0060.0048

29/12/15
0060.0048
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Lĩnh Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Khoa Minh, tâu xin chọn bổ Vũ khố thư lại.


    Vua nhân đó bảo Khoa Minh rằng : "Từ trước đến nay, những thư lại các nha được bổ vào nha Nội vụ hay nha Vũ khố có nhiều người sợ tội mà trốn. Sao họ chẳng nghĩ : có chức vụ mà không chăm, thì đi đâu mà không phải tội ? Vả lại họ ngày thường chơi bời, rồi do đấy mà đục khoét của công, thì muốn khỏi tội sao được ? Trước kia Hoàng Quýnh thường nói những người ở Nội vụ và Vũ khố đều chẳng khỏi tội. Nhưng thử nghĩ : Hoàng Quýnh phải tội là lúc ở Vũ khố hay ở Nội các ?”.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : "Bạc thổ ngân không thể sánh với bạc ròng. Trước đã cho chiết trừ để nộp thuế. Lại vì bạc khối có khi lẫn lộn cả chì và sắt, cho nên cho dùng phiến mỏng. Nay, số bạc do các địa phương nộp thuế có xen cả bạc thổ ngân, lại bắt đúc thành phiến mỏng, chẳng phải khỏi hao thêm, thế là lại làm khổ dân. Vậy nên truyền dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ : "Từ nay về sau, hễ nộp thuế bằng thổ ngân, nếu có thoi dày thì nên trích lấy một, hai thoi mà chặt ra hoặc đập bẹt, xét nghiệm không thấy pha lẫn chất khác thì đều cho nhập kho, không cần phải đúc lại làm gì".


    Cho : nguyên thự Tuần phủ Quảng Trị là Trần Danh Bưu làm Tả thị lang bộ Lại, thự Hữu thị lang bộ Lại là Đặng Văn Bằng được lấy nguyên hàm, về làm việc ở kho Kinh thành. (Bưu về chịu tang, hết hạn, vào Kinh hậu bổ).


    Thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ tâu nói : "Từ tháng chạp năm ngoái đến nay, dân đói ở các tỉnh Hà Nội, Hưng Yên và Nam Định, đến kiếm ăn ở tỉnh Hải Dương có đến hơn 3.000 người, nên giá gạo ngày càng cao".


    Vua dụ bảo rằng : "Trước đây, các tỉnh luôn bị bão, lụt, lúa má thiệt hại khá nhiều. Ta xuống dụ thăm hỏi, lại đem thóc kho hàng mấy vạn, để phát chẩn, bán rẻ và cho vay, tưởng những dân nghèo túng cũng đã tạm sống yên mà làm ăn rồi. Nay hạt ngươi lại có nhiều người xiêu giạt đến kiếm ăn như thế, há nên yên lặng ngồi nhìn ? Vậy hãy lấy 1.000 quan tiền, 2.000 phương gạo để phân phát cho ngay !".


    Dùng Viên ngoại lang bộ Lễ là Bùi Tuấn Tuyển làm Đốc học Nghệ An. Thăng Giáo thụ Thăng Hoa là Hồ Sĩ Trinh lên thự Đốc học Quảng Trị, Giáo thụ Quảng Ninh là Hoàng Quý Đức lên thự Đốc học Vĩnh Long, Giáo thụ Định Viễn là Hồ Văn Nghĩa lên thự Đốc học Định Tường, Huyện thừa An Định là Nguyễn Công Thuyên lên thự Đốc học Thanh Hoa.


    Ban lương bổng hằng năm cho con trai, con gái Hòa Tĩnh Phước Long công (2 con trai : mỗi người mỗi năm 36 quan tiền, 24 phương gạo ; 9 con gái : mỗi người mỗi năm 24 quan tiền, 24 phương gạo).


    Thự Tổng đốc Hải Dương là Nguyễn Công Trứ tâu nói : "Thuộc hạt có các đồn Ngải Am, Văn úc, Đồ Sơn, Phương Chử và Đồn Sơn, năm trước tạm quyền cho Phó tổng và thổ hào sở tại đóng giữ, đem theo ước 30, 40 thủ hạ không chừng. Hằng năm, làm sổ danh sách, chỉ ghi tên suông thôi. Nay xin xét xem đồn nào xung yếu, thì liệu sai biền binh đóng giữ, mà bỏ hết các tên thủ hạ và chức sắc của họ đi !". Vua chuẩn y.


