0060.0050

29/12/15
0060.0050
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    thóc tô phải nộp thì lại phải bán cho tỉnh với giá thỏa thuận là 2 hộc nữa. Còn gạo lương của quan lại và biền binh thuộc tỉnh đều chiết cấp bằng tiền ; đợi khi thóc kho đầy đủ, sẽ lại phát bằng thóc gạo như trước".


    Vua chuẩn y lời xin.


    Bắt đầu đặt đồn Phú Quốc thuộc Hà Tiên.


    Trước đây vua cho rằng thủ sở Phú Quốc, dân ở đông đúc mà giặc biển thường hay ẩn hiện, bèn dụ sai quan tỉnh chọn chỗ đặt pháo đài ở đó để phòng thủ cho nghiêm cẩn. Đến bây giờ thự Tuần phủ là Phạm Xuân Bích chọn được vụng Đội ở phía nam thủ sở Phú Quốc ; suốt bốn mùa, tám hướng gió, thuyền bè đều có thể đậu được, trong ấy có bãi cát phẳng rộng 50, 60 trượng, đằng trước trông ra biển, đằng sau liền với rừng rậm, hai bên tả hữu đứng đối nhau có núi Đội Sơn và núi Hạnh Sơn. Vậy xin đặt đồn ở chỗ ấy để đóng quân, lấy hai trái núi ấy làm chỗ rình và trông ngó.


    Vua xuống dụ cho khởi công xây đắp, cho đặt tên là đồn Phú Quốc (chung quanh xây bằng đá núi, trên dựng một căn phòng cho lính đương ban đóng) trên đồn đặt 4 khẩu Hồng y cương pháo, 8 khẩu quá sơn đồng pháo, phái 50 lính tỉnh đến đóng giữ. Lại lấy thêm dân sở tại phụ vào việc canh giữ, cấp cho khí giới và thuyền bè đủ dùng. Dùng viên thủ ngự đồn Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương làm Phòng thủ úy đứng cai quản, cho mộ thêm lính đặt làm đội phòng thủ.


    Xuân Bích lại tâu nói : "Tỉnh lỵ : đằng trước hướng đông, đằng sau hướng tây, hữu là nam, tả là bắc. Sông Vĩnh Tế từ đông sang tây, chảy vào sông Giang Thành, ngang qua phía nam đến đảo Kim Dữ, đổ vào biển. Nay nếu xoay làm hướng nam, thì sông Vĩnh Tế ở về phương bắc, mà một dải sông Giang Thành vòng quanh ở bên hữu, rồi chầu về đằng trước. Thực là một nơi hình thế danh thắng. Vậy, xin ra lệnh cho viên giám thành coi lại, vẽ bản đồ tiến trình, đợi chỉ tuân làm". Vua chuẩn y lời tâu.


    Vua cho vời án sát Bình Thuận là Tôn Thất Gia về Kinh đợi chỉ. Đổi bổ Lang trung bộ Lại là Phan Phu làm án sát Bình Thuận.


    Mới đặt tên cung Càn Thành và Khôn Thái.


    Vua dụ rằng : "Năm đầu niên hiệu Gia Long [1802-1819], xây dựng Đại nội ; đến khoảng năm Minh Mệnh [1802-1840] cũng có làm thêm : phàm các điện, đường, lầu, các, đều đặt tên đẹp, nhưng chưa đặt tên cung. Năm nay, quy mô xây dựng to tát đầy đủ, nên có tên gọi cho các cung để chỗ vua ở được tôn trọng. Vậy, từ điện Trung Hòa trở ra đằng trước là cung Càn Thành, đằng sau là cung Khôn Thái. Từ điện Trung Hòa và điện Cần Chính cùng với phối điện hai bên tả hữu đến hành lang giải vũ, đường, các, chung quanh đều thuộc về cung Càn Thành. Các điện, đường, viện, vũ ở đằng sau điện Trung Hòa đều thuộc cung Khôn Thái. Như vậy là để cùng trời đất lâu dài vô cùng".


    Trước đây, vua bảo Nội các là Hà [Tông] Quyền rằng : "Tên cung và niên hiệu, người trước phần nhiều không chịu khảo cứu, có khi đặt trùng với ngụy hiệu, thực là đáng cười ! Ngươi nên tra rõ tên hiệu cung điện suốt từ xưa để tâu ta nghe". Quyền tâu rằng : "Kê cứu trong điển lễ xưa, có những cung như Trường Bạc và Vị Ương, người đời gần đây đều hay theo dùng. Đến đời nhà Thanh mới có những tên khác như Trung Hòa, Bảo Hòa và Cần Chính". Vua nói : "Chữ "cung" đặt được rất nhiều tên hay còn thì đã có tên gọi khác rồi. Điện Cần Chính và điện Trung Hòa bây giờ vẫn cứ gọi tên như trước cũng được. Điện tên gọi Cần Chính, là để tỏ ý nhà vua chăm lo chính sự. Trung Hòa cũng do Hoàng khảo ((1) Chỉ Gia Long, sinh ra Minh Mệnh.1) ta đặt tên há nên thay đổi một cách khinh suất ?". Đến bây giờ mới đặt tên hai cung. Nhân đó, vua bảo thị thần rằng : "Tên cung mà đặt là Càn Thành lấy nghĩa chữ "thành" bao quát rất rộng, như thành nhân, thành vật, thành việc thiên hạ… hai chữ "Khôn Thái" cũng hay. Chia ra mà nói thì gọi là Càn Thành, Khôn Thái, hợp lại mà nói thì là Càn Khôn thành thái. Chữ tên ấy không còn gì đẹp hơn nữa".


