0060.0052

30/12/15
0060.0052
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    Văn Thắng quyền thự Phó vệ úy vệ Trung thủy, đổi sai thuyền "Bình tự nhất hiệu" đi thay. Sau đó, vì Năng già và có bệnh, nên tha cho ở ngoài tĩnh dưỡng, hậu cứu. Còn Đoàn Khác thì chuẩn y cách chức, nhưng cho gắng sức làm việc để chuộc tội. Đến lúc thành án, bộ nghĩ xử Năng bị tội lưu, lại tính số hụt mất hơn 1 vạn 7 nghìn quan tiền ráo riết bắt Năng phải truy nộp trả vào kho, được đặc ân cho chia làm 3 phần, phải đền 1 phần, ban 1 năm phải thu cho đủ số.


    Sai thự Hậu quân là Phan Văn Thúy kiêm lĩnh ấn triện Thủy quân.


    Bọn phái viên Lê Văn Phú đến Quảng Nam thì gặp lúc võ quan nhà Thanh bị nạn là Lương Quốc Đống bị bệnh chết. Việc ấy tâu lên. Vua chuẩn cấp cho 1 cây gấm Tống, 3 tấm lụa, 10 tấm vải ; lại ban cho 50 lạng bạc giao bọn người cùng thuyền mang về cấp cho gia đình Quốc Đống.


    Chuẩn định số phu trạm ở Kinh hạn là 90 người, vẫn điều dân xã An Cựu sung vào, chia làm ba ban ứng trực, mỗi tháng 1 lần thay phiên nhau. (Lệ trước : chỉ có 30 người thường xuyên phục dịch).


    Thổ phỉ Ninh Bình là Quách Tất Công, Quách Tất Tại giữ đồn Chi Nê, sai đồ đảng là Quách Đình Chi và Lê Văn Lận đem hơn 700 quân từ trong núi Thức Cốc kéo ra, vây 2 đồn Khả Phong và Bài Lễ. Bộ biền Hà Nội là Phó quản cơ cơ Tiền định Nguyễn Lộc, đánh không được. Lãnh binh Nguyễn Văn Cẩn ở xã Thụy Lôi (thuộc phủ Chương Đức) đem binh ứng chiến : giặc rút vào rừng, tản đi.


    Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng được tin báo, liền sức cho Thủy sư Lãnh binh Tôn Thất Chung đi hội tiễu hợp đánh trước đó, khi Ninh Bình có động, Kim Bảng sai Chung đem biền binh đóng giữ phủ Lý Nhân, rồi phi tâu lên vua.


    Vua dụ rằng : "Ngày trước, thổ phỉ Ninh Bình lén lút nổi dậy, đã truyền dụ ngay cho các địa phương phải dò bắt, đừng để lan tràn, thế mà Nguyễn Kim Bảng không gia tâm ngăn chặn để đến nỗi bọn giặc quèn lại thừa cơ gây việc, sao mà sơ suất biếng nhác quá thế ! Vậy truyền chỉ nghiêm quở bọn Nguyễn Văn Cẩn, Hoàng Quang Trừng và Nguyễn Lộc ; giao chiến với giặc đã không hăng hái giết giặc, lại đến nỗi phải chịu thiệt hại, thật là bất lực quá lắm ! Chuẩn cho đều phải giáng 4 cấp, sai chịu trách nhiệm về sự đi đánh dẹp. Lại cho Lý Nhân là đất xung yếu, nên dụ sai Chưởng cơ Đổng lý việc xây thành Nam Định là Hoàng Văn Trạm đem lính thú Hữu bảo nhị vệ đi nhanh đến giữ phủ thành, để trấn áp đi".


    Lãnh binh Sơn Tây là Trần Văn Lộc dẫn binh đến xã Cao Đắng (thuộc huyện Chương Đức). Quản phủ ứng Hòa là Nguyễn Đăng Khánh đóng ở xã Thường Vệ (thuộc huyện Hoài An) thám biết lũ giặc tụ tập ở xã Minh Lương (thuộc huyện Mỹ Lương) bèn đem binh đi hội với Lộc, gặp hơn 1.000 giặc vụt đến chống đánh từ giờ Ngọ đến giờ Thân((1) Giờ Ngọ : từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều ; giờ Thân từ 3 giờ đến 5 giờ chiều.1). Giặc lên núi bắn xuống, quân ta có người chết và bị thương. Quan quân bắt được gươm và mộc của giặc. Trời về chiều, giặc bèn rút vào rừng rậm, tản đi. Nguyễn Kim Bảng đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Bọn Trần Văn Lộc đem quân và voi nhiều đến hàng nghìn, thế mà giao chiến với giặc lâu đến 3 giờ ((2) Từ giờ Ngọ đến giờ Thân.2) tuy có tìm được khí giới lặt vặt của giặc nhưng rút cục vẫn không giết được một tên giặc nào, còn quân lại bị thương vong ! Sao mà bất tài đến thế ! Đáng lý phải nghiêm khắc trị tội, nhưng nghĩ việc bắt giặc đương lúc khẩn cấp, hãy tạm rộng rãi khoan thứ để cho tự biết sửa lỗi.