    Chia đặt huyện Nam Chân, tỉnh Nam Định làm 2 huyện Nam Chân và Chân Ninh. Đặt thêm chức Đồng tri phủ Nghĩa Hưng, chức Huyện thừa ở huyện Giao Thủy. Trước đây, bộ Lại bàn xin cho đặt ở phủ Thiên Trường một Tri phủ kiêm lý huyện Giao Thủy thống hạt huyện Nam Chân ; một Đồng tri phủ, kiêm lý huyện Mỹ Lộc, thống hạt huyện Thượng Nguyên. Những huyệt thống hạt đó mỗi huyện đặt một Tri huyện. ở phủ Nghĩa Hưng, đặt một Tri phủ, kiêm lý huyện Thiên Bản, thống hạt ba huyện Đại An, ý Yên và Phong Doanh, mỗi huyện đặt một Tri huyện. Đến bây giờ thự Tổng đốc là Đặng Văn Thiêm tâu nói : "Phủ Thiên Trường có Nam Chân là huyện thống hạt, địa thế rộng rãi, 14 tổng thuộc huyện đó, số đinh điền gấp đôi huyện khác. Vậy xin chia làm 2 huyện Nam Chân và Chân Ninh mỗi huyện đặt một Tri huyện để cai trị. Vả lại phủ Thiên Trường ấy lại là một chỗ tối yếu khuyết((1) Tức là địa điểm rất quan trọng xung yếu : đất rộng, dân đông, việc nhiều, từ thuế khóa, tuần phòng đến kiện tụng, đều nặng nề phức tạp.1) nay đã kiêm lý 1 huyện lại thống hạt 2 huyện, vậy huyện kiêm lý là huyện Giao Thủy đó, xin đặt thêm viên Huyện thừa để giúp việc. Đồng tri phủ kiêm lý Mỹ Lộc nên đóng ở thành tỉnh. Còn huyện thống hạt là Thượng Nguyên đất giáp các huyện Bình Lục và Nam Xang thuộc Hà Nội, xin đổi làm kiêm lý Thượng Nguyên, thống hạt Mỹ Lộc, Nghĩa Hưng dẫu là phủ trung khuyết ((2) Trung khuyết : địa điểm xung yếu vừa, các công việc hành chính và tuần phòng v.v… đều vừa vừa, không nặng quá.2), mà phủ có 4 huyện, đinh điền có nhiều, lại giáp giới các tỉnh Hà Nội, Ninh Bình thực là đất xung yếu, thế mà chỉ một Tri phủ thì khó trông nom xuể. Vậy xin đặt một Tri phủ kiêm lý Thiên Bản, thống hạt Đại An, đặt thêm một Đồng tri phủ kiêm lý ý Yên, thống hạt Phong Doanh. Những huyện thống hạt đó đều đặt một Tri huyện".



    Vua chuẩn cho làm theo như lời đã xin.


    Đổi tên tấn sở Nha Tù ở tỉnh Khánh Hòa là Nha Phu.


    Bỏ chức Thủ ngự ở Bình Xuyên thủ thuộc tỉnh Hà Tiên ; Bình Xuyên đã lệ thuộc vào huyện Long Xuyên, những việc xét hỏi đã có viên huyện, nên bỏ bớt chức Thủ ngự đi.


    Xây đắp thành tỉnh Nam Định (thành mở 4 cửa Đông nam, Tây nam, Đông bắc, Tây bắc). Lấy biền binh tỉnh ấy và điều biền binh Bắc Ninh, Hải Dương hơn 2.000 người để làm việc. Sai Chưởng cơ Hoàng Văn Trạm đi hội với thự Tổng đốc Đặng Văn Thiêm trông coi mọi việc. Thự Phó vệ úy Thần sách Tiền vệ là Ngô Văn Trạch sung chức Giám tu. Lại vì công trình trọng đại, tiền của tốn nhiều, nên phải thêm thự Ngự sử Nguyễn Du và Nguyễn Trực Phương, họp sức cùng bàn mà làm.


    Đặng Văn Thiêm nhân đó tâu nói : "Trong tỉnh có nhiều dân nghèo đến kiếm ăn, xin bày việc cho làm, trả công để thay phát chẩn : những người hơi khỏe, thì thuê gánh gạch đá, những người gầy yếu thì liệu phát chẩn bằng số thóc còn thừa sau khi đã bán rẻ hoặc cho vay".


    Vua cho lời tâu là phải.


    Đổi lại thể lệ các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát giao và nhận ấn triện quan phòng (tỉnh nào gồm có cả Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát ở cùng tỉnh hành, nếu có khuyết thì ấn quan phòng Tổng đốc giao cho Tuần phủ, ấn quan phòng Tuần phủ giao cho Tổng đốc, ấn triện Bố, án đều giao cho Tổng đốc, nếu Tổng đốc khuyết thì giao cho Tuần phủ. Hạt nào Tổng đốc lĩnh Tuần phủ, Tuần phủ thự lý Tổng đốc, cùng Bố, án ở cùng tỉnh thành, nếu có khuyết, thì ấn triện Bố, án đều giao cho Tổng đốc, Tuần phủ, ấn quan phòng Tổng đốc, Tuần phủ đều giao cho Bố chính, nếu Bố chính cũng khuyết, thì giao cho án sát. Hạt nào Tuần phủ lĩnh Bố chính, hoặc Bố chính thự lý, hộ lý Tuần phủ, cùng án sát ở cùng tỉnh thành và hạt nào chỉ chuyên đặt Bố chính, không có Tuần phủ, nếu có khuyết thì ấn triện quan phòng, đều chuẩn cho đệ giao cho các người quyền giữ công việc, rồi làm sớ tâu lên, đợi quan mới tiếp nhận, hoặc quan trước đi việc công về, sẽ giao trả lại ngay).