    Phong tước, ấp cho các công thần. Vua bảo Nội các rằng : "Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, trời cho hùng tài, trí khôn tột bậc, trả thù, rửa hận đã thu cả được miền Nam lại lấy cả miền Bắc : thực là trung hưng mà kiêm sáng nghiệp. Đương lúc đánh giặc, chính ngài ngang dọc chiến trường, xông pha tên đạn có khi sai tướng đem quân, đánh dẹp những kẻ không thần phục ở bốn phương mà vẫn do mưu lược của ngài điều khiển. Hơn 20 năm dựng lên đế nghiệp. Bốn biển trăm họ, nhờ được an ninh, sánh với Thiếu Khang và Quang Vũ ngài thực trội hơn. Bầy tôi của ngài hết lòng giúp rập ; hoặc đánh kẻ chống cự hoặc trị kẻ khinh nhờn, hoặc chém tướng giặc hoặc bắt trùm phỉ. Có người mở mang đất đai, bờ cõi, ra sức quên nhọc ; có người tử tiết ở chốn chiến trường, quên mình ở nơi trận địa ; có người nếm trải đủ mùi nguy hiểm gian nan, sống chết chẳng thay lòng đổi dạ. Đến khi nước nhà yên hẳn, công lao của họ cũng được sáng ngời. Khoảng năm Gia Long, vì triều đình ta noi theo tục cũ nhà Đinh, nhà Lê trước, có nhiều quan viên được lạm phong tước hầu, tước bá, nhưng không có đất ăn lộc, chỉ có cái tên gọi đẹp mà thôi, cho nên đức Hoàng khảo ta cho đổi làm quan chức thế tập, phong cả một loạt công thần để nêu rõ sự khen thưởng. Lại muốn bắt chước Tam đại ((2) Ba triều đại : Hạ, Thương, Chu.2) xưa, vinh phong cho năm tước((3) Công, hầu, bá, tử, nam.3), nhưng tiếc rằng chưa kịp làm ! Ta nối Phước xưa, kính theo chí trước, chấn hưng lễ, nhạc, sửa sang việc binh, việc hình, chia đặt quan chức trong ngoài yên lặng, xây đắp thành lũy, củng cố thành trì, trăm việc cử hành, đều mong đi đến chỗ thiện mỹ. Nay được lúc nước nhà hơi rỗi, chính là lúc nên thưởng tước, đền công, để đáp lại công lao đặc biệt của các công thần. Năm trước đã liệt những công thần quá cố vào hàng phối hưởng ở miếu đình, ban cho tước vương, tước công, tước hầu, và đất ăn lộc tưởng đã đủ yên ủi được vong hồn họ rồi. Nay những công thần còn ở triều đình như Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Trần Văn Năng, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự là Tống Phước Lương, thự Hậu quân Đô thông phủ Chưởng phủ sự là Phan Văn Thúy, đều là những người lập được nhiều công trạng vẻ vang ở đầu đời trung hưng. Vậy phong cho Trần Văn Năng làm Lương Tài hầu, Tống Phước Lương làm Vĩnh Thuận hầu, Phan Văn Thúy làm Chương Nghĩa hầu.


    Thự Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Nguyễn Văn Hiếu, Tổng đốc An - Biên Nguyễn Văn Quế, Thần sách quân Tiền dinh Thống chế Phạm Văn Lý đều đã bày tỏ công to, rõ ràng khó nhọc. Vậy phong Nguyễn Văn Hiếu làm Lương Năng bá, Nguyễn Văn Quế làm An Lương bá, Phạm Văn Lý làm Quảng Công bá.


    Vũ lâm dinh Tả dực Thống chế Nguyễn Văn Trọng, Tổng đốc Bình - Phú Đoàn Văn Trường, thự Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Nguyễn Văn Khánh đều đã cầm quân lâu năm, rõ rệt có tài năng và công lao. Vậy phong Nguyễn Văn Trọng làm Hoàng Trung tử, Đoàn Văn Trường làm Diên Hựu tử, Nguyễn Văn Xuân làm Hiệu Thuận tử.


    Vũ lâm dinh Hữu dực Thống chế là Nguyễn Tăng Minh, theo đòi lâu ngày, có chút công lao. Vậy phong làm Vận Hội nam.


