0060.0054

30/12/15
0060.0054
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    lại dùng thuyền ván, thuyền nan đậu tản mát suốt dọc sông để làm thế ỷ giốc. Vậy xin chờ thủy sư và biền binh các dinh Hổ oai, Thần sách ở Hà Nội cùng đến, thủy, bộ họp lại hội tiễu, mới có thể đánh giải vây cho Hưng Hóa được".


    Vua phê bảo rằng : "Binh, voi, thuyền, súng các lộ hiện nay chắc đã như mây kéo đến rồi. Lũ ngươi nên hợp sức đồng lòng đánh giết giặc cho thật dữ, để sớm báo tin thắng trận, thì sẽ được hậu thưởng".


    Lại dụ sai : "Từ nay có việc quân khẩn cấp thì lập tức làm biểu phi tâu vào, còn việc thường thì cũng 5 ngày 1 lần báo".


    Thổ phỉ Hưng Hóa đánh sát bốn mặt tỉnh thành trèo thang mà lên. Quan tỉnh là Ngô Huy Tuấn và Trần Ngọc Lâm, thân đốc quan quân trong thành cố sức chống đánh, bắn súng, ném đá : giặc bị chết hơn trăm tên, phải rút lui. Bọn Tuấn lại làm mật thư bọc sáp báo cho Hồ Hựu và nói giặc tuy nhiều, nhưng chẳng qua là quân ô hợp, nếu viện binh đến tiếp ứng, thì trong ngoài đánh khép lại, chỉ một hồi trống, có thể bắt được giặc. Hựu cứ theo lời báo tâu lên.


    Vua rất khen ngợi, thưởng cho bọn Tuấn mỗi người được gia quân công 1 cấp ; từ quản cơ trở xuống đến binh lính được thưởng cho tiền bạc có khác nhau.


    Thưởng cho thổ Tri huyện Trấn An là Nguyễn Đình Hán lên hàm thổ Tri phủ vẫn giữ việc huyện Trấn An.


    Trước kia, Hưng Hóa có loạn, trong các thổ Tri châu, Tri huyện thuộc tỉnh chỉ có một Đình Hán tự đem thổ dân hưởng ứng đi đánh giặc. Quan tỉnh đem việc tâu lên, cho nên có mệnh lệnh này.


    Vua ra chơi nhà Lương tạ ((1) Nhà hóng mát.1).


    Tổng đốc An - Hà là Lê Đại Cương, Tuần phủ An Giang là Ngô Bá Nhân tâu xin dồn bổ các lính ở đồn điền cũ vào 4 cơ thuộc tỉnh là An nghị tả, An nghị hữu, An nghị tiền và An nghị hậu, đặt mỗi cơ 1 Phó quản cơ, lấy các nguyên Chánh phó trưởng chi bổ làm Cai đội thí sai, Phó quản cơ. Vua y cho.


    Thự Bố chính Nghệ An là Nguyễn Đình Tân và án sát Vũ Đĩnh tâu xin phái 100 biền binh Thần sách đi đóng giữ Trấn Ninh, hạn 3 tháng thay phiên 1 lần.


    Vua nghĩ chốn ấy lam chướng nhiều, chuẩn cho đóng 1 tháng, khi địa phương yên tĩnh thì lập tức rút quân về, không cần thay phiên gì cả.


    Sai Phó quản cơ cơ Tiền kính là Hồ Tiến Hảo đóng giữ đồn Bình Hải, kiêm cả việc phòng ngự cửa Liêu và cửa Lác.


    Ngụy Trung quân Nguyễn Văn Trù, đảng giặc Hưng Hóa tụ tập hơn 1.000 quân đánh phủ Lâm Thao thuộc Sơn Tây. Quản phủ là Nguyễn Văn Hương đánh nhau với giặc ở xã Thạch Sởn, thua chạy. Giặc lại đến bức bách tận dưới thành. Lãnh binh Tuyên Quang là Trần Hữu Yến, Tri phủ Mai Khắc Mẫn, giữ chặt thành, chống đánh giặc, bắn chết được mấy chục tên. Giặc rút lui, đêm đến, lại đứng ngoài thành la ó. Bọn Yến đem binh nhằm bắn, đến lúc thuốc đạn gần hết, bèn bỏ ngỏ thành, kéo ra. Giặc nhân dịp sơ hở ấy xông vào thành dốt dinh thự, nhà cửa, thả tù phạm. Vừa lúc ấy, bộ biền là Phó quản cơ cơ Tả hùng Hoàng Văn Điền, đem binh đến cứu. Bọn Yến quay lại hội tiễu. Giặc thấy quân kéo đến liền tan đi.