    "Vả lại, trong tập tấu của Nguyễn Kim Bảng, lời lẽ nhu nhược lại không rõ ràng gãy gọn ! Ngươi thân chịu trách nhiệm một phương diện, chính mình như thế, thì còn trách gì được kẻ dưới ? Từ nay về sau, phải nên chỉnh đốn hàng ngũ, khích lệ tinh thần tướng sĩ, để đi đánh đâu được đấy. Triều đình đỡ lo được đôi chút về việc miền Bắc thì thân danh nhà ngươi cũng ở chỗ ấy.


    "Nay chuẩn truyền dụ ngay cho tướng sĩ các đạo cùng nhau khuyên lơn cố gắng, hẹn ngày dâng công. Nếu có kẻ sợ hãi chùn lại mà là quản vệ, quản cơ hoặc binh lính thì đều chuẩn cho đại viên cầm quân đem chém ngay ở trước sân ; nếu là đại viên cầm quân mà cứ đóng quân lâu, ăn hại lương thực, thì cũng chuẩn cho quản vệ, quản cơ hặc tấu, lập tức trừng trị theo pháp luật. Đến như voi chiến trong quân rất là đắc lực. Những viên cầm quân nên nghiêm sức cho bọn người cưỡi voi phải gắng sức xông pha ; sau khi thành công, sẽ được cất nhắc tươm tất. Nếu kẻ nào nhút nhát thì sẽ bị chém để rao trong quân.


    "Phàm khi ra trận đánh nhau mà bị thương hoặc chết, từ quản cơ trở lên, thì đợi chỉ hậu thưởng. Suất đội bị thương nhẹ, thưởng 5 quan tiền ; bị thương nặng, thưởng 10 quan ; chết trận, thưởng 10 lạng bạc. Đội trưởng bị thương nhẹ, thưởng 3 quan tiền ; bị thương nặng, 6 quan ; chết trận, thưởng 3 lạng bạc. Binh lính bị thương nhẹ, thưởng 2 quan tiền ; bị thương nặng, 5 quan ; chết trận, thưởng 2 lạng bạc. Dân phu, thủ hạ người Kinh, người Thổ bị thương nhẹ, thưởng 1 quan tiền ; bị thương nặng 2 quan ; chết trận, thưởng 1 lạng bạc".


    Lại cho rằng Hà Nội là tỉnh lớn, nên chuẩn bị phòng thủ, bèn mật dụ Nguyễn Kim Bảng : phái binh đến 4 bên thành phòng bị nghiêm cẩn. Nếu có lấy người nào trong thú binh ở Hậu vệ thuộc dinh Tiền phong đi bắt giặc thì lập tức phải rút về. Lại điều động Lãnh binh Bắc Ninh là Trương Văn Hậu đem một, hai trăm biền binh đến lệ thuộc dưới quyền Nguyễn Kim Bảng để giữ Hà Nội. Cho Lãnh binh Hà Tĩnh là Trần Văn Duy quyền sung Lãnh binh Bắc Ninh.


    Ra lệnh cho các tỉnh Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, phàm mọi công việc lực dịch phát lính đi làm đều bãi bỏ rồi thuê dân làm. Lại tập hợp tất cả lính hạ ban và lính đương ban, luyện tập để phòng trưng dụng. Lại truyền dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh : phàm súng ống, khí giới, binh khí phải mài đánh cho tinh nhuệ, đạn phải vừa với nòng súng, thuốc súng phải khô, nỏ nhạy bén ; khi dùng đến, phải có sẵn sàng.


    Có 200 biền binh 2 đội Ngân sang tam và tứ cùng với các đội Giáo dưỡng tình nguyện xin đi đánh giặc. Vua ban khen, sai Phó vệ úy vệ Long võ hữu là Nguyễn Tiến Lâm coi quản. Lại phái thêm lính Thị vệ, lính Hộ vệ và lính Cảnh tất đem súng đạn đi (30 cỗ súng "quá sơn" bằng đồng, 20 cỗ súng thần công, 50 ống phun lửa, 2 cỗ súng xung tiêu và các thứ bùi nhùi đạn dược, thuốc súng), chia ngồi các thuyền, đi Ninh Bình, theo đến quân thứ Hoàng Đăng Thận và Nguyễn Văn Phượng để sai phái bắt giặc.


    Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu tâu xin lấy thóc kho 1.000 hộc, xay gạo, chở đi Thiên Quan.


    Vua phê bảo : "Hiện nay, đại binh tập hợp ngày càng đông. Việc lương thướng trách cứ ở ngươi, cần phải tiếp tế đều đều mới được. Về bạc lạng đã ra lệnh cho Hà Nội hiệp sức cấp cho rồi, cũng nên liệu cho đến quân thứ. Tất cả tiền nong, đạn dược, thuốc thang và mọi thứ quân nhu, đều phải cố đi đến chỗ không thiếu.


