0060.0053

30/12/15
0060.0053
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua nghĩ Bắc Kỳ năm ngoái nhân mất mùa, đói kém, giá thức ăn đồ dùng cao vọt. Nay quân đi, sự cần dùng về lương thực và củi đuốc, không khỏi tốn nhiều, bèn xuống dụ cho các quan địa phương Ninh Bình, Hà Nội, Sơn Tây : Phàm quan quân do Kinh phái đi, khi đến tỉnh, tức thì chiếu theo con số hiện thấy mỗi người thưởng cho 1 tháng lương tiền và gạo. Từ Thanh - Nghệ ra Bắc, các quan quân được phái đi, quê nhà hơi gần hơn thì cấp cho nửa tháng. Lại nữa, bắt đầu từ mồng 1 tháng 4 mỗi người được cấp 1 lẻ muối. Rồi thông sức cho các biền binh phải nghiêm túc theo đúng kỷ luật ; đến đâu không được nhiễu dân. Kẻ nào phạm, sẽ bị xử bằng quân luật.


    Sai mật dụ cho Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây dò hỏi trong dân gian xem có tên phỉ nào lẩn trốn, âm mưu gây sự không và những dân đói thiếu ăn trước đây đã có máu mặt chưa, dân gian đã thảy đều ở yên cả chưa. Phải bí mật làm thành tập tấu dâng lên.


    Vua thường cùng quần thần nói đến chuyện nhà Tây Sơn. Vua hỏi Phan Huy Thực, Thượng thư bộ Lễ, rằng : "Tây Sơn có từng mở khoa thi, kén lấy kẻ sĩ không?". Thực thưa rằng : "Chỉ có 1 khoa thi Hương năm Kỷ dậu [1789], chứ không đặt thành lệ". Vua nói : "Tây Sơn không định kỳ hạn mở khoa thi, là vì muốn dùng người riêng của mình, chứ không phải có ý cầu hiền. Hoàng khảo ta khi mới dấy nghiệp, liền mở ngay khoa thi, kén lấy kẻ sĩ. Ta nối theo chí ấy cốt chấn hưng văn phong, nhân tài sẽ lũ lượt ra nhiều đây".


    Các tỉnh Bắc Kỳ tâu báo rằng : Trời mưa luôn, việc canh nông được thuận lợi.


    Vua dụ Nội các : "Năm ngoái, Bắc Kỳ nhiều lần bị bão và lụt, dân khó kiếm ăn, đã nhiều lần bán rẻ, cho vay hoặc phát chẩn, dân đã dần dần dễ chịu. Năm nay nhờ được trời thương, mưa thuận, lúa tốt, có thể được mùa, tính đốt tay đến trung tuần tháng 4 có thóc mới gặt về, dân gian có thể đều được ấm no. Lòng ta rất được vui vẻ yên ủi. Nhưng còn lo rằng hương thôn phần nhiều còn có thói gặt trộm lúa, gây nên đánh nhau có án mạng. Những tệ ấy phải nên sửa bỏ". Vậy sai Hình bộ truyền dụ các Tổng đốc, Tuần phủ thông tư cho dân trong hạt, đại lược như sau : "Năm nay được mùa có thể bù cho năm ngoái kém đói. Xã dân sở tại, ai lại chẳng có ruộng nương, hoa màu, thóc lúa ? Ai nấy nên hưởng lợi phần mình, lấy đó để nuôi cha mẹ vợ con. Nếu mình nghĩ cướp của người, thì người cũng nghĩ cướp của mình, đến nỗi tranh giành, kiện tụng, lợi bất cập hại, rút cục nào có ích gì ! Chi bằng ăn của mình làm ra, cùng nhau hưởng Phước thái bình. Tin rằng dân ta vốn đủ lương tri, lương năng, há lại không lĩnh hội được sao ?". Lại chuyển sức cho các phủ huyện sở tại : "Từ nay đến mùa lúa chiêm chín, quan phủ, quan huyện nên nhân tiện, thân đến các nơi đồng ruộng, đem những ý chính trên đây đến đâu hiểu dụ đấy, khiến cho dân mọn nơi làng mạc đều biết cái ý tha thiết của ta mừng được cùng dân vui năm được mùa".


    Sửa đồ thờ ở Nguyên miếu và chế thêm các đồ vật bày ở trước lăng Trường Nguyên và Vĩnh Nguyên.