    Dùng Phó vệ úy vệ Trung bảo nhất thuộc Trung quân là Nguyễn Văn Lựu làm Vệ úy.


    Thự Tổng đốc tỉnh Long - Tường là Lê Phước Bảo tâu nói : "Tỉnh thành Vĩnh Long, nguyên đặt khoảng giữa 2 huyện Vĩnh An và Vĩnh Bình ; bên Tây thành là địa giới thuộc tổng Bình An và huyện Vĩnh An ; năm trước chia đạt tỉnh hạt, trích ra cho sáp nhập vào An Giang. Vậy xin nên đổi thuộc vào huyện Vĩnh Bình". Vua chuẩn y. Còn trạm Giang Tân (ở thôn Tây Bảo, tổng Bình An) lại lấy tên là Vĩnh Giai, cho phù hợp với tên tỉnh.


    Hộ lý Tuần phủ tỉnh Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu tâu nói : "Dân xiêu các tỉnh Hà Nội, Nam Định dắt díu nhau đi kiếm ăn có đến 500, 600 người đều mình gầy như hạc, sắc xanh như rau".


    Vua động lòng thương, sai lấy ở kho ra 500 quan tiền, 1.000 phương gạo, theo nhật kỳ mà phát chẩn cho.


    Ngày ất mão tế trời đất ở đàn Nam Giao. Trước đó 3 ngày bộ Lễ đem người bằng đồng dâng lên. Vua nhân bảo Thượng thư Phan Huy Thực rằng : "Từ trước đến nay những ngày trai giới, ta thường không uống rượu, không ăn tỏi, cũng không dùng thịt, nhưng nghĩ rượu thì tán khí, ngũ vị vì cay đắng, ăn vào tinh thần dễ sinh lờ mờ, kiêng là phải ; còn thịt thì vị ngon lành, cốt để bổ dưỡng cho người, không giống các thứ kia ; nếu một mực kiêng cữ, chẳng cũng giống như nhà chùa ăn chay sao ? Bộ Lễ ngươi nên kê cứu điển lệ trình bày rõ mọi điều tâu lên, đợi chỉ thi hành". Lại nói : "Theo lệ trước phàm gặp những ngày trai giới thì cấm chợ búa không được sát sinh. Gần đây, nghe nói phủ Thừa Thiên đến những ngày ấy không sức trước cho các hàng mổ thịt sẵn cung cấp cho ngự thiện mua để làm cơm. Ngày trai giới mà cấm mổ thịt, là để tỏ ý nghĩa kiêng sát sinh. Còn ngự thiện nếu có cần dùng làm món ăn, thì cho mổ trước ngày cấm, để đủ dùng cũng không sao. Nếu làm như phủ Thừa Thiên, chẳng hóa ra phá sự kiêng cữ hay sao ?".


    Ngày ấy làm lễ xong vua vời Phan Huy Thực, bảo rằng : "Tế Giao là lễ lớn, há nên để chậm ? Hễ gặp ngày tế, nếu là trước ngày xuân phân thì nhằm khắc thứ 6 canh 5, nếu là sau ngày xuân phân thì nhằm khắc thứ 4 canh 5 tiến tâu. Việc này được đặt làm lệ lâu dài". Lại sai chế biển đồng ghi rõ năm, tháng trồng các cây thông ở đàn Nam Giao và tấc thước cao, lớn của chúng, rồi treo ở trên cành, để tiện xét nghiệm.


    Ngày Đinh tỵ, tiết Thanh minh.


    Vua thân hành rước xe Hoàng thái hậu đến lăng Thiên Thụ ((1) Lăng Gia Long.1) làm lễ bái yết. Vua bèn đi xem các tượng đá làm hình các quan văn võ và voi ngựa đứng thành hàng lối, thấy chất đá rắn đẹp, chạm trổ tỉ mỉ khéo léo, liền thưởng cho thợ đá tiền bạc có thứ bậc khác nhau.


    Vua dụ bộ Lễ rằng : "Từ trước đến nay, ngày tiết Thanh minh, ta kính cẩn đến lăng Thiên Thụ, lại làm lễ ở điện Minh Thành, lễ xong, cho các quan theo hầu ăn yến ở hai bên giải vũ. Đó là một việc noi theo từ trước chưa hợp ý nghĩa của lễ. Vả lại, lăng tẩm là chỗ mà ta gửi lòng tưởng nhớ ơn sâu, chính là tha thiết, thì những người làm tôi con lại ăn uống ở đó mà lấy làm ngon sao ? Từ nay về sau, nên cho ăn ở nơi khác".