    Việc lên đến vua. Vua sai đem chém Nguyễn Văn Hương ở trước quân rao cho mọi người biết. Trần Hữu Yến và Mai Khắc Mẫn đều bị cách chức, nhưng cho lưu lại gắng sức làm việc để chuộc tội. Lại truyền dụ Hồ Hựu phái ủy Phạm Văn Điển và Lê Văn Thụy đem 400 Kinh binh, 6 thớt voi chiến, phối hợp với 1.000 cơ binh, làm đạo quân Hữu lộ, tiến đánh đảng giặc ở Lâm Thao, rồi sang sông Thao, đánh giải vây cho Hưng Hóa. Nguyễn Văn Quyền thì hợp với Kinh binh : 1 Quản vệ, 200, 300 biền binh, chia nhau đi thuyền, làm đạo quân Trung lộ, tiến đánh thuyền giặc ven sông, rồi thẳng đến tỉnh thành Hưng Hóa. Hồ Hựu thì đem bọn Nguyễn Đăng Huyên và Chánh phó lãnh binh do Kinh phái đi, cùng với các lính dõng và voi chiến do các tỉnh điều động, làm đạo quân Tả lộ, tiến đánh đảng giặc ở Bất Bạt, rồi tức khắc qua sông Đà, sang bờ phía tây, để hội tiễu.


    Vua lại được tin có nhiều thổ ty ở Sơn Tây đem thổ binh theo đi trận, bèn dụ Bố chính, án sát là bọn Đỗ Huy Cảnh và Hoàng Văn Tú phái người thân đến trước mặt họ tuyên chỉ rằng : "Hoàng đế được tin các ngươi hết sức sốt sắng làm việc công, vậy đặc cách xuống dụ khen trước chờ sau khi bình định xong, sẽ có trọng thưởng. Cố lên !".


    Tổng đốc Bình - Phú là Đoàn Văn Trường đến Kinh vào triều kiến. Vua liền sai đi ngựa trạm đến ngay Thanh Hoa quản lĩnh biền binh vệ Ban trực trung do Kinh phái đi và biền binh vệ Thần sách nhất của Nghệ An, đồn trú ở đó. Có việc phải tâu, chuẩn cho được làm thành tập tâu riêng do sở tại đệ lên. Còn con là Đoàn Văn Thọ được liệt trong Hoa danh sách, cũng chuẩn cho đi theo.


    Trường đến bái từ trước bệ, vua dụ ngay trước mặt rằng : "Năm nay Bắc Kỳ được mùa, dân ta có thể không đói, hẳn không theo giặc. Ninh Bình, Hưng Hóa sẽ thấy yên ổn ngay. Khanh hãy cứ đi chẳng mấy ngày ta lại sẽ có chỉ đấy !". Lại nói : "Triều đình mới đặt lệ phong tước cho ấp, là để đãi người có công. Kẻ làm quan nên kính cẩn chăm lo chức vụ để được hưởng tước lộc lâu dài, đến mãi con cháu, đừng cho mình là võ biền mà làm cẩu thả cho xong việc. (Trường mới được phong là Diên Hựu tử, cho nên vua mới dùng những lời ấy để khuyên gắng). Sau đó điều bổ Trường làm Tổng đốc Hà - Ninh, còn Nguyễn Đình Phổ lại về Ninh - Thái cung chức.


    Vua dụ Nội các : "Gần đây, có người nói tên đầu sỏ giặc là Lê Duy Lương ở miền núi Thanh Hoa ngầm xui đồ đảng tràn ra bốn phương quấy rối, để phân tán lực lượng của quan quân. Lời ấy tuy chưa đáng tin hết cả, nhưng cũng không nên không đề phòng. Vậy, ra lệnh cho Binh bộ mật dụ các địa phương Thanh Hoa, Nghệ An, Hà Tĩnh : mật sức cho quan quân phủ huyện phải hết lòng tra xét ở một dải rừng núi. Nếu có Duy Lương và đồ đảng lẩn lút trong dân gian, thì lập tức phải cắt hết mầm mống, đừng để phải dùng đến búa rìu. Nếu coi tờ dụ này là lời suông trên giấy tờ thì phạm lỗi không nhỏ đấy !".