    Trước kia, Tôn Thất Tường từ Thanh Hoa về, tâu nói : "Đồ thờ ở Nguyên miếu nhiều thứ đã cũ nát và trước lăng đều chưa có nhà vàng dự bị và các đồ tế".


    Vua dụ rằng : "Đất phát Phước của quốc gia tinh linh tổ tiên phảng phất ở đó. Đồ lễ phải nên tu chỉnh cho đầy đủ để tỏ niềm tin kính, há nên coi thường như thế". Các người phụng trực ở Hà Trung là Quản phủ Tôn Thất Chiếu và những người ở ty Từ tế đều phải phạt.


    Quan tỉnh Nghệ An tâu báo : dân hai phủ Trấn Tĩnh, Lạc Biên bị đói.


    Vua dụ rằng : "Hai phủ tuy ở nơi xa vắng hoang vu, cũng là con đỏ của ta, triều đình vẫn coi như một, há nên để ở ngoài lòng thương xót được ru ?". Lập tức sai phát hơn 1.800 hộc thóc kho, xay ra gạo mang đi cấp phát.


    Hộ lý Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu nhân đem đại đội biền binh thủy bộ tiến đánh thổ phỉ Hưng Hóa, liền đó làm sớ tâu lên.


    Vua phê bảo rằng : "Ngày nay, ngươi mới đứng dậy, hãy thong thả để xem Phước phận nhà ngươi ra sao. Việc này, ta trước đã điều thêm số quan quân ở tỉnh bên cạnh và cả quân thủy bộ ở Kinh điều đến. Nếu trước khi quân lính ở Kinh chưa đến, mà ngươi giết được giặc, thì là công của ngươi. Nếu khi quân lính ở Kinh đã đến, nhà ngươi mới báo tin thắng trận, thì ngươi còn mặt nào trông thấy ta nữa ?".


    Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu tâu nói : Bọn phỉ lén lút chiếm cứ Chi Nê, lập nhiều đồn trại, mưu đồ lại đánh úp Thiên Quan. Mà tin tức về quan quân ở Tây lộ chưa thấy có gì ! Duy có tin Hoàng Đăng Thận và Nguyễn Văn Phương chia quân đánh dẹp, giặc chưa chịu lui.


    Vua phê bảo rằng : "Ngươi từ trước đến nay chẳng bàn được kế gì, để đến nỗi giặc lan tràn ra. Nay ngươi tâu trình về tình hình giặc hoàn toàn không phải là tin thám được chính xác. ý muốn ngồi đợi lính Kinh đến, nhờ người để nên việc, ngồi rỗi lấy công. Ngươi làm bề tôi, dụng tâm như thế, thực là đáng chê, đáng giận".


    Liền sai Binh bộ truyền dụ cho Tạ Quang Cự : Khi đã đến Ninh Bình, nên nghỉ ngơi vài ngày, để chờ Nguyễn Tiến Lâm đem lính Kinh đến tỉnh, rồi chia giao cho Hoàng Đăng Thận quản lĩnh lính Kinh viện Thượng tứ và thay Trần Hữu Lễ quản lĩnh cả tướng sĩ và voi ở Ninh Bình ; Nguyễn Đăng Giai quản lĩnh 300 biền binh, 1.000 thổ binh và 3 thớt voi chiến ở Thanh Hoa làm đạo quân Nam lộ, thẳng đến Thiên Quan, đánh phá các đồn giặc ở gần quanh đấy. Nguyễn Văn Phượng đem 100 lính bộ hạ, 300 lính Nghệ An, đi gấp đến quân thứ Nguyễn Văn Cẩn, hiệp lực cùng quản lĩnh hơn 1.000 quân và voi ở Hà Nội làm đạo quân Bắc lộ, do đường Thức Cốc, đánh phá đồn giặc. Tạ Quang Cự thì tổng lĩnh đại đội quân, voi và thuyền chiến hợp cùng với biền binh của Nguyễn Tiến Lâm do Kinh phái ra làm đạo quân Đông lộ. Cả thủy lẫn bộ đều tiến đánh lấy các đồn giặc ở An Đội, Tuân Dụ, Cố Đế. Khi thắng trận rồi, lập tức hẹn nhật kỳ hội tiễu tổ giặc ở Chi Nê. Một trận thành công, thì chắc được hậu thưởng.