    Sai Thanh Hoa đưa 5 thớt voi chiến đến Ninh Bình, Nghệ An và Hà Tĩnh theo đúng số ấy lần lượt giải về Thanh Hoa, Quảng Bình đưa ra Hà Tĩnh 4 con. ở Quảng Trị do voi Kinh đưa đến cũng như vậy.


    Đảng giặc Hưng Hóa, Đà Bắc hơn 1.000 người đánh phá đồn Quỳnh Lâm. Thổ binh giữ đồn không đánh, bỏ chạy. Cai đội phụ giữ đồn là Phạm Văn Ngân chết trận. Nhiều biền binh bị giặc hại. Cai đội giữ đồn là Đinh Công Thự phòng giữ ngăn chặn ở Phù Liễn phái người cáo cấp. Hộ đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu đem việc tâu lên và nói : Thám biết thổ dân ở ven núi theo quan binh thì ít, theo giặc thì nhiều, cho nên đảng giặc càng đông.


    Vua dụ rằng : "Hai đồn Vạn Bờ, Quỳnh Lâm đều không xa xôi gì, thế mà luôn mấy ngày đều thất thủ, vậy quan địa phương chức vụ ở đâu ? Hai ty Phiên, Niết là Ngô Huy Tuấn và Trần Ngọc Lâm trước hãy giáng 1 cấp. Ngươi, Hồ Hựu đã có trách nhiệm kiêm hạt, cũng phải truyền chỉ nghiêm quở. Phạm Văn Ngân chết trận, thưởng cho 10 lạng bạc. Các biền binh bị thương chết đều được ban tiền tuất ưu hậu. Đến như ngươi nói về tình hình thổ dân : hoặc bị dụ dỗ xui giục ; hoặc sợ khí thế tàn ngược của giặc ; nên buộc phải làm như vậy, chứ chưa hẳn đã cam tâm theo giặc đâu. Nay nên mở lòng thành thực, vỗ về yên ủi họ đừng nên một mực ngờ vực, khiến họ nghi ngờ, sợ hãi, lại để giặc dùng ! Nếu có trưng mộ đem đi, cũng nên châm chước cấp cho lương tháng và xét kỹ trong đó xem người nào trổ sức vì triều đình thì nên trọng thưởng ngay. Như vậy, kẻ phản trắc sẽ yên, mà sai bảo họ phải răm rắp vâng lệnh".


    Sau đó, đảng giặc từ Vạn Bờ, Quỳnh Lâm do hai đường thủy, bộ đến xâm phạm địa phận huyện Bất Bạt, thuộc Sơn Tây. Nhiều thổ dân ở hai bên bờ Đà Giang theo giặc. Thế giặc rất rông rỡ. Hựu lại làm biểu phi tấu, nói : chốn ấy cách 2 tỉnh thành Sơn - Hưng không quá 1 ngày đường, thần đã phái biền binh chia đường chặn bắt và truyền hịch điều động binh lính các tỉnh bên cạnh đến ứng viện.


    Vua sai Binh bộ truyền dụ cho Tổng đốc An - Tĩnh là Tạ Quang Cự : tức khắc lựa lấy những bộ hạ ở quân thứ Ninh Bình 1 Quản vệ, 300 lính, phái đến Sơn Tây, theo Hồ Hựu đi đánh giặc. Lại thấy thuyền Sơn Tây không có số ngạch nhất định, mà quân trảy có khi phải đi đường sông, bèn dụ Tổng đốc Hà - Ninh là Nguyễn Kim Bảng vát lấy 6 chiếc thuyền ô, thuyền lê và thuyền sam bản mang súng đạn quá sơn đến để Hồ Hựu điều khiển.


    Rút về hàng ngũ những lính tuần biển của các hạt Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoa, Ninh Bình, Nam Định, Hải Dương.


    Vua mở xem bản đồ Chi Nê, dụ bộ Binh rằng : đồn này phía trước gần sông Cái, ven sông có đường lớn thông đến tỉnh thành, phía sau có một đường chia ra : phía tả đi Thiện Cốc, trại Hoàng Quyển thông đến đường cái lớn ; phía hữu thông với Thức Cốc, tỉnh Hà Nội. Cứ thế này, thì chia đường tiếp đánh, tưởng cũng không khó. Vậy truyền dụ Hoàng Văn Thận, Nguyễn Văn Phượng phái 1 chi binh, lập tức do đường Thiên Cốc đánh úp mặt sau giặc. Nếu đường đi, núi khe hiểm trở, không tiện tiến binh thì đóng đồn ngay ở đấy, đừng để cho giặc do đường sau ấy trốn thoát được. Còn các đại binh cùng với binh Nam lộ của Trần Hữu Lễ thì tiến về mặt trước, tách ra 1 đạo, đóng đồn ở thượng du để chặn đường thổ phỉ Đà Bắc đến cứu Chi Nê. Rồi tùy cơ, sang sông, hoặc bắc cầu sang sông, giết giặc lập công và lại theo dọc sông, phân phái đề phòng chặn giặc.