    Còn đối với người có công đầu là Võ Tánh đã quá cố, năm trước đã truy phong làm Hoài Quốc công, tưởng đã là vinh quang ở nơi chín suối. Song công nhiều thì thưởng nhiều, đáng nên đời đời hưởng tước lộc. Tên Khánh là con dẫu hư hỏng nhưng đã ốm chết rồi, cũng truy tặng quan chức rồi. Nay còn người cháu của Võ Tánh là Kiêu kỵ đô úy Võ Mỹ chắc có thể giữ được nghiệp nhà, nối chức thế tập. Vậy đổi phong làm Hoài bá, để nối hưởng đất ăn lộc của ông.


    Phàm mọi công việc ban cấp sắc ấn đều do bộ Lễ bàn, tâu, đợi chỉ thi hành. Còn công thần khác đã chết cũng nhiều, sau sẽ truy phong, để đời đời được vinh sủng đến khi sông cạn núi mòn".


    Sau đó bộ Lễ châm chước bàn định các sự nghi về việc mới phong cho các quan, trình bày từng điều lên. Vua cho theo lời bàn mà thi hành.


    (1. Cáo trục : tước hầu, tước bá : dùng lụa Tàu vàng 8 sợi ; tước tử, tước nam : dùng lụa ta vàng 8 sợi, chung quanh đều thêu ; ấn bằng đồng, núm thẳng, dấu kiềm bằng ngà. ấn của tước hầu : vuông 1 tấc 6 phân, 2 ly, dày 2 phân 7 ly ; dấu kiềm bằng ngà vuông 5 phân 4 ly. ấn của tước bá : vuông 1 tấc 5 phân 3 ly, dày 2 phân 3 ly ; dấu kiềm bằng ngà vuông 5 phân. ấn của tước tử : vuông 1 tấc 4 ly, dày 2 phân 2 ly ; dấu kiềm bằng ngà vuông 4 phân 5 ly. ấn của tước nam : vuông 1 tấc 3 phân 5 ly, dày 2 phân 1 ly ; dấu kiềm bằng ngà vuông 4 phân 1 ly. Mặt ấn khắc chữ triện đều dùng tên đất được phong và tước phong. Thí dụ như ấn khắc năm chữ "Lương Tài hầu chi ấn" ; kiềm ngà khắc 2 chữ "Lương Tài" các tước khác cũng theo đó mà suy ra. Duy ấn Hoài bá thì khắc bốn chữ : "Hoài bá chi ấn", kiềm ngà khắc hai chữ "Hoài bá".


    2. Lễ tích phong : Trước kỳ đã định do bộ Lại tự chọn ngày lành tâu xin sai quan bưng sắc ấn, để làm lễ tuyên phong. Làm lễ xong, đều làm từ biểu tạ ơn.


    3. Những viên mới được phong tước : Từ ngôi thứ đến bổng lộc đều vẫn theo phẩm trật, chứ không kể tước phong cấp bậc cao thấp. Còn những chương sớ, công văn thì trong văn bản trước hết đề quan chức hiện làm, sau mới đề tước phong họ tên, rồi đóng ấn triện bản chức. Việc tư thì trước hết đề tước phong sau đến quan chức đương làm và họ tên, rồi đóng ấn tước phong.


    4. Số thế hệ được tập phong : Người được phong công, thì năm đời được tập tước : con tập tước hầu, cháu tập tước bá, chắt tập tước tử, chút tập tước nam, chít (cháu sáu đời) tập Cẩm y Hiệu úy. Người được phong hầu thì bốn đời được tập tước: con tập tước bá, cháu tập tước tử, chắt tập tước nam, chút tập tước Cẩm y Hiệu úy. Người được phong bá thì ba đời được tập tước : con tập tước tử, cháu tập tước nam, chắt tập tước Cẩm y Hiệu úy. Người được phong tử thì hai đời được tập tước : con tập tước nam, cháu tập Cẩm y Hiệu úy. Người được phong nam thì một đời được tập tước : con tập Cẩm y Hiệu úy. Phàm những bề tôi được phong tước, sau khi chết, con trưởng dòng đích đã từ 20 tuổi trở lên, do bộ Binh xét thực thấy xứng đáng thì tâu cho tập tước ; nếu không thì sẽ chọn lấy người hiền trong các con thứ mà cho. Nếu tất cả đều hư hỏng, mà hàng cháu có người tuấn tú, nết na thì đợi đến lúc đủ tuổi, không cứ là trưởng hay thứ, cũng cho xét thực, tâu lên, đợi chỉ).


    Trước đây, vua sắp cho phong tước, sai Nội các làm sổ kê rõ tên các huyện, các xã dâng lên ngự lãm. Vua nhân bảo Nội các rằng : "Triều ta được nước, vốn không phải lấy của nhà Lê, nhưng nối theo chính thống, cũng nên chọn một chỗ đất để phong cho con cháu nhà Lê, tức là cái ý nhà Chu phong nước Kỷ, nước Tống.