    Đổi tên giang trạm Hà Tiên là giang trạm Tiên An. Lại cho rằng giang trạm Kiên Giang là con đường biển, từ khi đào xong sông Vĩnh Tế, thì trạm ấy không phải là đường chạy trạm nữa, nên bỏ đi.


    Viên Tuyên úy Đồng tri phủ Lạc Biên, tỉnh Nghệ An là Chuyên Cương, sai người chuyển đệ 90 lạng bạc ròng đến tỉnh, xin nộp theo lệ thuế phủ Trấn Tĩnh (mỗi người mỗi năm nộp thuế bạc 2 đồng cân). Quan tỉnh đem việc đó tâu lên.


    Vua nói : "Phủ Lạc Biên ở nơi xa cách hoang vu, nguyên thuộc vào bản đồ nước ta. Trước vì người Xiêm bức bách, ép buộc, dân phủ đó phải bỏ đi, đến ngụ ở địa phận phủ Trấn Tĩnh. Ta đã từng hoãn cho số thuế bạc một lần, cho họ theo lệ tiến cống như cũ, khiến được yên nghiệp làm ăn. Gần đây dân xiêu được chiêu tập trở về, mới được 450 người (nguyên số có hơn 2.000 người), cũng không được mấy. Huống sau khi dời đổi, còn chưa về được đất cũ hết cả, nếu vội theo lệ thu thuế, lòng ta thực có chỗ không nỡ. Vậy, lại cho miễn thuế một năm nữa, để cho dân ấy đều biết ân đức của ta, mà trở về như cũ".


    Vua đến xem chỗ thợ làm điện Thái Hòa, thấy mái hiên thấp, bảo Đổng lý Đoàn Văn Phú rằng : "Đây là nơi để triều cận phải nên cao lớn rộng rãi để cho đẹp mắt ; nay làm mái hiên ấy, bảo là để che mưa gió, thì việc che mưa gió chỉ là việc nhỏ, mà để đẹp đẽ nơi triều cận thì là việc to, làm như thế khác gì tiếc con dê, mà không trọng lễ ?". Liền sai phá đi.


    Vua lại bảo Lê Văn Đức : "Chân tường cửa Ngọ Môn nên dùng gạch vỡ, còn gạch lành thì nên lưu lại để xây bó. Đó cũng là một việc tiết kiệm. Vả lại, ngày nay dẫu xây dựng một cách đại đoạn, nhưng chỉ thêm có một cái Đại Cung môn làm chỗ ra vào triều yết thôi, còn thì đều là nhân cũ sửa chữa lại nào có phải bày việc thổ mộc để tốn phí tiền của đâu ?". Rồi sai thưởng thêm cho các thợ làm việc một nửa tháng lương.


    Có người dân hạt Vĩnh Tường bắt ép người trong làng phải khấu đầu lạy và tung hô, nói càn rỡ, không kiêng sợ gì. Quan tỉnh làm án tâu lên.


    Vua sai giết đi, nhân thế bảo bộ Hình rằng : "Người Gia Định vốn có tiếng là hiếu nghĩa và giữ lòng tôn thân, thế mà năm trước, dân hạt ấy xảy ra cái án nói càn, đã từng khép vào tội lưu và bắt đi sung quân. Nay lại có đứa ngông cuồng càn rỡ như thế, thì cái thói vô lễ, muốn phạm người trên, đã dần dần thành quen rồi. Đó đều bởi quan trên ở địa phương, như Lê Văn Duyệt chẳng biết lấy lễ giáo hóa dân, để đến nỗi kẻ tiểu dân quen thói ngu ngoan dễ sa lưới tội. Thế chẳng phải là trách nhiệm của người chăn nuôi dân còn đổ cho ai nữa ? Vậy, nên thông sức cho các Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Long, Vĩnh Tường, An Giang, Hà Tiên nên hết lòng khai hóa, dẫn đạo như thế nào, cốt khiến cho dân bỏ được tục xấu, trở lại thuần phong mỹ tục chẳng phạm vào phép của ta, mới xứng đáng với ý ta ủy nhiệm, trách thành".


    Vua ngự ở điện Cần Chính, chỉ 2 cái vạc ở trước sân, bảo các quan ở bên rằng : "Đó là cái vạc chứ không phải cái đỉnh. Đỉnh có ba chân. Ngày xưa, có nấu quan đại phu ở đất A ((1) Vua Hy Vương nước Tề, nấu đại phu đất A trong cái đỉnh, vị đại phu ấy làm quan để ruộng đất bỏ hoang, số dân giảm sút.1) trong cái đỉnh, đủ biết người xưa đúc đỉnh là khiến cho người ta sợ pháp mà không dám phạm, ấy cũng là cách hình phạt để mong không phải hình phạt, ngụ ý rất nhân, chứ không phải để bày chơi".


