấy 3 đội lính ở cơ Thiện võ đi đến đóng giữ.


    Lại vì lính 2 cơ Hữu và Hậu ở tỉnh Ninh Bình bỏ trốn nhiều, chuẩn cho Hữu cơ cứ số hiện tại 86 người dồn làm hai đội : nhất và nhì, mỗi đội 43 người ; Hậu cơ 106 người, dồn làm hai đội : nhất và nhì, mỗi đội 53 người, đều để làm việc công. Và sẽ mộ thêm cho đủ số ngạch" (cơ có 5 đội, đội có 50 người).


    Bộ Hộ bàn tiếp về lệ chi lương cho các người Tôn thất. Phàm những nhân viên trong Tôn thất từ Chánh lục phẩm trở lên, vẫn chiếu phẩm hàm cấp lương bổng, Tòng lục đến Tòng cửu, ngang với thị vệ, hộ vệ : mỗi người mỗi năm được chi tiền 24 quan, gạo 24 phương ; tiền áo mùa xuân thì chiếu theo phầm cấp mà chi, lĩnh. Đến như những ai sung vào tả hữu Từ tế ty, tuy không có phẩm cấp, nhưng cũng làm việc công, mỗi người mỗi năm cũng chi tiền 21 quan, gạo 21 phương để cho phân biệt với chức nhàn tản. Vua y theo.


    Quan bộ Hộ lại nói : "Chi họ xa, có người tội nhân tên là Hiệp, thuộc dòng dõi phạm nhân tên là Huệ, xin cho ăn nửa lương".


    Vua nói rằng : "Tội nhân tên là Hiệp và phạm nhân tên là Huệ, đều can án phản nghịch hạng nặng, được tội to với tông miếu và xã tắc ! Phái hệ của chúng há nên cho dự vào họ Tôn thất nữa ?". Liền ra lệnh cho Tôn nhân phủ hội đồng với bộ Lễ bàn xét tâu lên. Vua chuẩn cho tước bỏ tên trong sổ họ mãi mãi không được dự vào họ Tôn thất. Trước giờ, những người 2 phái ấy, có kẻ được cấp cả lương có kẻ được nửa lương, thì từ nay về sau, thôi không cho nữa. Rồi sao lục lời chuẩn định này đưa cho các hoàng tử, các tước công và mọi người trong họ Tôn thất đều biết.


    Đắp thành đất tỉnh Quảng Trị (4 mặt thành : mặt trước đắp rộng thêm 33 trượng, mặt tả và mặt hữu đều rộng thêm 16 trượng 5 thước, mặt sau để như cũ).


    Sai thự Tuần phủ Nguyễn Tú thuê dân làm việc. Lại nghĩ : việc đắp thành là công trình to lớn, Tú khó mà kiêm làm cả. Vậy đặc cách sai Trung quân Tống Phước Lương đi trông coi. Cho thự Tả quân Nguyễn Văn Hiếu quyền lĩnh ấn triện Trung quân.