    Tổng đốc việc quân các lộ ở đạo Ninh Bình là Tạ Quang Cự, Tham tán là Hoàng Đăng Thận và Nguyễn Đăng Giai, đóng quân ở Thiên An. Có vài trăm tên phỉ lén vào nhà dân ở Gia Viễn đòi lấy lương quân. Quang Cự được tin tức khắc chia phái binh và voi đến đánh ở cửa động Hoa Lư. Bọn phỉ tan vỡ. Lại có vài trăm tên phỉ khác đêm đến lên trên sơn đình xã Yên Mông (thuộc huyện Phụng Hóa) đốt đuốc, kéo cờ, cướp thóc gạo của dân. Nguyễn Đăng Giai đem binh đến bắt. Lũ phỉ lại trốn vào rừng. Việc lên đến vua. Vua dụ rằng : "Mánh khóe của bọn phỉ này không như tụi phản loạn trước. Nay quan quân đông đúc, lại đầy đủ cả voi chiến, thủy quân, súng đạn và hỏa khí. Lũ ngươi nên chia đường tiến lên, đánh cho thật dữ, đừng đóng quân ở lâu một chỗ, khiến người ta mong tin thắng trận ngày càng sốt ruột ! Phàm những thổ ty, thổ mục đến cửa quan để cố sức làm việc, hễ những ai có thể dùng làm tiền khu thì giao hẹn họ rằng : Người nào trổ sức bắt hoặc giết được giặc thì phàm vợ con tài sản bắt được của giặc đều thưởng cho hết. Còn một xã Sơn Âm, nhiều phen đã hiểu dụ mà vẫn không chịu quy thuận há nên chần chừ dung thứ chút nào nữa ? Nếu ai có thể bắt hay chém được bọn thứ yếu phạm là Quách Tất Công, Quách Tất Tại hoặc chính con em đầy tớ chúng thì cho giải nộp ngay. Còn họ hàng chúng và vợ con của cải người xã Sơn Âm, thì người bắt được ấy không kể là quan quân hay thổ dõng, đều được thưởng cho hết.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Trước kia, đã chuẩn định súng điểu sang mỗi phát dùng 1 đồng cân 6 phân thuốc súng và đã thi hành. Nhưng lại nghĩ : nòng súng có cái to cái nhỏ, đạn chì có hòn nặng hòn nhẹ khác nhau thì thuốc súng cũng theo đó mà có khác. Huống chi thuốc súng cũ chứa ở Bắc Kỳ không nhạy bén lắm, nếu cứ một niềm câu nệ theo lệ cũ, thì đạn phóng ra chậm và yếu, sợ không được việc. Vậy, thông sức cho các trực, các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc : phàm gặp việc đánh giặc, thì chuẩn cho theo đạn chì và nòng súng lớn hay nhỏ mà liệu cấp thuốc súng cốt sao cho thỏa đáng. Duy hằng năm nhằm kỳ tế thần dịch lệ, có thao diễn, thì cứ theo lệ cũ đã định".


    Cho Tạ Quang Cự làm Tổng đốc quân vụ đánh dẹp thổ phỉ Ninh Bình, Phạm Văn Lý làm Tổng thống quân vụ đánh dẹp thổ phỉ Hưng Hóa, đều được cấp ấn quan phòng, dùng đóng khi có việc cần tâu.


    Chương sớ báo về việc quân ở Bắc Kỳ do người cưỡi ngựa đệ đi phần nhiều bị chậm trễ. Vua nói : "Việc đặt cung ngựa trạm để đi lại truyền đệ giấy tờ, có quan hệ đến những việc cơ mật, há nên để chậm trễ như thế ?". Vậy sai Binh bộ truyền chỉ cho các Đốc, Phủ, Bố, án từ Quảng Trị đến Hà Nội : Từ nay về sau, nên nghiêm sức các trạm hạt mình : phàm có ngựa truyền đệ những việc rất khẩn, đều phải chạy theo hành trình, cốt sao nhanh chóng. Nếu còn để chậm thời khắc, thì sẽ đem các trạm binh và trạm mục truyền tin, phân biệt trị nặng. Cả quan địa phương cũng phải giao xuống xét xử.