    Sai : Hà Tĩnh phái 800 biền binh dinh Thần sách đi theo Tạ Quang Cự điều khiển ; Nam Định phái 100 thú binh quân Hữu bảo theo Nguyễn Văn Mưu đóng giữ tỉnh thành. Lại sai thự Phó vệ úy vệ Hổ oai hữu là Vũ Đình Quang, đem vệ binh kịp đến Ninh Bình lệ thuộc làm việc đánh giặc.


    Cấp thêm các trạm từ Kinh trở ra Bắc đến trạm Hà Trung, mỗi trạm 1 con ngựa (trước cấp 3 con). Chuẩn cho đặt làm định ngạch.


    Vua sai Nội các truyền dụ cho các đại viên cầm quân rằng : "Trước kia, Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh Ninh Bình, Hà Nội, Sơn Tây phái lính đi tiễu phỉ, trong đó chắc không thiếu người có tinh thần sắc bén, hăng hái đánh giặc cho vua, nhưng cũng không khỏi có kẻ trong lòng nhút nhát đến nỗi mới có trận đánh ở Nhượng Lão biền binh ba đạo cùng thua trong một ngày ! Đáng lý ra, phải đem quân pháp ra xử đấy ! Nhưng nghĩ số người đóng nhiều, mà ra trận, rút đi, trong đó tất phải có người xướng suất. Ngay như, gần đây, Phan Bá Phụng ở Sơn Tây, Bùi Văn Đạo ở Hưng Hóa, 2 đạo quân bị giặc đánh thua, há không phải là do trong quân có kẻ nhút nhát tự bỏ chạy trước, nên mới đến nỗi thua vỡ đó sao ? Còn tội bỏ chủ tướng, chạy trốn, làm cho thế trận do đấy tan vỡ, thì nên trị tội nặng theo quân luật. Ngoài ra chỉ là theo người rút lui, và khi bên nhiều, bên ít không địch nổi, thì còn có thể tha thứ. Huống chi việc đánh dẹp bây giờ chính là lúc đương khẩn cấp, cũng nên châm chước xử nhẹ, để cho mọi người gắng sức chuộc tội. Vậy phàm gần đây những quan thua trận từ Quản cơ đến Đội trưởng đều phải phạt 100 trượng, cách chức ; binh lính, phạt 80 trượng, đều phải đi theo đặt dưới quyền sai phái của đại viên cầm quân cai quản mình. Nếu biết sợ hãi cảm kích ra sức liều chết để giết giặc, thì võ quan sẽ được khai phục nguyên hàm, binh lính sẽ được thưởng ưu hậu, quyết không vùi dập công lao. Nếu cứ khiếp sợ chùn lại, thì chuẩn cho chém đầu ngay trong quân để rao cho mọi người biết".


    Sai đúc 100 đĩnh vàng mỗi đĩnh 100 lạng, gọi là "Việt Nam nguyên bảo"


    Biên soạn Ngọc điệp ((1) Ngọc điệp : gia phả nhà vua.1). Chánh phó tổng tài là Phan Huy Thực và Tôn Thất Bằng tâu rằng : "Mỹ Đường là con cả Hoàng thái tử Anh Duệ ((2) Anh Duệ tức Hoàng tử Cảnh, con trưởng Gia Long.2) trước vì bị tội, các con cái phải phụ lục vào cuốn phả Tôn thất. Nay, thiết nghĩ rằng : tội của Mỹ Đường chỉ là tội tự làm hỏng mình, sánh với tội phản nghịch có khác (Dòng dõi phạm Hiệp, phạm Huệ đều bị tước khỏi họ Tôn thất). Huống chi con là Lê Chung hiện được tập tước để giữ việc thờ cúng ngành Anh Duệ. Ngoài ra, con trai, con gái hắn cũng đều là cháu của Hoàng thái tử Anh Duệ. Vậy xin cho liệt vào tôn phả, theo thế thứ Hoàng thái tử Anh Duệ, mà bỏ chỗ phụ lục đi. Đến như tên và tự Mỹ Đường trong phả hoàng tử, dưới chỗ chép những chữ "Anh Duệ hoàng thái tử tử nhị" ((3) Hoàng thái tử Anh Duệ có hai con.3) xin chua rõ tội danh để lưu chiểu. (Chua rằng : những chữ như sau : "Con trưởng là Mỹ Đường, năm Gia Long 15, được phong tiến ứng Hòa công, vì đắm đuối chơi bời tự biết có tội, Minh Mệnh năm thứ 5, mang nộp cả sắc và ấn, xin tha tội, được làm thứ nhân).