    Còn Nguyễn Văn Cẩn, Tôn Thất Chung đánh được 2 nơi sau giặc là Khả Phong và Bài Lễ rồi, liền do đường Thức Cốc phía bắc mà vào ; Trần Văn Lộc, Nguyễn Đăng Khánh đánh được phía sau giặc là Cao Đắng, rồi liền do đường phía tây mà xuống, thì bốn mặt có quân, thế giặc hẳn khó chia mình mà chống chọi. Nếu giặc cố chết giữ lấy Chi Nê, khác chi hồn cá lượn lờ trong nồi, sẽ bị phá vỡ lập tức, Chi Nê có thể dễ dàng lấy lại được ngay.


    Sai Nguyễn Công Tú, thự Hữu thị lang bộ Lễ đổng lý thanh tra sự việc bộ Hình.


    Trước kia, vua thấy bộ Hình chưa đặt lệ khóa thanh tra, sai đình thần bàn xét. Họ cho rằng những án do bộ Hình xử các đồ vật, của cải sung công, có quan hệ đến bộ Hộ nhiều. Nếu đặt riêng một khóa lệ, tưởng cũng chưa phải là giản tiện. Nhưng việc thanh tra bộ Hộ chưa đến niên hạn, vậy xin nên lấy năm nay đặt riêng làm 1 khóa, chọn phái 1 viên Thị lang làm Đổng lý, 1 Viên ngoại lang, 9 Bát, Cửu phẩm thư lại, theo làm việc. Chế cấp ấn quan phòng và dấu kiềm bằng ngà khắc chữ "Thanh tra Hình bộ".


    Rồi đem xét những việc từ tháng giêng năm Gia Long thứ 13 [1814] trở về sau đến cuối tháng 12 năm Minh Mệnh 13 [1832] (Gia Long năm 12 [1813] trở về trước đã có một khóa thanh tra). Phàm các án do bộ Hình và các nha ở Kinh đã xử, hễ có tang phạt sung công như ruộng, đất, bạc, tiền, thóc, gạo, khí giới và truy thu bằng sắc, thì vâng mệnh tra xét, hạn trong 2 tháng làm xong. Sau đó đến niên lệ thanh tra bộ Hộ hợp làm 1 khóa, riêng phái 1 Viên ngoại lang hoặc Chủ sự, 3 Bát Cửu phẩm thư lại đi theo viên Đổng lý, chuyên làm sự việc thanh tra bộ Hình. Vua y theo.


    Tổng đốc An - Hà là Lê Đại Cương tâu nói : "Quốc vương Chân Lạp là Nặc Chân báo rằng thám thấy tướng Xiêm là Phi Nhã Chất Tri đóng quân ở sóc Tà Nặc, đưa hịch hiệu triệu dân phủ Bắc Tầm Bôn, cùng với ốc Nha Cố phân phái việc quân. Hắn lại sai đắp đồn ở phủ Lô Khu Vật. Thần lấy làm ngờ lắm, đã phái 300 biền binh đến thành Nam Vang trấn áp, để cho yên lòng thần dân nước Phiên. Vua phê bảo rằng : "Tình hình Chân Lạp do thám được đó chưa chắc đã thực. Ngươi chịu trọng trách ở biên khổn, phải xem xét cho kỹ, tùy cơ điều khiển thế nào, cốt cho trúng khớp. Nếu có thực trạng, lập tức tâu lên".


    Cho Trương Văn Chính, Vọng các công thần, Chưởng cơ, hưu trí chiếu theo cấp bị giáng, hưởng nửa lương (nguyên bị giáng 3 cấp).


    Vời Tổng đốc Bình - Phú là Đoàn Văn Trường về Kinh.


    Đặt thêm chức Huyện thừa huyện An Lãng tỉnh Sơn Tây. Bỏ bớt huyện Đăng Đạo, gộp lại làm huyện Sơn Dương.


    Tổng đốc Hà - Ninh, Nguyễn Kim Bảng bị miễn chức. Bảng tuổi già, không có mưu lược gì khác khi tỉnh bên cạnh có nhiều thổ phỉ nổi dậy.


    Vua chán ghét, dụ sai cách ly ((1) Cách ly : Bị cách chức và phải lìa khỏi chỗ đang làm quan.1) ngay, về Kinh, đợi chỉ. Khi Bảng sắp đến Kinh, vua lại nghĩ Bảng là người thanh liêm ngay thẳng, bèn gia ân giáng làm Chủ sự bộ Lại.