    "Lại nữa, từ Thuận Hóa trở vào Nam, xưa là nước Chiêm Thành, nay là của nước nhà. Được nước của người, há nên làm tuyệt sự thờ cúng của người hay sao ? Vậy cũng nên theo lệ, phong cho một chỗ, để việc cúng tế của nước Chiêm được tồn tại".


    án sát Quảng Bình là Nguyễn Bá Tuân về chịu tang. Dùng Lại khoa Cấp sự trung là Ngô Dưỡng Hạo thăng thự án sát Quảng Bình.


    Tuần phủ Hưng Yên là Nguyễn Đức Nhuận dung túng người nhà đi sách nhiễu tài vật của người ta, bị dân trong tỉnh kiện. Vua ra lệnh lập tức cách chức vào Kinh đợi chỉ. Cho án sát Thanh Hoa là Vũ Tuấn làm Bố chính Hưng Yên, hộ lý ấn quan phòng của Tuần phủ. Cho Hình khoa Cấp sự trung là Lê Đức Ngạn thăng thự án sát Thanh Hoa.


    Dùng Tri phủ Thiên Trường là Đào Đình Bảo làm Đốc học Hà Nội ; Giáo thụ phủ Đức Thọ là Nguyễn Đình Lập thăng thự Đốc học Biên Hòa.


    Sai bộ Lễ tư cho các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các tỉnh : từ nay về sau nếu có nộp lại tờ sớ có chữ châu phê, cũng phải làm tập tấu nói rõ đã theo chỉ dụ làm rồi, hoặc tâu lại thế nào, đều phải gói tất cả tập trước rồi phong kín đưa nộp lại.


    Chuẩn định hạn ngày đóng bảo ấn (Phàm các cáo, sắc và chiếu chỉ về quan văn, thì do bộ Lại xét làm. Nếu viên quan nào không có gia cấp và kỷ lục nên xét, thì hạn trong 5 ngày ; viên nào có gia cấp và kỷ lục hay bị giáng chức phải xét, về các nha ở Kinh hạn 10 ngày. ở Bắc Kỳ, như các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa và Quảng Yên thì 20 ngày, còn các tỉnh khác hạn cho 15 ngày. ở Nam Kỳ, các tỉnh An Giang, Hà Tiên hạn cho 30 ngày, còn các tỉnh đều hạn cho 25 ngày. Tất cả đều chiếu theo lệ, tra xét, viết tinh tường, làm xong cáo sắc, tâu xin đóng ấn. Về hàng võ, thì do bộ Binh xét làm, cũng theo lệ ấy, tư sang bộ Lại viết rõ, đóng ấn hạn cho 5 ngày. Đến như lời vua phê vào chương sớ là việc quan trọng nên ai cấp phát bản có chữ son phê, lập tức viết tinh tường, đóng ấn cho thi hành. Còn các phiến, theo lệ do tay ấn quan phải viết, vẫn lấy 3 ngày làm hạn. Nếu ai vi phạm thì viện Đô sát và Nội các hặc tâu, chiếu lệ để chậm chiếu, chế mà hỏi tội).


    Xây đắp tỉnh thành Quảng Nam ra nơi khác. Thành cũ ở xã Thanh Chiêm, địa thế chật hẹp và thấp. Vua nghĩ nên dời đi chỗ khác. Trước hết sai viên giám thành đi xem địa thế, chọn được một chỗ ở xã La Qua (Thanh Chiêm và La Qua đều thuộc Diên Phước) đồng bằng rộng rãi, đường sá trung độ, lại gần sông, chuyên chở tiện lợi. Lại sai Hậu quân Phan Văn Thúy xem lại cũng cho tốt. Vua liền xuống dụ sai thự lý Tuần phủ Đỗ Khắc Thư, thuê 6.000 người làm. Lại cho rằng xây thành là công việc to lớn, nên đặc cách sai Vũ lâm Tả dực Thống chế là Nguyễn Văn Trọng, đi trông nom mọi việc. Đến khi hoàn thành, thưởng cho từ đốc biện đến lính và thợ, kỷ lục, tiền và lương bổng có thứ bậc khác nhau.


    Sai Vũ lâm Hữu dực Thống chế là Nguyễn Tăng Minh tạm quyền giữ ấn triện của Tả dực.


    Tên giặc trốn ở Ninh Bình là Lê Duy Lương cùng với anh em thổ ti xã Sơn Âm (thuộc huyện Lạc Thổ) là lũ Quách Tất Công họp đảng làm loạn.