    Vua cho lời tâu đó là phải.














    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển xcii



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 (Thanh, Đạo Quang năm thứ 13) [1833], mùa hạ, tháng 4, mồng một, ngày tế Hạ hưởng.


    Bọn giặc Ninh Bình từ Chi Nê tràn xuống bến đò Hoa Đế, cướp của và thóc dân rồi đi. Thự Thống chế Hoàng Đăng Thận đóng quân ở Thiên Quan, điềm nhiên không chặn đánh.


    Vua nghe biết, truyền chỉ sức hỏi. Thận lấy cớ là vì quân ít.


    Vua xuống dụ quở rằng : "Ngươi mới đến Ninh Bình, đã có lính viện Thượng tứ và lính Thanh - Nghệ hơn 700 người, lại vát lấy 2 thớt voi chiến ở Thiên Quan há rằng không đủ để dùng vào việc đánh bắt hay sao ? Thế mà hàng 1 tuần nay, ngươi cứ khư khư giữ chịt một chỗ ngồi nhìn cho giặc tự do kéo đến rồi đi, cướp bóc no nê đem về sào huyệt ! Ngươi lại tìm lời chống chế chối cãi. Sao lại có hạng quan quân phải đợi người ta đến giúp, rồi mới đánh giặc như thế nhỉ ? Nay đã có chỉ cho Tạ Quang Cự, Tổng đốc việc quân các lộ. Ngươi tuy ở đạo khác, cũng phải chịu sự điều khiển của Quang Cự. Phàm mọi việc đều do Quang Cự tâu báo. Duy có việc trọng yếu mới chuẩn cho ngươi được riêng làm tập tấu dâng thẳng lên".


    Lại có dụ Tạ Quang Cự : "Kịp phái biền binh đến đóng đồn ở bên sông và canh giữ nghiêm ngặt ở các bến đò Hoa Đế, Khả Luật, không để cho bọn giặc đi lại cướp bóc. Lại cấm các thuyền buôn, thuyền chở khách không được lên quá chỗ đồn giặc để lợi cho giặc".


    Quang Cự nhân đấy tâu xin đổi phái Nguyễn Đức Nhuận đến lệ thuộc quyền mình, để tiện điều khiển. Vua y cho.


    Ra lệnh cho biền binh 2 cơ Tiền và Tả Ninh Bình không nghỉ ở ngoài ban, mà phải lưu lại tại ngũ để sung vào việc sai phái ; đợi khi yên rồi, sẽ lại chia ban như lệ đã định.


    Hộ đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu đem quân đóng ở phủ thành Quảng Oai, được tin giặc đánh phá các huyện Tam Nông, Bất Bạt, lại dựa vào thế hiểm trở, mai phục ở dãy núi bờ phía đông sông Đà. Hựu thân đốc chư quân tiến đánh, bắn chết 1 tên đầu mục giặc và mấy tên trong bọn. Giặc lui vào rừng. Hựu bèn chọn đất đóng đồn, đem việc tâu lên.


    Vua dụ thưởng 10 lạng bạc cho người bắn chết giặc. Giục sai quân thủy, quân bộ hội tiễu, lên đường tiến thẳng, đánh giải vây cho Hưng Hóa. Lại truyền chỉ cho 2 ty Phiên, Niết ((1) Phiên, Niết : ty Bố chính và ty án sát.1) Sơn Tây : phái người chuyển vận 10 cỗ súng quá sơn đến quân thứ. Phàm các đạo quan quân ở Hưng Hóa có cần lương gạo, thuốc đạn, thì đều phải vận tải để cấp cho.