    Sai : Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ, quyền lĩnh ấn quan phòng Tổng đốc Hà - Ninh ; Thống chế Tiền dinh quân Thần sách Phạm Văn Lý đem biền binh vệ Hổ oai tiền, đi thuyền thủy quân kíp đến Hà Nội, quyền sung Đề đốc quân vụ. Phàm cơ mưu việc bắt giặc, Phạm Văn Lý nên bàn cùng Nguyễn Đình Phổ mà làm. Lại phái thự Ngự sử là Lê Văn Trung theo đi giúp việc từ chương. Con của Lý là Suất đội Phạm Văn Châu, cũng chuẩn cho đi theo. Còn ấn triện Thần sách Tiền dinh thì giao cho thự Hữu quân Nguyễn Văn Xuân tạm quyền nhận lĩnh.


    Các viên bị cách là Nguyễn Văn Quyền làm Phó vệ úy chư quân, Nguyễn Hữu Gia làm Binh bộ Viên ngoại lang (chọn Quyền trước phạm lỗi đã bị cách chức, đang gắng sức làm đê Nhị Hà để chuộc tội, lĩnh ngay 10 chiếc thuyền hiệu Thủy sư Hà Nội kíp đến Sơn Tây theo Hồ Hựu sai phái làm việc bắt giặc.


    Viên bị cách là Nguyễn Đức Nhuận cũng được khai phục, làm Binh bộ Viên ngoại lang, rồi theo đi quân thứ Hoàng Đăng Thận.


    Lấy ở Hà Nội 3 thớt voi chiến đi Sơn Tây, 10 cỗ Hồng y pháo đi Ninh Bình. Lại điều ở Nam Định 4 thớt voi chiến đi Hà Nội, 5 chiếc thuyền lê và thuyền sam bản đi Ninh Bình.


    Hộ lý Tuần phủ Hưng Yên là Vũ Tuấn tâu nói : "Trước kia, đã có chỉ dụ rõ rằng phát 6.000 phương gạo Kinh đô, bán giảm giá cho dân ; nhưng dân nghèo không có tiền, thần đã đem cho vay. Vậy xin cam chịu tội trái chỉ dụ".


    Vua phê bảo : "Cốt làm cho ơn huệ thực đến với dân để làng xóm được yên ổn. Đó là ngươi làm được tròn chức phận. Việc phát chẩn hoặc cho vay cũng là cách cứu dân khi cần kíp. ý ta vẫn là như vậy. Ngươi đối với chỉ dụ, có gì là trái đâu !".


    Dùng Thành thủ úy là Nguyễn Đăng Huyên làm Phó vệ úy vệ Long võ trung.


    Khai phục cho các viên bị cách : Phạm Quang Nguyên làm Lễ bộ Tư vụ ; Lê Bá Tú làm Hàn lâm viện Kiểm thảo sung Nội các Hành tẩu. Sau đó Bá Tú vì bị bệnh, không kham nổi việc, nên bắt phải về nguyên quán.


    Sai Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Lại bộ Thượng thư là Nguyễn Khoa Minh tạm quyền kiêm Binh bộ sự vụ.


    Đinh Công Tiến, thí sai thổ Tri huyện Thanh Xuyên, Hưng Hóa, ngụy xưng là Tiền phong, thí sai thổ Tri châu Mộc Châu là Xa Văn Chấn ngụy xưng là Điều bát, thí sai Suất đội cơ Hưng hùng là Đinh Công Lân ngụy xưng là Thống lãnh, cùng với lũ phạm tội đi trốn ở Sơn Tây, ngụy xưng là Đốc chiến Nguyễn Văn Nhân, Lê Văn Bột, tụ tập bọn dân thổ, dân đói đến hơn 2.000 người, liên kết với đảng giặc ở Đà Bắc lén lút nổi lên ở sách Cự Đồng (thuộc huyện Thanh Xuyên).


    Lãnh binh Bùi Văn Đạo thân suất Phó quản cơ cơ Hậu dũng, Sơn Tây là Hoàng Văn Trường và hơn 300 biền binh tiến đánh. Lũ giặc xông lại vây đánh, binh ta ít không địch được. Trường cố sức đánh, bị chết, binh quân bèn tan vỡ. Bùi Văn Đạo rút về trại Phù Cao, thấy thế quân ở tỉnh thành ít và yếu, liền quay về giữ tỉnh. Hồ Hựu nghe báo, phi tâu lên vua.


    Vua dụ, quở rằng : "Ngươi có trách nhiệm coi cả 1 lộ Sơn - Hưng, thì cơ mưu đánh dẹp đó là phận sự của ngươi. Được tin cấp báo ấy sao không thân đi đốc suất đánh dẹp ? Lại vội vã tâu lên làm cho người ta có điều không thể hiểu được ! Nay đã phái nhiều binh mã tỉnh bên đến tiếp ứng, ngươi phải cố gắng bày mưu trổ sức thế nào để sớm trừ được giặc ấy. Nếu lờ phờ không có chủ trương gì mà chỉ bối rối hoang mang để cho quân giặc lan tràn quấy nhiễu, thì ngươi thử nghĩ xem có thể chịu nổi cái lỗi nặng ấy không ? Hãy kính cẩn đấy !".