    Lê Duy Lương là con Lê Duy Hoán. Từ khi Duy Hoán bị tội chết, Lương mới lên 3 tuổi, người thủ hạ là Lê Duy Nhiên (người huyện Ngọc Sơn, Thanh Hoa, họ Đỗ, tên Trọng Xuyên, trước làm người nhà Lê Duy Hoán mạo xưng là Lê Duy Nhiên) đem Lương trốn vào xã Sơn Âm. Bọn Quách Tất Công và anh em Quách Tất Tại, cùng em nhà chú là Quách Tất Tế, cháu là Quách Tất Nham chứa chấp nuôi Lương. Rồi khua động, dụ dỗ dân Man, thường thường ẩn hiện ở những miền rừng rú thuộc Ninh Bình, Thanh Hoa, Sơn Tây và Hà Nội, để mưu toan làm việc trái phép. Năm ngoái, việc phát giác, vua đã nghiêm ngặt ra hạn cho các sở tại phái quân đi tuần tiễu lùng bắt, nhưng chưa được. Đến bấy giờ đồ đảng nó liền suy tôn Lê Duy Lương làm minh chủ, tự xưng là hoàng tôn nhà Lê, đúc ấn ngụy, đặt chức ngụy : Quách Tất Công làm ngụy Thống tường (Duy Lương ở xã Sơn Âm, phàm các đảng giặc đều do Tất Công cai quản), Tất Tế làm ngụy Tiền quân, Tất Tại làm ngụy Hậu quân, Tất Nham làm ngụy Tả quân, Quách Phước Thành (người xã Trung Hoàng, huyện Lạc Thổ) làm ngụy Trung quân, Cao Viết Biện (người xã An Chí, huyện Lạc Thổ) làm ngụy Hữu quân, Lê Duy Nhiên làm ngụy Thống chế, Trương Đình Quang (người huyện Phong Doanh, Nam Định) làm ngụy Thống lĩnh, Lê Văn Lân (người huyện Đông An, Hưng Yên) làm ngụy Điều bát, Quách Đình Chí (người huyện Mỹ Lương, Sơn Tây) làm ngụy Thiên hùng quân, lùa thổ dân 3 huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa và An Hóa làm quân lính. Các tù sổng và dân đói ở các hạt lân cận cũng theo nhiều, quân số đến vài nghìn người, lén lút ló ra ở xã Nhượng Lão (thuộc huyện Mỹ Lương, Sơn Tây). Bộ biền các tỉnh như thí sai Phó quản cơ cơ Tiền hùng Sơn Tây là Nguyễn Mậu Du ; Quản cơ Tiền chấn Hà Nội là Nguyễn Văn Mậu đánh nhau với giặc, đều bất lợi, nhiều quân bị thương vong, Mậu rút chạy, Du cố sức đánh, bị chết trận. Phó quản cơ Tả cơ Ninh Bình là Nguyễn Đức Luận ở đồn Chi Nê (thuộc huyện An Hóa) được tin, dùng thổ binh làm quân đưa đường, đi cứu viện. Vừa đến bến Cổ Tự (thuộc huyện Nhượng Lão) bị quân giặc vụt đến chống đánh, thổ binh liền chạy sang quân giặc, bắn lại quân ta, viên thí sai Suất đội là Phạm Văn Bảo trúng đạn chết, Đức Luận bị giặc bắt, quân đều tan vỡ. Giặc vừa thắng, thẳng tiến đến đồn Chi Nê. Thổ binh ở sau đồn, mở cửa, đưa vào. Cai đội giữ đồn là Nguyễn Văn Huyên cùng hơn 10 lính Kinh chạy thoát. Giặc liền chiếm đóng đồn Chi Nê.


    Tin báo đến Ninh Bình, hộ lý Tuần phủ Nguyễn Văn Mưu liền phái Lãnh binh Trần Hữu Lễ đem Chánh, Phó quản cơ Nguyễn Văn Tương và Bùi Văn Trường dẫn quân và voi đi đánh dẹp, rồi đem việc tâu lên.


    Vua xuống dụ rằng : "Ra gì lũ tanh hôi nhỏ mọn ấy ! Thế mà quân các đạo mới thoạt giao phong, đều đã thua chạy ! Vả lại, về việc bắt giặc, trước đã sức bảo nhiều lần. Trước đây mấy ngày, căn cứ tin báo về vụ án Lê Duy Dưỡng, ta lại quở trách ráo riết ! Chẳng ngờ lũ Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát dường chẳng nghe biết chuyện gì không phòng bị được. Đến lúc sai phái, lại chẳng chọn người, để hỏng công việc ! Trách nhiệm đó thật khó từ chối được. Nguyễn Văn Mưu cùng Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng và Hộ đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu đều trước hãy giáng 2 cấp. Hồ Hựu trước kia ở Ninh Bình để cho bọn tù sổng vẫn lén lút tụ họp ở hang núi, nay cái mầm còn sót đó lại ló ra, đều là việc của Hồ Hựu chưa làm trọn. Vậy Hồ Hựu nên lập tức chính mình đem quân và voi, gấp đến Ninh Bình, tuỳ cơ đánh dẹp, cốt sao bắt giết kỳ hết bọn đầu sỏ và đồ đảng giặc ấy. Nếu lại nói là chúng nó đã trốn xa, cẩn cầu tắc trách, hoặc để giặc ấy lan rộng thì cứ Hồ Hựu hỏi tội đó ! Nguyễn Văn Mưu nên giục số biền binh Thanh Hoa phải đi trước, phải tức tốc tiến ngay. Nguyễn Kim Bảng cũng chọn 500, 600 biền binh còn dồi dào sinh lực cùng đi hội tiễu. Còn những người chết trận là Nguyễn Mậu Duy được truy tặng Phó quản cơ và thưởng cho 20 lạng bạc ; Phạm Văn Bảo truy tặng Cai đội và thưởng cho 10 lạng bạc".