    Vua lại sai truyền dụ cho Phạm Văn Lý rằng : "Trước đây có sai ngươi đưa lính Kinh do đường biển đi Hà Nội, làm Đề đốc quân vụ Hà - Ninh, chuẩn bị tiến đánh thổ phỉ Hưng Hóa. Chắc rằng hiện nay đã đến Nam Định rồi. Duy lúc này đương là tiết Tiểu mãn ((2) Tiểu mãn : tên một tiết hậu nhằm ngày 21, 22 tháng 5 dương lịch.2), nước sông chảy mạnh, thuyền lớn đi ngược dòng, thế đi tất hơi chậm. Khi ngươi đến Nam Định, hãy tạm để thuyền lớn ở đấy, rồi trích lấy 30 cỗ súng quá sơn liệu sai biền binh dùng thuyền ô, thuyền lê, theo đường sông mà tiến. Ngươi tức khắc quản lĩnh quan quân, thủy bộ cùng xuất phát, tiến thẳng đến Hưng Hóa, điều khiển các đạo quân đánh dẹp, trước hãy giải vây cho Hưng Hóa, sau hạ đến các đồn giặc ở Tam Nông và Bất Bạt, sớm báo tin thắng trận. Vả lại, ta vốn biết ngươi vẫn quen hăng hái chiến đấu, nhưng với lũ thổ phỉ loạn dân này, ngươi là đại tướng, cũng không nên xung phong hãm trận địa đua sức tranh hơn với chúng. Chỉ nên đôn đốc Lãnh binh, tướng sĩ, ra sức mạnh, tiến lên trước, thì tự có thể hẹn ngày thành công. Trong khi hăng hái xông pha, ngươi nên thận trọng hơn nữa, để giữ lấy thể thống đại tướng. Rồi giữ nghiêm kỷ luật, thưởng phạt công minh, không nên nóng vội. Còn Hộ đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu thì chuẩn cho theo làm Tham tán quân vụ".


    Sai lính đội Cảnh tất phối hợp với thủy quân, đi một chiếc thuyền ô chở đạn súng (xung tiêu pháo, đại luân xa, mỗi thứ 2 cỗ, đạn hỏa tâm, đạn hồ điệp mỗi thứ 200 kiện, đạn liên châu 100 bao, tản đạn 200 cân) đi Hưng Hóa, theo Phạm Văn Lý và Hồ Hựu bắt giặc.


    Vua bảo Nội các rằng : "Bọn thổ phỉ phần nhiều trội về điểu sang, nhưng quân ta sử dụng đại bác : bắn nơi xa, phá chỗ kiên cố, lợi hơn gấp 10 lần, điểu sang của giặc dẫu nhiều, địch làm sao nổi ? Phải truyền dụ cho Sơn Tây tải 2 cỗ súng đại luân xa pháo, tức súng hỏa xa pháo đến Hưng Hóa. Hà Nội cũng tải 2 cỗ súng ấy đến Sơn Tây". Lại truyền dụ cho Hà Nội, Bắc Ninh đều lấy 200 ống phụt lửa đem đến quân thứ.


    Bộ Binh tâu nói : "Các kho chứa ở các tỉnh Bắc Kỳ, số đại bác còn ít".


    Vua nói : "Nước nhà lúc mới khai sáng, đại bác chưa từng cấp là vì tình thế buộc phải coi trọng chỗ vua đóng mà coi nhẹ các địa phương. Nay hưởng thái bình đã lâu, số đại bác có nhiều, phủ thành, huyện thành còn được ban cấp, huống chi tỉnh thành ? Vậy, nên liệu bàn mà cấp cho".


    Tổng đốc quân vụ các lộ ở đạo Ninh Bình là Tạ Quang Cự tâu nói : ở địa phương Thiên Quan, Chi Nê đều có bọn phỉ đóng đồn nên quan quân đi tiễu chưa lìa khỏi phủ thành, là vì cớ mặt sau chưa quét sạch. Vậy xin do đường thiên lý, đi Gián Khẩu đem quân và voi tiến đến phủ thành Thiên Quan, tùy cơ dập tắt rồi lập tức chia đường đánh thẳng vào Chi Nê.


    Vua phê bảo rằng : "Những lời ngươi tâu đều phải đấy ! Đã cố gắng lại nên cố gắng hơn nữa. Ngày ngày ta mong đợi tin thắng trận".


    Dùng : Lê Bá Dần, thự Phó vệ úy vệ Thần cơ hậu, làm Phó vệ úy vệ Ban trực trung ; Bùi Công Lai, thự Phó vệ úy vệ Tiền phong tiền làm Phó vệ úy vệ Hậu bảo nhất thuộc Hậu quân, đều đem vệ binh đi đóng giữ Thanh Hoa, Nghệ An.


    Lại sai Nghệ An liệu vát 500 biền binh Thần sách, đi đóng giữ Thanh Hoa. Rồi rút số lính phòng ngự ở Trấn Tĩnh về tỉnh.