    Hoàng Văn Trường chết trận được truy tặng Quản cơ, thưởng thêm 30 lạng bạc.


    Đổi bổ Phạm Văn Điển, Phó vệ úy vệ Tiền phong tả làm Vệ úy, trật Tòng tam phẩm, quyền sung chức Lãnh binh Hưng Hóa, chuẩn cho dùng ngựa trạm đi gấp, vát lấy ở Hà Nội và Sơn Tây mỗi nơi 5 voi chiến và biền binh Sơn Tây, đến thẳng tỉnh thành Hưng Hóa đánh giặc. Nguyên Lãnh binh Bùi Văn Đạo và binh trong tỉnh đều lệ thuộc vào đấy. Lại sai Vệ úy vệ Kinh tượng lấy 8 Suất đội, 400 lính hợp lực làm việc bắt giặc.


    Phó vệ úy vệ Long võ trung là Nguyễn Đăng Huyên, Phó vệ úy vệ Ban trực hậu dinh Thần sách là Lê Văn Bách, Phó vệ úy vệ Tiền bảo nhị là Giáp Văn Tân đều quản lĩnh vệ binh đến Hà Nội, mỗi vệ đem 5 cỗ súng quá sơn đồng pháo, kíp đến Hưng Hóa, hội với các đạo, dẹp giặc.


    Con Phạm Văn Điển là Suất đội Phạm Văn Huy, con Lê Văn Thụy là Cai đội Lê Văn Nghĩa, đều do nơi đồn thú Bắc Ninh và Hải Dương phái đến quân thứ Điển, Thụy để tòng chinh. Vua bảo Nội các rằng : "Bọn Phạm Văn Điển, Lê Văn Thụy, Nguyễn Đăng Huyên, Lê Văn Bách và Giáp Văn Tân đều là các viên do Kinh phái đi. Cơ mưu đánh dẹp cũng nên chuẩn cho được tâu thẳng lên. Vậy, nên dụ cho biết : việc thường, thì theo lệ, báo cho địa phương tâu thay. Nếu là việc quân cơ quan trọng thì cho phép làm thành tập tấu do sở tại đệ lên”.


    Bọn Tôn Thất Tài, Hộ vệ ở ty Hộ vệ, vệ Loan giá, gồm 8 người tình nguyện xin đi đánh giặc. Vua khen là có chí, cho đi và trước hãy thưởng 1 tháng tiền lương theo Tôn nhân phủ cho theo Phạm Văn Điển sai phái.


    Viên bị cách chức là Hoàng Sĩ Quang cũng được sai theo Phạm Văn Điển đi gắng sức làm việc để chuộc tội.


    Quân giặc Hưng Hóa cả thủy lẫn bộ tiến gần sát tỉnh thành. Lính trong thành không đầy 400. Quan tỉnh là bọn Ngô Huy Tuấn cố giữ thành, chống đánh, bắn chết vài tên phỉ. Giặc hơi lui, phóng lửa đốt các nhà dân ở ngoài thành và dựng trại bao vây. Bọn Tuấn sai người nhân đêm lẻn ra báo với Hồ Hựu lo liệu. Hựu liền đem việc tâu lên nói : thế giặc đang hung hăng ; ở Hà - Ninh thì cậy hiểm, khiêu chiến ; ở Hưng Hóa thì bị bao vây tỉnh thành, mà cơ binh ngũ quân đều không phải là quân nhanh nhẹn tinh nhuệ. Vậy xin liệu phái Kinh binh hoặc cận tiện thì điều thú binh Hữu bảo ở Nam Định gấp đến mới được việc. Vua phê bảo rằng : "Ngươi, ngày thường cười nói, khi gặp việc thì không tính được kế gì, trong lòng bối rối cuống quít ! Thật rất đáng chê, đáng giận ! Về việc dẹp giặc, ta đã xuống dụ bảo trước rồi. Hãy hẹn cho ngươi trong 10 ngày : nếu có tin thắng trận, thì thân danh ngươi còn giữ được ; không thế, thì sớm tự liệu lấy kế, chứ đừng đợi nếm mùi pháp luật của ta !".