    Điều động ở Thanh Hoa, 1 Quản vệ và 300 quân ; ở Nghệ An 1 Quản vệ và 500 quân đến đóng giữ Ninh Bình.


    Vua lại mật dụ Hộ đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu rằng : "Thổ binh ở Chi Nê từ trước đến nay, trổ sức trong việc tuần tiễu, chưa từng lộ ra sự tình gì khác ; nay quân giặc nổi lên, quân đưa đường gặp giặc thì giở giáo, quân giữ đồn thì mở cửa đưa giặc ! Tâm địa phản nghịch của lũ ấy chắc không phải là một ngày mà có. Ngươi thiết tha bí mật hỏi xem chuyến này, những đứa quay cổ cắn lại ấy là do thổ ty, thổ mục ấp ủ lòng xấu, xui khiến ngấm ngầm, hay là thổ binh vì quân giặc dụ dỗ mà nảy mưu toan kia khác, thì lập tức tâu xin nghiêm trị để răn kẻ phản nghịch khác. Trong đám thổ tư nếu có người nào trổ sức vì triều đình thì cũng nên khen thưởng để khuyến khích".


    Hồ Hựu lúc mới được tin báo quân ta bị thua ở Nhượng Lão, liền phái ủy Lãnh binh Trần Văn Lộc đem hơn 900 biền binh, 2 thớt voi đi tiễu. Lại truyền hịch điều động thổ ty, thổ dân trong hạt đều đem súng điểu sang đi theo, rồi tâu xin cấp cho đạn thuốc và tiền, gạo, lương tháng.


    Vua dụ bảo rằng : "Những lúc có việc, chỉ cốt tướng sĩ và lính dõng ra sức giết giặc, nhanh chóng thành công cho địa phương đều được yên ổn, thì dẫu một ngày phí đến nghìn vàng cũng có tiếc gì ! Ngươi nên chiêu số binh đinh, thủ hạ, thổ dân đi trận nay cấp cho mỗi người mỗi tháng : tiền 1 quan, gạo 1 phương ; thuốc đạn cũng theo số cấp cho. Lại cho lấy vài nghìn lạng bạc trong kho đem đến quân thứ lĩnh binh, không kể quân người Kinh hay người Thổ hễ ai bắt hoặc giết được giặc, thì liền đem số bạc ấy thưởng cho".


    Sai : thự Thống chế Thần sách Trung dinh, kiêm lĩnh Thượng tứ viện là Hoàng Đăng Thận, Lãnh binh Hải Dương là Nguyễn Văn Phượng hiệp sức đi theo Hồ Hựu tiến đánh thổ phỉ Ninh Bình ; thự Thống chế Thần sách Hậu dinh là Nguyễn Khả Bằng hội đồng cùng Nguyễn Đăng Giai, hộ lý ấn quan phòng của Tuần phủ Thanh Hoa. Lũ Hoàng Đăng Thận, Nguyễn Văn Phượng và Nguyễn Khả Bằng trước kia phụng mệnh đi duyệt binh tuyển lính ở các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội, việc đã xong xuôi nay gặp Ninh Bình có động, cho nên ra lệnh cho họ tiện đường đi ngay. Lại xuống dụ rằng : Chọn trong số lính các vệ thuộc viện Thượng tứ do bộ Binh đã phái và trong số lính các cơ thuộc tỉnh do Hải Dương đã phái, lấy những người mạnh khỏe, tinh nhuệ, mỗi đăng 100 người, cho theo Hoàng Đăng Thận và Nguyễn Văn Phượng đi đánh giặc.


    Vua sai bộ Binh truyền dụ Đổng lý việc xây thành Hà Tĩnh là Tổng đốc Tạ Quang Cự rút những biền binh mà Nghệ An đã phái đi trước, về tỉnh lỵ, rồi chọn lấy 1.000 quân trong tỉnh còn sung sức, không cứ đương ở ban hay đã hạ ban phải chăm huấn luyện thêm để đợi kỳ ra quân. Đặc cách sai thự Thống chế Thần sách Hữu dinh là Tôn Thất Bằng thay Tạ Quang Cự làm Đổng lý việc xây thành Hà Tĩnh; còn ấn triện Thần sách Hữu dinh giao cho Chưởng Tiền quân Trần Văn Năng quyền giữ. Lại sai Phó vệ úy Hổ oai Trung vệ là Trần Đình Uẩn đi ngựa trạm, ra Thanh Hoa quản đốc vệ binh, hằng ngày thao diễn, đợi chỉ sai phái.