    Vua cho rằng : "Tỉnh An Giang là đất xung yếu, tất phải xây dựng thành trì để cho sự phòng thủ biên cương được hùng tráng. Còn đồn Châu Đốc, thế đất hẻo lánh chật hẹp, chưa được tiện lợi. Sai Giám thành theo Tuần phủ Ngô Bá Nhân cùng đi xem đất chọn lấy chỗ nào cao ráo, chống chế được cả Tiền Giang, Hậu Giang, mà đường cái được trung độ, thì lập làm tỉnh thành. Sau đó, chọn được 2 nơi : một là ở thôn Long Sơn, một là ở thôn Kiến Long và thôn Tú Điền (ba thôn Long Sơn, Kiến Long, Tú Điền đều thuộc huyện Đông Xuyên) vẽ thành bản đồ dâng lên. Vua sai đình thần bàn xét, tâu lên. Họ cho rằng tỉnh An Giang phía tây liền với Chân Lạp, phía nam phải chống đỡ Xiêm La. Sự khống chế biên cương là quan hệ ở việc xây thành này. Theo bản đồ thì thôn Kiến Long và thôn Tú Điền ở vào giữa tỉnh, địa thế hơi thấp. Nhân dân tuy đông đúc, tiện việc đóng góp nhưng Đông - Bắc đi Nam Vang hơn 31.000 trượng, Tây - Nam đi Hà Tiên hơn 28.000 trượng. Khi có việc cần tiếp ứng, chẳng khỏi cách trở xa khơi ! Còn Long Sơn thì là đất thượng du, địa thế cao rộng lại thêm có Tiền Giang, Hậu Giang như vạt áo và đai lưng ôm thắt lấy. Thực là nơi hiểm trở hữu hình. Dẫu người còn ở ít, đường bộ hơi xa nhưng Tây - Nam đi Hà Tiên hơn 19.000 trượng, Đông - Bắc đi Nam Vang hơn 23.000 trượng, phía đông đến Vĩnh Long hơn 25.000 trượng. Dùng đó làm nơi đi lại tiếp ứng thì tình thế rất dễ dàng. Nếu đóng tỉnh thành ở đấy, tưởng cũng là nơi hình thắng để khống chế biên giới".


    Vua y theo lời bàn, sai bộ Công đưa bản đồ, cách thức để làm.


    Bỏ bớt chức Đốc học tỉnh Thái Nguyên, vì số học trò có ít. Sai đặt chức Giáo thụ ở phủ Phú Bình. Những học trò phủ Thông Hóa thuộc tỉnh Thái Nguyên đều theo học tập ở đó. Nguyên thự Đốc học Đặng Văn Đồng điều đi Đốc học Quảng Yên.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển LXXXix



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa xuân, tháng 2, duyệt đinh tuyển lính ở 6 tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây và Hưng Yên thuộc Bắc Kỳ. Vua sai thự Thống chế Thần sách Hậu dinh là Nguyễn Khả Bằng, Bố chính Hải Dương là Nguyễn Hữu Khuê, Lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Văn Tạo, Thị lang bộ Hộ là Hoàng Văn Diễn, Lãnh binh Sơn Tây là Hoàng Văn Lộc, thự Đại lý Tự khanh, kiêm Biện lý bộ Hình là Nguyễn Công Hoán, thự Thống chế Thần sách Trung dinh là Hoàng Đăng Thận, Bố chính Hà Nội là Trần Thiên Tải, thự Vệ úy vệ Hữu nhị thuộc Vũ lâm dinh Hữu dực là Tống Viết Tri, thự Bố chính Nam Định là Trịnh Quang Khanh, Phó lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Văn Phượng, thự Bố chính Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố, chia nhau đi làm việc ấy (huyện Tam Nông ở Hưng Hóa phụ về Trường Sơn Tây, sáu huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Thượng Phước, Phú Xuyên, Sơn Minh, Hoài An thuộc Hà Nội, vì mùa thu năm ngoái, bị lụt, dân cư phần nhiều tản đi nơi khác, nên hoãn đến sang năm sẽ duyệt tuyển). Đến lúc tổng sách dân lên, số đinh trội hơn 10.000 người (năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] nhân số trong sổ đinh có 200.730 người, kỳ duyệt tuyển này trội ra 16.110 người). Vua ra lệnh cho bộ Lại châm chước ghi công, ban thưởng có thứ bậc.


    Cho Tả tham tri bộ Hộ là Trương Đăng Quế và Hữu tham tri bộ Hình là Bùi Phổ, mỗi người một cái nhẫn vàng.


    Cho viên quản thị vệ kiêm lĩnh cả ty Thanh cẩn (trước thuộc Đội trưởng Nội giám là Chu Phước Năng kiêm quản).
  • Chia sẻ trang này