    Nguyên Trấn thủ Tuyên Quang là Phan Bá Phụng, trước đây vì tuổi già, về hưu trí, nhân bấy giờ Hưng Hóa có giặc, Hộ đốc Hồ Hựu thấy Phụng đã già đời trong hàng ngũ, lại đã từng trấn thủ Hưng Hóa, am hiểu địa thế, mới đến ủy cho việc bắt giặc. Phụng khảng khái xin đi. Hựu bèn sai quản lĩnh 400 biền binh, điều bát bộ biền các đạo tiến đi đánh giặc. Khi vừa đến xã Khê Thượng (thuộc huyện Bất Bạt), bỗng hơn 1.000 tên phỉ từ trong rừng xông ra đón đánh. Phụng đi trước sĩ tốt, bị súng giặc bắn bị thương nhiều, không đánh được nữa. Quân lính bèn tan vỡ. Phụng lại về tỉnh, rồi chết. Hựu đem hết tình hình tâu lên. Vua dụ rằng : "Thổ phỉ Ninh Bình tuy từng kết đảng chống lại quan quân, nhưng còn thuộc về loại thủ hiểm giữ một chỗ thừa cơ sơ hở, lúc ẩn lúc hiện. Đến như thổ phỉ Hưng Hóa nhiều lần vây đánh đồn lũy tiến bức tỉnh thành. Cơ mưu đánh dẹp không thể trì hoãn được. Ngươi nên truyền hịch cho Trần Văn Lộc liệu giao cho 1 Quản cơ, 500 quân, cứ ở lại Ninh Bình để đánh dẹp. Còn bao nhiêu, Trần Văn Lộc rút về ngay Sơn Tây để sai phái. Ngươi đem ngay quân và voi, đi cả ban đêm, gấp đến Hưng Hóa, tùy cơ chặn đánh. Nếu sớm báo tin thắng trận, thì lập tức khen thưởng, quyết không vùi dập công ngươi. Nếu để giặc lan tràn quấy nhiễu, lửa đóm đốt cháy cả đồng, Hưng Hóa là tỉnh thành trọng yếu, lỡ xảy ra mối lo không ngờ, thì ngươi đáng phải tội gì, ngươi cứ nghĩ lấy, không cần nói nhiều".


    Lại truyền dụ Nguyễn Đăng Khải đem vệ Hổ oai trung, Tạ Quang Cự phái thêm 300 biền binh Nghệ An kịp đến Hưng Hóa hội tiễu.


    Vua nghĩ đến Phan Bá Phụng hăng hái cố gắng ra trận, nhân bị thương chết, nên thương xót lắm, thưởng 100 lạng bạc, 2 cây gấm Tống, cho con là Phan Bá Búa làm Cai đội.


    Lấy 2 con voi chiến ở Thanh Hoa, 8 con ở Nghệ An đưa đi Hà Nội và Sơn Tây mỗi nơi 5 con. Lấy 20 con voi ở Kinh, đưa đi Thanh Hoa 2 con, Nghệ An 8 con, Hà Nội 4 con, Sơn Tây và Nam Định mỗi nơi 3 con, bổ sung cho ngạch voi ở các tỉnh. Lại điều ở Nam Định 10 chiếc thuyền Hải đạo thuyền ô, thuyền lê, thuyền sam bản đưa đi Hà Nội.


    Ra lệnh cho quan phần việc chế tạo 1.000 đạn liên tỏa hồ điệp, đem chứa vào kho Vũ khố.


    Sai Tổng đốc An - Tĩnh là Tạ Quang Cự đem đại đội quân và voi gấp đến địa phương Thiên Quan và Chi Nê, chuẩn cho làm Tổng đốc các lộ quân vụ. Thự Thống chế Thần sách Trung dinh là Hoàng Văn Thận, Hộ phủ Thanh Hoa là Nguyễn Đăng Giai, đều đem quân gấp đến quân thứ Tạ Quang Cự, đều chuẩn cho làm Tham tán quân vụ.


    Trước kia, bọn giặc chiếm giữ Chi Nê, chia đóng các đồn ở An Đội, Tuân Dụ, Cố Đế, Nhiêm Hạ, Công Đôi, Thản Đôi, Hà Nguyên 7 nơi. Chúng lại đặt 3 đồn ở tổng An Lạc để chống quân ta.


    Hoàng Đăng Thận, Nguyễn Văn Phượng tiến đến Thiên Quan, đóng quân lại chưa hành động gì. Nguyễn Đăng Giai nhân đó tâu bày cơ mưu, dẹp giặc : "Nghe nói Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên, lén sang Ai Lao, kết hợp với dư đảng Vạn Tượng ước hẹn với bọn ở Sơn Âm là Quách Tất Công làm loạn. Còn việc đánh phá quấy nhiễu Đà Bắc có lẽ chỉ để mở đường cho Duy Lương. Nhưng vì núi sông hiểm trở, Duy Lương không đúng hẹn được, cho nên chưa dám ra mặt gây sự. Tin ấy tuy là tin đồn, nhưng xét theo hình thế đường sá cũng chưa nên nhất khái cho là ngoa truyền mà không phòng bị trước. Thần sách đã phi sức cho các châu huyện thuộc Trấn Man và Thọ Xuân, vát nhiều thổ binh đón chặn theo từng địa hạt. Xin xuống sắc cho Nghệ An nên đề phòng bị giặc ngăn chặn hơn nữa những con đường xung yếu có thể giao thông giữa Trấn Ninh và Ai Lao, để cắt đứt tin tức qua lại của quân giặc, thì việc tiễu trừ các đảng giặc ở Chi Nê và Đà Bắc mới được dễ dàng. Đến như việc hội tiễu Sơn Âm, đã phái người đi thám ba huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa, An Hóa, đường sá bị nghẽn không thông. Nếu đi đến đâu càn quét đến đấy, thì đành rằng các trại miền núi, có thể phát hủy để quét sạch đường ở phía trước, nhưng rừng núi thung lũng bát ngát hàng vài trăm dặm có thể san hết làm đất bằng được không? Huống chi trừ bọn phản nghịch cốt để yên dân, há nên vì Sơn Âm và một, hai lũ ranh con bị bức cách theo giặc, mà nỡ quăng hết cả con đỏ 3 huyện vào dưới núi lửa hay sao ?