    Ra lệnh cho Nội các : Từ nay về sau, hằng ngày, buổi chiều, cứ giọt lậu xuống đến 6 khắc, thì thu lại "lục đầu bài". Việc này ghi để làm lệ.


    Lê Duy Dưỡng, người Vĩnh Lộc, Thanh Hoa, tự xưng là Đại tướng quân, tụ họp đồ đảng ở địa phận huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, ngầm mưu nổi loạn. Hộ lý Tuần phủ Nguyễn Văn Mưu sai thự Quản cơ ở Hữu cơ Ninh Bình là Nguyễn Văn Tượng và Phó quản cơ ở Tiền cơ là Bùi Văn Trường, đem quân đi truy nã, bắt được lũ phỉ hơn 20 tên và thuyền bè, khí giới.


    Lại có bọn phỉ lén lút ló lên ở Gia Viễn. Tỉnh sai biền binh đi lùng bắt. Chúng chạy trốn vào rừng. Quan tỉnh đem việc tâu lên.


    Vua sai truyền dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ ở các tỉnh lân cận Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên và Thanh Hoa phải hết lòng dò la tầm nã, chớ để cho chúng lọt lưới. Lại sai Thanh Hoa điều 300 biền binh đi theo Nguyễn Văn Mưu điều khiển.


    Chuyển vận gạo kho ở Kinh ra các tỉnh Thanh Hoa, Ninh Bình, Hưng Yên, Hà Nội để phát chẩn cho dân đói.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : "Các hạt Bắc Kỳ, gạo kém, dân đói, ta đã nhiều lần ban ơn phát chẩn, phí tổn bao nhiêu cũng không tiếc ! Các kho sở tại chỉ có phát ra không có thu vào, mà kho ở Kinh thì chứa đầy. Lấy chỗ thừa bù cho chỗ thiếu đó cũng là việc nên làm trước của chính sách vương đạo. Vậy ra lệnh cho thương trường phát ngay 20.000 hộc thóc xay thành 20.000 phương gạo, giao cho các thuyền Thanh Hoa, Nam Định chở đá vào Kinh, khi về lĩnh gạo chở cho Thanh Hoa 4.000 phương, Ninh Bình 3.000 phương, Hưng Yên 6.000 phương, Hà Nội 7.000 phương, do Tổng đốc và Tuần phủ bán hạ giá cho dân. Còn trong đám dân đói xiêu giạt, những người già, yếu, mồ côi, thơ ấu, tàn tật, không biết kêu vào đâu được, thì lấy ngay gạo ấy phát chẩn cho. Lại nghĩ : việc cứu tế không nên chậm trễ, vậy sai xay thóc đến đâu, chở đi đến đấy, chớ đợi đủ cả đoàn thuyền mới đi.


    Chuẩn y lời bàn định của bộ Lễ về nghi tiết : đem bản tấu theo ngự giá, bày đặt xe kiệu và mở đóng cửa cung. (Phàm khi vua đi chơi, nếu theo lệ, phải đem theo ấn "Hoàng đế chi bảo" và mọi hòm ấn khác thì Nội các, trước đó một, hai ngày dự bị làm sớ tâu xin. Chiều hôm trước, ty Loan nghi bày sẵn một cái án vàng ở trên thềm, gian giữa điện Cần Chính và một cái long đình ở lối đi giữa sân dưới thềm. Đến ngày, viên Nội giám mũ áo chỉnh tề, bưng hòm ấn đặt trên án vàng. Một viên "thỉnh bảo"((1) Thỉnh bảo : xưa vua cho đem ấn đi theo.1) ở Nội các, mặc áo đội mũ ra sân lạy 5 lạy, 2 thuộc viên đi theo ấn, cũng mũ áo chỉnh tề bưng hòm ấn đặt lên long đình. Viên giữ cửa cung liền mở cửa giữa. Long đình từ cửa giữa ra ngự đạo, đợi xa giá ; ty Loan nghi đem xe vua đặt ở dưới thềm gian giữa. Cửa giữa tạm đóng lại. Rước vua ra ngự ở điện. Các cửa được canh phòng. Vua lên ngự tọa. Cửa giữa lại mở. Một viên trong vệ Loan giá, đội mũ áo đầu hổ, cầm thanh kim đao, do cửa hữu cung môn đi ra, đứng ở trên thềm một gian bên hữu, hướng về đằng trước, truyền lệnh dàn bày xe loan. Ty Loan nghi đem xe vua từ thềm giữa lên đặt ở gian giữa trong điện phía trước. Viên quan truyền lệnh bày xa giá, đi vào quỳ tâu, xin vua lên xe. Khi ra đi những viên thỉnh bảo, tùy bảo((2) Tùy bảo : đi theo ấn.2) ở Nội các cũng mũ áo theo hầu.