    Tổng đốc quân vụ đạo Ninh Bình là Tạ Quang Cự, Tham tán Hoàng Đăng Thận và Nguyễn Đăng Giai tâu bày về việc trù tính cơ mưu đánh giặc rằng : Hiện nay, đảng giặc đóng giữ Chi Nê, lập nhiều đồn trại : 4 sở ở Phụng Hóa (đồn Không Cốc, đồn Cây Thị, đồn á, đồn Tâm Đình), 2 sở ở Gia Viễn (Hoa Lư, Đồng Tôm((1) Hán văn chép là "Hà Nguyên".1)), 5 sở ở An Hóa (Cố Đế, Công Đôi, Thản Đôi, Tuân Dụ, An Đội). Lại có hơn 30 chiếc thuyền thủy cơ, chia nhau giữ nơi hiểm yếu. Về đường rừng núi thì từ phía trước sào huyệt Sơn Âm quanh về phía tả thì là Thượng Lũng, An Trị, Phước Lương, Tâm Đình, Không Cốc, suốt đến Thiên Quan ; phía nam thì qua đò Vô Hốt, do Bình Lương, ỷ Na, Xích Thổ, An Đội, Tuân Dụ, qua đò phía đông sang Chi Nê, lại chuyển về Tây, đến Cố Đế, Hưng Thi về đến Sơn Âm. Bấy nhiêu con đường đều có lối tắt xuyên sơn hiểm trở, thông suốt đi 4, 5 nơi, đều đến được các huyện Phụng Hóa, An Hóa, Gia Viễn, Lạc Thổ và miền rừng thuộc Hà Nội, Sơn Tây. Giặc có khi ngầm đi lại trong dân cư, cướp lấy binh lương, hoặc gióng trống kéo cờ, khoe khoang thanh thế. Khi quan quân đến đánh ở đâu thì giặc quẫy đuôi chống lại, đánh bên tả thì giặc chặn bên hữu để chia sẻ sức lực của ta, rồi sau chúng giữ hiểm, lén lút sống trong hang núi. Nếu đánh gấp thì quân ta phải mạo hiểm, rất không tiện ; nếu chia đường cùng tiến đánh thì thế quân bị chia sẻ không có cứu viện. Cơ mưu đánh giặc, khó giữ được vạn toàn, sợ không khỏi chậm trễ. Vả lại, bọn giặc tuy rông rỡ, nhưng dò xét tình hình, thấy chúng vốn không có căn bản gì đâu, lâu rồi cũng đến chết. Nay nghĩ : nên đem đại binh Nam lộ và Bắc lộ gộp lại chia làm tiền, hậu, tả, hữu, hoặc đánh, hoặc cứu, có quân tiến công, có quân chặn đánh, hãĐụHụng công vào chỗ trọng yếu trước đã để cho giặc không thể lén lút qua lại các đường núi ấy mà tiếp ứng cho nhau. Còn quân ta thì không đến nỗi phải lo đầu đuôi không tiếp ứng nhau. Nay xin hẹn ngày, do đường phía nam hợp binh lại, trước hãy lấy các đồn giặc ở Không Cốc và Tâm Đình, rồi cả thủy lẫn bộ đều tiến, đánh lấy Chi Nê, sau đến Sơn Âm. Như thế thì dùng sức hơi tiện, mà bọn giặc cũng khó lọt lưới được.


    Vua cho lời tâu ấy là phải.


    Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình là Nguyễn Văn Mưu, có tội, bị miễn chức.


    Vua dụ Nội các : "Nguyễn Văn Mưu ngày thường không vỗ yên được thổ dân, thám xét được tình hình, đến nỗi giặc âm mưu làm phản, đó không phải là việc một sớm một chiều. Kịp khi việc đã phát ra, lại không gia tâm ngăn ngừa để đến nỗi Chi Nê thất thủ, bị giặc chiếm giữ ! Cơ mưu đánh dẹp lại chậm trễ đến hàng tháng. Đó đều do tội Nguyễn Văn Mưu gây nên cả, dù trăm miệng cũng không chối cãi được. Vậy, Mưu phải cách chức ngay, cho đưa đến quân thứ Tạ Quang Cự làm lính, gắng sức chuộc tội".


    Dùng Hữu thị lang Công bộ sung vào Đê chính là Lê Nguyên Hy làm Bố chính Ninh Bình, Hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ.


    Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền tâu xin gọi ngay những biền binh hai cơ Lạng hùng và Cao hùng đang nghỉ ở ngoài ban phải tập hợp lại để phòng có sai phái. Vua y cho.