    Vua dụ Nội các : "Hai tập thơ Ngự chế : Sơ tập và Nhị tập, đã chuẩn y lời xin của văn thần, cho khắc in rồi. Lần lượt đã giáng chỉ thưởng cấp cho các quan trong Kinh và ngoài các tỉnh. Nhân nghĩ về thơ văn, ta không đua tài với văn sĩ, nhưng theo ý muốn của mọi người nên cho khắc in, cũng có thể làm ơn mà cho lưu hành trong đám nho sĩ. Vậy, xuống dụ quan dân trong ngoài ai muốn in riêng cho mình, thì chuẩn cho mang đủ giấy mực đến Quốc sử quán, nơi chứa ván in mà in, để rộng truyền bá.


    Vua xem chỗ thợ làm cửa Ngọ Môn, thấy lầu Ngũ phượng và 2 cửa tả, hữu đều đẹp đẽ khéo léo, chỉnh tề, thưởng cho thợ mộc 300 quan tiền và các thợ khác 200 quan.


    Vua dụ Nội các rằng : "Đã nhiều lần hậu thưởng cho các biền binh làm việc, lại chuẩn định thời hạn khi làm khi nghỉ cho họ để đỡ mệt nhọc. Nay, công trình lớn lao đã hoàn thành rồi chỉ còn chút việc gánh đất vác đá, bất đắc dĩ còn phải nhọc đến sức quân, cũng đã trả công với giá ưu hậu rồi. Nhưng nghĩ : mùa hè, trời nóng, mà biền binh thường phải chạy vạy dưới ánh mặt trời gay gắt, ta rất thương. Vậy chuẩn định : hằng ngày, cứ đầu giờ Dần thì đến làm, giờ Thìn 2 khắc thì nghỉ, đầu giờ Thân lại đến làm, giữa giờ Tuất nghỉ ((1) Dần : từ 3 đến 5 giờ sáng ; Thìn : từ 7 đến 9 giờ sáng ; Thân : từ 3 đến 5 giờ chiều ; Tuất : từ 7 đến 9 giờ tối. Giờ Thìn 2 khắc : 8 giờ sáng. Giữa giờ Tuất : 8 giờ tối.1) để tránh nóng nực, đỡ mệt mỏi".


    Thự Tuần phủ Hà Tiên là Phạm Xuân Bích tâu nói : "Trong dịp điểm binh đầu xuân, số binh các cơ trong tỉnh trốn đến hơn 800 người. Thành khẩn xin để tra rõ, rồi tâu tiếp".


    Vua dụ : "Ngươi nên hội đồng với Tổng đốc Lê Đại Cương, liệu khéo xử trí, cốt sao vừa khoan dung vừa nghiêm ngặt khiến binh lính vui vẻ để cho ta dùng mới phải".


    Hộ lý Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Đăng Giai từ đồn Phố Cát dẫn binh tiến đến Ninh Bình. Lại phái Trần Đình Uẩn, Phó vệ úy vệ Hổ oai trung đem vệ binh từ địa phận châu Quan Da thuộc Thọ Xuân qua Mai Châu thuộc Hưng Hóa đến thẳng tỉnh thành hội tiễu. Làm sớ tâu lên.


    Vua phê bảo : "Ta bảo phái vệ Hổ oai trung đi Hưng Hóa, chứ chưa từng ra lệnh cho đi đường miền thượng. Ngươi lại tự tiện sai đi ! Vả lại, quân cô vào sâu, không phải là kế vạn toàn ! Ngươi chưa từng trải, lại không biết binh pháp. Nếu Đình Uẩn đánh đúng chỗ yếu kém, chỗ trống rỗng của giặc, mà giặc không ngờ đến nỗi chúng bị thua, thì đó là công to vô cùng của ngươi. Nhưng nếu đường rừng núi có nhiều ngả, người dẫn đường không tốt, hay là giặc đã phòng bị trước giữ hiểm ; đánh chặn thì điều đó không phải nói nữa. Thử nghĩ thân ngươi và nhà ngươi có thể lấp đầy chỗ lầm to đó không ? Việc đã xong chẳng nói làm gì, ta chỉ ngóng mong tin thắng trận thôi".