    Vua đi xem chỗ thợ xây Ngọ Môn. Đổng lý Lê Văn Đức tâu rằng : "Biền binh đào ao, thấy có xương khô". Vua bảo rằng : "Xưa, Văn Vương nhà Chu đào được xương khô, sai lấy áo quan chôn lại cho, ta dẫu chẳng dám sánh với Văn Vương, nhưng đó cũng là người, sao nỡ để cho xương khô bộc lộ ?". Liền sai cấp cho tiền và vải, đem chôn ra chỗ khác.


    Dùng Cai đội dinh Vũ lâm là Vũ Văn Tần làm Phó vệ úy vệ Tả bảo nhất thuộc Tả quân.


    Vời thự Bố chính Bình Định là Trịnh Đường, án sát Vĩnh Long là Vũ Đức Khuê, án sát Tuyên Quang là Thân Văn Quyền về Kinh. Bổ Nguyễn Tử Cư làm án sát Bình Định, thăng thự Bố chính. Điều : thự Lang trung bộ Lại là Phạm Thế Trung làm án sát Bình Định ; thự Lang trung bộ Hộ là Doãn Uẩn làm thự án sát Vĩnh Long ; Giám sát Ngự sử đạo Hà - Ninh là Lê Bỉnh Trung thăng thự án sát Tuyên Quang.


    Thiết lập cửa ải ở núi Hoành Sơn (Hoành Sơn trên liền núi cao dưới giáp biển lớn, ở khoảng tiếp giáp giữa hai tỉnh Quảng Bình và Hà Tĩnh. Cửa ải ở trên đỉnh núi, chung quanh xây tường bằng đá núi, dài 11 trượng 8 thước, cao 5 thước, đằng trước mở 1 cửa, bên tả bên hữu có tường ngăn, xây theo thế núi ; bên tả dài 36 trượng, bên hữu dài 39 trượng ; có chỗ cao 3, 4 thước, có chỗ cao 5, 6 thước không chừng. Trong dựng một trại lính 3 gian để làm chỗ biền binh đóng giữ. Lấy 300 biền binh ở Quảng Bình và Hà Tĩnh để làm việc xây dựng đó). Sai thự Thị lang bộ Công là Đoàn Văn Phú đến quản đốc. Khi Phú đi, vua dụ bảo rằng : "Nay Nam, Bắc một nhà, bốn phương vô sự, trong có các cửa ải Quảng Bình, Vũ Thắng là nơi hiểm yếu đủ cậy rồi. Còn cửa ải Hoành Sơn này lập nên chỉ để xét hỏi quân gian, cũng là một đồn phân phòng đó thôi. Ngươi nên xét kỹ hình thế, trù tính việc làm, cốt sao đỡ tốn". Sau đó vì thấy bộ Công nhiều việc, bèn sai thự Bố chính Quảng Bình là Trần Văn Tuân chuyên coi mọi việc, mà vời Phú về. Một tháng làm xong, phái 1 Suất đội và 20 lính Quảng Bình đến đóng giữ, mỗi tháng 1 lần thay phiên.


    Dùng Bố chính Hà Nội là Trần Thiên Tải làm Bố chính Hải Dương ; Bố chính Hải Dương là Nguyễn Hữu Khuê làm Bố chính Hà Nội.


    Chuẩn định : từ nay, những chỉ dụ có quan hệ đến việc quân việc nước trọng đại do bộ sao lục đưa đến các địa phương thì những đường quan đều phải tự tay viết và đóng ấn. Chuẩn định này được đặt làm lệ lâu dài.


    Cho con trai thự Tả quân Nguyễn Văn Hiếu là Nguyễn Văn Túc lấy công chúa thứ hai là Chương Gia, cháu Hoài Quốc công Võ Tánh là Hoài bá Võ Mỹ, lấy công chúa thứ ba là Uyển Diễm.


    Vua dụ Nội các rằng : "Ta nghĩ đến ông cha lũ kia đã có nhiều công lao rực rỡ cho nên thu dùng con cháu họ khiến cho cùng được hưởng Phước với nước nhà, để tỏ ý đền đáp. Vậy truyền dụ : sính lễ nên tùy theo sở năng, chớ nên quá xa xỉ". Lại phán : "Trước kia, khi công chúa lấy chồng, vua đã xuống chỉ, rồi lại sai quan truyền ban mệnh lệnh, đến ngày sắp cưới, lại do Tư thiên giám chọn ngày lành, tâu lên. Khâm sai tước công chủ hôn, đem ngày cưới cáo miếu. Tới ngày rước dâu, lũ quan đưa công chúa đến nhà tông miếu làm lễ bái từ. Việc gả chồng cho công chúa đã có chỉ dụ rõ ràng rồi mà lại sai quan truyền mệnh, cũng là nghi văn thêm thừa. Vả lại, nhà tông miếu là nơi tôn nghiêm, nếu sự việc quan trọng mới nên kính cầu, còn việc con gái lấy chồng cũng là lễ thường, há nên dùng nhàm ? Chuẩn định : từ nay về sau, hễ có việc gả chồng cho con gái những nghi tiết ấy đều đình chỉ mãi mãi".