    Vậy nghĩ, trước nên chọn người mẫn cán thành thạo mật đem những ý chính trong tờ dụ về việc treo thưởng và tha tội… dỗ bảo những viên thổ ty ở ba huyện chưa ngả theo giặc. Nếu có kẻ thuận đi đánh dẹp như bọn thổ ty, thổ binh ở hạt thần thì nên dùng người này dỗ kẻ khác, cấp lương cho hậu, để họ bền lòng, vui vẻ làm việc cho mình. Lại nghiêm cấm các nơi cửa ải, bến đò không được đài tải muối, gạo, đồ sắt đến miền núi buôn bán. Nếu trái lệnh thì cả phạm nhân cùng người giữ cấm lệnh đều bị khép vào tử hình theo giặc. Còn quan quân các tỉnh, nay nhân sau lúc giặc bị thua đau, đều phải hẹn ngày cùng tiến : đạo Sơn Tây đi Chi Nê, đạo Hà Nội đi Hoa Lư, đạo Nam Định đi Nhiễm Hạ, đạo Ninh Bình đi Cố Đế, còn thần đi đánh các đồn giặc ở An Lạc. Tất cả đều ra sức đánh phá, thì giặc, đầu, đuôi, lưng, bụng đều bị khống chế, thế cùng, sức yếu, tất là thua vỡ. Gián hoặc có đứa chạy về Sơn Âm, giữ nơi hiểm yếu, tụ tập những kẻ trốn tránh. Bấy giờ ta liền giải binh, chọn nơi đóng yên, rồi chiêu tập dân các huyện khéo lời yên ủi, khiến họ lại để cho triều đình dùng. Sau đó, ta mới đánh thẳng vào sào huyệt giặc, dùng người Man đánh người Man, thì chẳng những có thể san phẳng Sơn Âm hiểm trở mà lại có thể liệu trước rằng bọn giặc khó lọt lưới được. Nếu lo gấp việc đánh Sơn Âm thì rất đáng sợ là vào sâu nơi bất trắc, khó giữ được toàn thắng mà quan quân các đạo phải xông pha sơn lam chướng khí lâu ngày và thổ dân 3 huyện không khỏi cái nạn ngọc đá đều tan. Vì vậy, thần thà cam chịu cái tội trùng trình, nhút nhát, chứ không dám đưa quân và dân của triều đình vào nơi chưa được tốt hẳn".


    Vua dụ rằng : "Những việc ngươi trù tính cũng có điều làm được. Nên hãy theo ngay chỉ dụ đem quân và voi đến thẳng Ninh Bình để cùng Tạ Quang Cự thương lượng việc đánh dẹp. Số thổ ty, thổ binh điều động đó, cho đem theo đi đánh, bất tất phải do đường thượng đạo đến thẳng Sơn Âm, để tránh khỏi gặp nguy hiểm".


    Lại dụ Nghệ An phi sức cho bọn Phòng ngự sứ, Đồng tri phủ ở 2 phủ Trấn Ninh và Trấn Biên : chia quân đi tuần chặn giữ các đường tắt, đừng để cho lũ gian tế đi lại.


    Lại vì giặc có đặt đồn lũy ở dọc sông, nên sai viên quyền lĩnh Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng vát lấy 5 chiếc thuyền ô và thuyền lê đưa đến cho Tạ Quang Cự sai phái.


    Sai thị vệ mang gấp cho Tạ Quang Cự, Phạm Văn Lý, Phạm Văn Điển và Nguyễn Đăng Huyên mỗi người 1 chiếc thiên lý kính. Lại phát 20 cỗ súng thần công kèm theo thuốc đạn, đem đến quân thứ Phạm Văn Điển.


    Lãnh binh Ninh Bình là Trần Hữu Lễ, vết thương chưa lành. Chuẩn cho Nguyễn Văn Phượng thay lĩnh quân và voi Nam lộ, rồi theo Tạ Quang Cự điều khiển.


    Sai Nghệ An, Hà Tĩnh để cả số biền binh thuộc hai tỉnh ấy lưu lại thao luyện, chờ chỉ trưng dụng.
  • Chia sẻ trang này