    Vua bèn dụ sai phái người đi dò xét tin tức quan quân đạo binh ấy, nếu đã đến Hưng Hóa thì thôi, nhược bằng còn đang ở trong rừng, thì nên tức khắc rút về, theo đường Hà Nội mà tiến.


    Vua dụ Nội các : "Những thổ ty Bắc Kỳ, từ trước đến nay triều đình đãi họ không phải không hậu. Từ khoảng niên hiệu Gia Long [1802-1819] đến nay, họ được nối chức, giữ đất, cùng nước cùng vui, thổ dân được yên trong cảnh cày ruộng mà ăn, đào giếng mà uống, chưa từng nhọc nhằn xao xuyến. Gần đây, bọn Lê Duy Lương ngầm đi xúi giục, thổ dân nhiều kẻ ùa theo nhũng nhiễu địa phương, có lẽ bức bách vì sức bạo ngược của giặc, hay là tự làm ra sự chẳng lành, đều chưa biết được. Tóm lại, chúng như châu chấu đá xe, lập tức sẽ thấy tan nát. Lại chạnh nghĩ : Thổ dân đều là con đỏ của triều đình, lòng ta có chỗ không nỡ. Vậy sai các địa phương Ninh Bình, Sơn Tây, Hưng Hóa nên truyền hịch dụ bảo cho biết đường họa, Phước. Ai có thể bắt hoặc chém được bọn giặc Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên, Quách Tất Công, Quách Tất Tại, Đinh Công Tiến và bọn đầu sỏ, sẽ chiếu theo lời dụ trước, trọng thưởng cho bạc lạng, phong ngay cho quan chức. Kẻ nào ra thú trước quân hoặc tản về làng mạc, thì tội trước đều được tha thứ cả. Nếu u mê không trở lại, thì phép nước khó khoan dung. Đến lúc quan quân đánh mạnh, không những bản thân bị diệt vong, mà cả đến vợ con nhà, làng cũng đều không giữ được. Như vậy, há không phải tự mình gieo vạ kỳ lạ cho mình ru ? Vậy, nên sớm quay đầu trở về, đừng nói là ta không răn bảo trước".


    Sai thị vệ đem 2.000 đồng ngân tiền Phi long vừa lớn vừa nhỏ ở kho Nội phủ, một nửa giao cho Tạ Quang Cự và Nguyễn Đăng Giai, một nửa giao cho Phạm Văn Lý và Hồ Hựu mang theo trong quân để thưởng cho những tướng biền binh dõng đi trận có công trạng.


    Đê chính thần là Lê Nguyên Hy tâu nói : "Về khúc đê cũ đã bỏ ở lần ngoài tại các xã Quan Xuyên, Cốc Đăng (thuộc huyện Đông An) tỉnh Hưng Yên, hằng năm vẫn thường sai dân đắp để chắn đỡ cho đê trong. Mùa thu năm ngoái, nước sụt lở, năm nay sửa lại, công trình khá nặng. Vậy xin cấp cho tiền và gạo thuê người làm".


    Vua bảo bộ Công rằng : "Đê này không nằm trong lệ sửa đắp theo công trình, há nên động đến khoản chi tiêu lớn ? Nhưng lại nghĩ dân còn đương thiếu ăn, đó cũng là cách bày việc làm thay phát chẩn. Vậy hẵng chuẩn y cho lời đã xin".


    Đặt thêm chức Huyện thừa ở hai huyện Văn Giang và Gia Lâm thuộc Bắc Ninh. Hai huyện này việc nhiều, lại có việc cần phòng đê. Năm ngoái, bộ Lại bàn chuẩn cho mỗi huyện chỉ đặt 1 Tri huyện. Đến nay, Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ đem việc ấy xin, cho nên đặt thêm.


    Quan tỉnh Thanh Hoa tâu : "Lúa chiêm đã chín, dân đã có cái để ăn. Dân xiêu ở Bắc Kỳ đều lục tục trở về làng cũ, thần đã đình việc phát chẩn".


    Nhà vua xem biểu, cả mừng. Rồi các tỉnh Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định và Hưng Yên cũng tâu báo thóc lúa được mùa, giá gạo chóng hạ. Dân đói lĩnh chẩn đều đã có máu mặt dần dần trở về. Duy có Nam Định còn 1, 2 nghìn người già yếu còn phải xin ăn. Vua sai quan tỉnh lấy thêm 500 phương gạo kho, tiếp tục phát chẩn, một tuần thì thôi.