    Nếu đi chơi gần theo lệ, chỉ xin đem theo hòm ấn "Ngự tiền chi bảo" và hòm ấn "Văn lý mật sát" thì cứ theo thường, do quan Nội giám tâu xin đem đi.


    Lại, những khi gặp có lễ lớn, và những ngày khánh hạ thiết triều, đến giờ đã định, quan giữ việc tâu lên, trong nghiêm túc, ngoài sửa soạn. Ty Loan nghi liền do nhà giải vũ bên hữu, đem xe vua theo lệ, dàn bày, rước vua lên điện, ngự trên ngai, cửa giữa liền mở. Rồi cứ theo lệ, truyền bày xa giá, rước vua lên xe, đúng như lễ nghi).


    Bắt đầu chế các cây kích bày ở trước cửa.


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Xưa kia, ở các cửa điện đều có bày bộ đồ kích gọi là môn kích. Bộ Binh ngươi nên châm chước bàn định cách thức tâu lên". Quan bộ Binh liền kê cứu quy chế của các triều Tống, Minh, Thanh, nghĩ định tâu xin : ở ngoài cửa Thái miếu, cửa Thế miếu, cửa Đại Cung, cửa Ngọ Môn, đều bày 12 cái kích : đông tây mỗi bên 6 cái, kích làm mũi sắt nhọn, cán gỗ (dài 7 thước 5 tấc) sơn son, cắm vào giá gỗ, do bộ Công bảo thợ làm, rồi giao biền binh thủ hộ ngày đêm dàn bày [ở các cửa nói trên] để trông cho nghiêm túc".


    Vua y theo.


    Trong Kinh kỳ mưa. Bấy giờ có viên thị vệ vừa đi công cán ở Thanh Hoa về, vua hỏi đến việc mưa nắng, thị vệ ấy tâu rằng mưa luôn mấy ngày.


    Vua bảo thị thần rằng : "Mưa xuân, ta mong hằng ngày thế mà quan địa phương không tâu ngày lên, thật không hợp với cái ý chăm lo việc dân của ta. Vậy ra lệnh cho bộ Lễ tư hỏi : từ Quảng Trị ra Bắc, mưa ra sao ? Và truyền dụ : từ nay về sau, phàm gặp mùa xuân, mùa thu cày cấy hễ được mưa thì tâu lên ngay".


    Lãnh binh tỉnh Vĩnh Long là Nguyễn Văn Hợp vì lính ở cơ Vĩnh uy trung là thuộc hạ phần nhiều bỏ trốn, đến kỳ điểm binh, không một người nào đến hàng ngũ. Bị Tổng đốc Lê Phước Bảo tâu hặc. Hợp phải giáng làm Chánh đội trưởng hàm Chánh lục phẩm, bắt phải về hưu. Dùng thự Vệ úy vệ Trung nhị, dinh Vũ lâm Hữu dực là Nguyễn Văn Khoa làm Vệ úy, trật Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh tỉnh Vĩnh Long.


    Thăng Tư vụ bộ Hộ là Phạm Vũ Phác lên thự Đốc học Nam Định.


    Chuẩn định : Từ nay về sau, các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các tỉnh dâng lập tấu vấn an, nếu có việc quan trọng đáng thuộc về bộ nào tư làm, thì vẫn cứ theo lệ như trước. Còn những việc có chữ châu phê bình yên và lời huấn thị tầm thường thì đều do quan túc trực kính duyệt, sao lục đưa đi, kèm theo cả cái ống sớ nữa. Việc này được ghi làm thành lệ (trước do bộ Lễ kính cẩn sao lục tư đi).


    Lại sai bộ Lễ làm tờ tư cho các tỉnh : Phàm trong tập tấu vấn an, hễ có chữ châu phê là "mật tập" đưa ra, thì tuân lệnh làm xong, cũng do nơi thị vệ nộp lại. Còn bản sớ tấu thì nói rõ ngày tháng tiếp được và duyên do làm xong, nộp lại, duy trong sớ không nên nói rõ châu phê việc gì. Nếu gặp có mật tập phát đệ, thì nên kèm theo ở cuối tập nêu rõ đại ý như trước, không cần làm sớ khác.


    Vua cho rằng các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các tỉnh nhiều lần dâng sớ vấn an, không trình bày tới tình hình dân chúng và công việc quan lại, nên thường thường vẫn phải phê vào tờ sớ mà quở trách nghiêm ngặt !