    Tỉnh Hải Dương có bệnh dịch. Quan tỉnh xin lấy tiền kho mua thuốc chữa bệnh cho dân. Bộ Hộ Phước tấu, cho rằng : Những dân ở quanh tỉnh có 1, 2 người cảm nhiễm lây thì chữa chạy còn được, chứ muốn chữa cả người này, người khác thì không khắp được.


    Vua nói : "Không sao, thấy dân ốm đau, há lại ngồi nhìn mà không cứu ?". Vua bèn chuẩn y như lời đã xin. Sau đó hơn tháng, bệnh dịch đã lui.


    Tổng đốc An - Biên Nguyễn Văn Quế, tâu nói : "Các tấn sở, thủ sở thuộc tỉnh, số quân quá ít, mà danh hiệu để gọi lại rất phức tạp. Vậy xin đổi định : trong đó có 2 tấn sở và thủ sở là Cần Giờ và Côn Lôn, số quân nhiều hơn mà việc xét hỏi thuyền tàu, canh phòng bờ biển đều là những việc trọng yếu, vậy ba thuyền Bình nhất, Bình nhị, Bình tam thuộc đội Bình hải, ở tấn sở Cần Giờ, xin đổi là đội Phiên hải. Ba thuyền Tiệp nhất, Tiệp nhị, Tiệp tam thuộc đội Tân hiệp ở thủ sở Côn Lôn xin đổi làm đội An hải. Mỗi đội đặt một Chánh đội trưởng suất đội, theo viên thủ ngự sai phái. Còn ba thuyền Thắng nhất, Thắng nhị, Thắng tam thuộc tấn sở Sòi Rạp ; ba thuyền Hùng nhất, Hùng nhị, Hùng tam thuộc đội Bình hải, ở tấn sở Đồng Ninh và đội Hùng ngự ở thủ sở Quang Hóa ; ba thuyền Toàn nhất, Toàn nhị, Toàn tam thuộc đội Toàn ngự ở thủ sở Phiên Thuận ; hai thuyền Hùng dũng, Bình man ở thủ sở Quang Phong ; một thuyền thuộc 3 đội Kiên thành, Kiên thành nhất, Hùng du nhất ở thủ sở Quang Uy ; một thuyền thuộc đội Kiên thành ở thủ sở Kiên Uy và đội Cường nghĩa ở thủ sở Quang Phục đều theo tên gọi của tấn sở và thủ sở mà đổi làm tên gọi của tấn binh và thủ binh. Tất cả đều do viên thủ ngự cai quản. Còn những tên đội và hiệu thuyền ngạch cũ đều xóa bỏ". Vua chuẩn y lời tâu.


    Hộ lý Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu tâu nói : "Dò được lũ thổ phỉ Ninh Bình là Quách Tất Công, anh em một nhà, cậy thế núi khe hiểm trở chứa chấp Lê Duy Lương, âm mưu làm phản đều do dân làng Sơn Âm cố ý che đậy. Vậy xin sai đại đội quân và voi tỉnh Thanh Hoa do đường miền thượng đến hội tiễu. Đốt hết của ăn của để của dân làng Sơn Âm, bắt hết dân đinh làng ấy, cày sân, cuốc lỗ khiến cho quân giặc mất chỗ nương tựa thì khó mà lọt lưới được".


    Vua dụ rằng : "Trước kia Quách Tất Thúc giữ nơi hiểm trở, cậy thế bền vững, nhưng sau biết hối, ra thú, đã được miễn tội, lại cho làm quan. Còn con hắn là Tất Công, Tất Tại cũng được khen thưởng, đời chịu ơn nước, không phải không hậu. Nào ngờ lòng lang dạ sói, đến chết nết chẳng chừa, quên ơn, cắn trả, tội ác đầy dẫy. Chúng nó không những tự làm nên tội. Không thể dung tha, mà còn làm lụy đến cả ông cha nơi chín suối. Nhưng nghĩ : dân xã Sơn Âm đều là con đỏ của triều đình, đều có lương tâm chắc không lẽ lại theo giặc làm phản tất cả. Vậy sai Hộ phủ Ninh Bình Nguyễn Văn Mưu chỉ bảo cho hào mục và nhân dân sở tại người nào không
  • Chia sẻ trang này