    Vua, hồi đầu xuân, đem thanh, đối cảnh mưa, xem sách, nhân làm một bài thơ hồi văn, sau khắc in son, thưởng cấp cho hoàng tử, các công tước, các đường quan các bộ, viện, Nội các ở Kinh và các trực, các tỉnh ở ngoài, mỗi người 1 tờ.


    Bắt đầu cấp thẻ đeo cho quan lại văn võ và biền binh ở Kinh.


    Lại bộ, Binh bộ, Đô sát viện và Nội các bàn tâu, cho rằng : Đại Cung môn thể chế rất tôn nghiêm, khóa mở coi giữ đều có các chuyên ty. Công việc then chốt thật đã kỹ càng và đầy đủ. Các quan viên lớn nhỏ cho đến lại dịch và binh lính được qua lại cửa Đại Cung ấy đều nên có đeo thẻ bài để xét nghiệm mới là cẩn mật. Vậy xin: về văn, thì bộ, viện và các nha, về võ thì các quân, dinh, vệ, đội ngày thường ứng trực, đều chiếu theo công việc nhiều hay ít, liệu chế thẻ bài cấp cho ; thẻ bài nên dùng ngà hay sừng, kích thước ra sao cũng làm phân biệt theo phẩm trật cao hay thấp. Duy thị vệ vẫn có thẻ bạc, thẻ ngà và Cẩm y, Vũ lâm đã có áo mặc riêng đủ để phân biệt rồi thì không cần bàn và cấp nữa.


    Vua chuẩn y lời bàn đó (Văn : Lục bộ Thượng thư, Tham tri, Thị lang, Đô sát viện, Tả Đô ngự sử, Phó Đô ngự sử ; Đại lý Tự khanh, Thái thường Tự khanh ; Quang lộc Tự khanh, Thừa thiên phủ Phủ doãn. Võ : Ngũ quân Chưởng phủ, Vũ lâm dinh, Thần sách quân, Thủy quân Thống chế ; Kim thành Đề đốc ; Phước Long hầu, Thái Bình hầu : bài ngà đều dài 1 tấc 3 phân, rộng 8 phân.


    Văn : Thái thường Thiếu khanh, Quang lộc Thiếu khanh, Lục bộ chư nha Lang trung sung việc Nội các, Thị độc học sĩ, Thừa thiên phủ Phủ thừa, Tào chính sứ, Từ tế sứ, Quốc tử giám Tế tửu, Tư nghiệp, Chủ phủ, Trưởng sử. Võ : chư quân doanh quản, vệ quản, thị vệ, Kiêu kỵ đô úy, Vệ úy, Hộ thành binh mã sứ, Thượng trà viện sứ, Trấn Hải đài Thành thủ úy : bài ngà dài 1 tấc, 1 phân, rộng 7 phân.


    Văn : Lục bộ, chư nha Viên ngoại lang, Chủ sự, Tư vụ ; Đô sát viện, Lục khoa Cấp sự trung, thập lục đạo Giám sát Ngự sử, lục sự ; chư phủ Phó trưởng sử, Tán thiện Bạn độc ; Nội các Hành tẩu, Thị độc, Thừa chỉ, Tu soạn, Biên tu, Kiểm thảo, Điển tịch, Đãi chiếu ; Hàn lâm viện Tu soạn, Biên tu, Kiểm thảo ; Thái y viện Ngự y, Phó ngự y ; Khâm thiên giám Giám chính, Giám phó ngự quan Chính linh Đài lang, Miếu lang ; Học chính, Quốc tử giám, thừa thự phủ Thừa Thiên phủ Thông phán, Cẩm y vệ chư dinh Tri bạ. Võ : Suất đội, Hiệu úy, Giám đốc : bài ngà đều dài 1 tấc, rộng 6 phân.


    Văn : Lục bộ chư nha Bát, Cửu phẩm thư lại, Thái y viện Y chánh, Y phó. Võ : các hạng biền binh trong Hộ vệ, Loan nghi, Thượng trà, Kim sang, Tài hoa, Lý thiện : thẻ bài đeo bằng sừng đều dài 9 phân, rộng 5 phân).


    Hộ lý Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu tâu nói : "Trận đánh ở bờ đông sông Đà, bọn giặc tụ thêm đồ đảng, chẹn giữ các con đường xung yếu ở rừng núi,
  • Chia sẻ trang này