    Nhân đó, vua bảo Thượng thư bộ Lễ là Phan Huy Thực : "Gần đây các tỉnh dâng tập sớ vấn an, như : bọn Tô Trân thự Tuần phủ Định Tường, Nguyễn Công Liêu thự Tuần phủ Phú An, không những không nói gì đến tình hình dân và công việc quan, mà ba hoa đầy rẫy toàn lời hão huyền, chữ nghĩa lại kém trang nhã. Ôi ! bề tôi thờ vua cũng như con thờ cha, thế mà không có lấy một lời ra tự đáy lòng, lại chỉ nói những lời văn sức chiếu lệ ! Văn thần còn thế, huống hồ võ thần ? Thảo nào Tổng đốc An - Tĩnh là Tạ Quang Cự, Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ, lời văn thô bỉ, cũng không lấy làm lạ !".


    Định lệ giám sát việc hành hình các tù phạm.


    Vua bảo Nội các rằng : "Mạng người rất trọng, cần phải xem đi xét lại, cẩn thận rõ ràng. Từ nay viện Đô sát, theo lệ, tâu trình về việc giải các phạm nhân ra khỏi nhà giam, đem chém, ngày hành hình, nếu phạm nhân là quan chức, thì sai đường quan bộ Hình ; phạm nhân là dân, thì sai viên thuộc bộ Hình, hoặc Kinh doãn, hay quản vệ Thân binh, Cấm binh, hội đồng coi xét, đem theo biền binh, giải phạm nhân ra pháp trường ; chém xong, làm tờ phiến tâu lên vua biết. Vả lại, nhà Thanh, trước khi hành hình người nào, đánh dấu vào mặt tên tử tù ấy ; chém rồi viên giám sát lại điểm thêm một chấm đỏ ở mặt người tù để sau không có sự ngờ vực thay đổi buông tha nữa. Đó cũng là cái ý thận trọng".


    Lại sắc truyền : Từ nay về sau, tất cả các văn án : phiến của Bộ thì Viện Phước lại ; lời bàn của Bộ và phiến của Nội các thì Viện cũng Phước lại. Việc này được đặt làm lệ lâu dài.


    Chuẩn định về thể lệ biền binh canh cửa điện và giữ then khóa (về cửa Đại Cung, phía trong cửa thì 2 Cai đội, 2 Hiệu úy thuộc vệ Cẩm y, 4 thị vệ, 6 hộ vệ, 4 Đội trưởng thuộc vệ Cẩm y, 10 lính coi giữ và đóng cửa, mở cửa ngày đêm ; phía ngoài cửa Đại Môn đến hai cửa Nhật Tinh, Nguyệt Hoa ở hai bên tả hữu dưới thềm sau điện Thái Hòa thì 1 Suất đội trấn thủ, 2 Đội trưởng và 20 lính coi giữ. Điện Thái Hòa thì 2 ty Hộ vệ và Cảnh tất coi giữ như trước. ở bệ đỏ sân rồng cầu trung đạo, hồ Thái Dịch thì 4 dinh Thần cơ, Tiền phong, Long võ và Hổ oai phân phái coi giữ. Tầng trên Ngọ Môn thì 1 Đội trưởng ty Hộ vệ và 10 lính Hộ vệ coi giữ bảo tọa trên lầu và coi giữ súng ống khí giới. Lại riêng sai 1 Suất đội dinh Vũ lâm và 40 biền binh theo lệ trước, đầy đủ khí giới, thay ban coi giữ. Năm cửa tầng dưới Ngọ Môn thì 2 Suất đội dinh Vũ lâm, 30 biền binh coi giữ, ngày đêm mở cửa đóng cửa, mỗi ngày đổi phiên một lần. Lại phái thêm 1 Quản vệ dinh Vũ lâm coi quản cả tầng trên và tầng dưới cửa Ngọ Môn. Chìa khóa cửa Đại Cung giao cho quan văn võ đại thần nhằm phiên túc trực cầm giữ. Chìa khóa cửa Ngọ Môn giao cho viên thủ hộ quản vệ coi giữ. Tối đến, ra vào phải có bài hồng hiệu cửa để nghiệm thực mới cho đi, sáng sớm làm tờ phiến trình vua. Còn tờ phiến có niêm phong tâu trình về cửa Đại Cung thì do các viên đương phiên túc trực và canh giữ cùng ký tên. Tờ phiến về cửa Ngọ Môn thì do viên quản vệ và bọn suất đội cùng ký tên ; rồi đều đóng dấu kiềm thủ hộ. Những khi ngự giá đi chơi thì chìa khóa cửa Đại Cung, cửa Ngọ Môn và các cửa Hoàng thành đều giao viên quan to lưu thủ Kinh thành nhận giữ. Phàm các việc xét nghiệm ra vào và làm tờ phiến tâu trình đều theo như lệ trước).


    Giá gạo tỉnh Bắc Ninh đắt vọt lên, thự Ngự sử là Lê Hữu Đức và Lê Đức Tiêm tâu xin phái người dò hỏi tình hình dân gian để liệu phương cứu chữa.


    Vua bèn cho đi và dụ rằng : "Bắc Kỳ bỗng gặp tai biến, ta nghĩ đến dân, lòng những đau đớn ! Đối với các tỉnh như Nam Định, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, nhiều lần đã phát chẩn và cho vay nhiều đến hàng mươi vạn không tiếc chút nào. Duy có một hạt Bắc Ninh, chưa thấy tâu báo, tình hình khó kiếm ăn của dân còn đương làm ta phấp phỏng lo nghĩ. Lũ ngươi đi chuyến này, nên dò xét dân gian, nếu quả đói kém, thì chuẩn cho hội đồng với quan tỉnh, lấy ra 30.000 hộc thóc kho, tùy tiện bán rẻ hoặc cho vay. Nếu thấy dân còn có thóc gạo đủ dùng, không đến khó kiếm ăn, thì cũng phải cứ thực tâu ngay rồi về Kinh phục mệnh chứ đừng cho rằng đã từng tấu trình rồi, bèn rông rỡ làm càn thì có tội chẳng nhỏ !".


    Lũ Đức sau khi đã đi đến nơi tâu về rằng : "Dân gian dẫu chưa đến đói kém, nhưng gặp lúc giáp hạt này những người túng thiếu cũng có vẻ khó khăn về lương thực. Lại nữa những dân đói ở tỉnh bên phải xiêu giạt đi kiếm ăn cũng nhiều".


    Vua xuống dụ cho lấy ra 20.000 hộc thóc kho bán hạ giá cho dân. Ai muốn vay cũng được. Lại cho lấy ra 1.000 quan tiền và 1.000 phương gạo để phát chẩn cho những dân xiêu đến ăn xin.


    Cho Phó vệ úy Tiền vệ dinh Tiền phong là Lê Văn Phú, Nhị đẳng Thị vệ Phạm Phú Quảng sung hiệp lĩnh Thị vệ cùng với Lê Thuận Tĩnh và Vũ Văn Giải thay phiên túc trực.


    Cho Lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Văn Tạo làm Lãnh binh Nghệ An ; Phó lãnh binh Hà Nội là Nguyễn Văn Phượng làm Lãnh binh Hải Dương ; thự Vệ úy vệ Tráng võ dinh Thần sách là Trần Đức Vịnh thực thụ Vệ úy, trật Chánh tam phẩm, sung chức Phó lãnh binh Hà Nội.


    Sai quan làm Ngọc phả. Cho Thượng thư bộ Lễ là Phan Huy Thực sung làm Tổng tài ; thự Thống chế Thần sách Hữu dinh tạm quyền làm việc Tôn nhân phủ là Tôn Thất Bằng làm Phó tổng tài, lại sửa Tôn phả cho Viên ngoại lang bộ Hình là Vũ Đức Mẫn làm Tổng toản tu ; thự Cấp sự trung bộ Công là Vương Hữu Quang sung chức Toản tu.


    Thự Vệ úy vệ Loan giá là Tôn Thất Tường từ Thanh Hoa về Kinh.


    Vua vời vào để hỏi tình trạng dân đói. Tôn Thất Tường tâu rằng : "Dân đói đến kiếm ăn rất nhiều, mà tiền và gạo để phát chẩn và cho vay sắp hết !".


    Vua liền dụ Hộ lý Tuần phủ Nguyễn Đăng Giai hội đồng với án sát Vũ Tuấn, lấy ở kho ra 1.000 quan tiền, 2.000 phương gạo để tiếp tục phát chẩn cho dân. Vừa lúc ấy, có sớ của Nguyễn Đăng Giai tâu nói : "Công việc đào sông ngòi còn nặng nề, mà số dân xiêu có gần 10.000 người ; chọn lấy hạng có thể làm việc chỉ được trên dưới 4.000 người nay đương lúc giáp hạt những dân nghèo túng trong tỉnh có ai đến xin làm mướn thì cứ theo lệ phát cho tiền và gạo (mỗi người mỗi ngày tiền 30 đồng, gạo 1 uyển).


    Vua xuống dụ rằng : "Lũ dân kia ai chẳng là con đỏ của triều đình, nếu cho đi làm việc công, để nhờ thóc kho mà ăn thì không những công việc nhà nước chóng xong, mà thóc gạo lưu thông, nhân dân cũng dễ dàng để sống. Đó thực là lợi ích lớn cho việc quốc kế dân sinh, cốt ở lũ ngươi làm như thế nào đó ! Vả lại Nguyễn Đăng Giai và Vũ Tuấn, lũ người đã thể theo ý ta, chẩn cấp dân đói, nuôi sống hàng vạn người. Nhiều lần xếp đặt, đều biết đồng lòng hiệp sức cùng làm việc nên việc cứu chữa có phương pháp, có thể gọi là hết lòng vì nước. Vậy truyền chỉ khen ngợi".
  • Chia sẻ trang này