    Sai Sơn Tây lượng phái 300 cơ binh thuộc tỉnh đi Tuyên Quang đóng đồn để phòng thủ.


    Bỏ bớt nha môn Đê chính Bắc Kỳ. Bọn khoa đạo là Trần Quang Tiến, Vũ Quyền, Vương Hữu Quang tâu : "Đặt ra đê, là cốt để bảo vệ cho nghề nông. Từ trước đến nay cứ đến mùa thu nước lớn, quan Đê chính chuyên làm những việc bồi đắp giữ đê cho vững, còn đối với việc làm ruộng, thì lợi, hại, đau khổ, không quan tâm đến. Thí dụ như : mưa dầm ứ đọng, nước sông chưa to thì lợi ở việc mở cống dẫn nước ra sông ; nếu không thì lúa chiêm sẽ bị ngập. Nếu mưa ít, ruộng khô, mà nước sông dần dần dẫy lên, thì lợi ở việc mở cống dẫn nước chảy vào ruộng ; nếu không thì mạ khô héo. Quan địa phương mục kích tình hình ấy, nhưng không dám tự tiện, phải loanh quanh tư báo đi báo lại, nên không khỏi chậm trễ. Do đấy, dù nắng, mưa tầm thường cũng có khi gây thành tai hại ! Dân bị khó khăn về lương thực, chưa hẳn không phải vì thế.


    "Nay, các tỉnh đã có đại viên Đốc, Phủ chịu trách nhiệm về sự làm lợi trừ hại cho dân. Vậy, xin đem công đê và tư đê giao cả cho các quan tỉnh quản lĩnh, theo như chương trình mà làm. Còn những đoạn đê ven sông, xem kỹ chỗ nào đáng đặt cống nước để lợi việc làm ruộng, thì tâu xin làm ngay. Mỗi vụ chiêm và vụ mùa hoặc khô cạn, hoặc úng thủy tùy thế mà mở ra cho nước thông đi, khi nước sông lên to thì đóng cửa cống lại. Sông con ở phía trong đê, chỗ nào nông cạn thì tùy thế mà khai mở cho thông dòng nước. Chỗ có cống nước, nên chứa nhiều đống đất và vật liệu để phòng hộ đê. Phàm những việc nên khai hay nên lấp, quan địa phương phải thân đến tận nơi xem xét công việc, không được phó mặc dân thường. Và việc đê đã giao cho quan địa phương, thì xin nên bỏ nha môn Đê chính".


    Vua sai đình thần bàn tâu, đều cho là phải. Vua bèn cho làm theo lời bàn ấy.


    Đóng lại chiếc thuyền đồng Uy phượng lớn. Sai thự Hậu quân kiêm giữ ấn triện Thủy quân là Phan Văn Thúy trông nom công việc này.


    Bố chính Bình Định là Trịnh Đường đến Kinh vào chầu dâng sớ xin đi đánh thổ phỉ Sơn Tây, Hưng Hóa vì thấy chúng đang xuẩn động.


    Vua bảo rằng : "Việc đánh dẹp ở Bắc Kỳ triều đình đã có phương lược. Ngươi không phải tâu xin về việc ấy". Vua bèn bổ Đường làm Binh bộ Hữu thị lang.


    Cho Nguyễn Trọng Vũ làm Binh bộ Hữu Thị lang, thự Hữu tham tri, thăng Binh bộ Viên ngoại lang Đỗ Cao Mai lên Lang trung.


    Vời Bố chính Hải Dương là Trần Thiên Tải về Kinh. Dùng thự Bố chính Quảng Bình là Trần Văn Tuân làm Bố chính Hải Dương. Thăng án sát Hà Tĩnh là Lê Bá An lên thự Bố chính Quảng Bình.


    Sai Tổng thống đạo Hưng Hóa là Phạm Văn Lý mau kíp tiến binh đánh dẹp thổ phỉ. Vua dụ rằng : "Hiện nay, Kinh binh do lũ Nguyễn Đăng Huyên điều khiển nếu đã tề tựu tập hợp thì theo như lời dụ trước, chia làm 3 đạo tiến đánh. Nếu họ chưa đến, thì quyết không chờ được, phải lấy việc giải vây Hưng Hóa làm việc cần kíp, nên liệu phái quân đóng giữ ở địa phận Bất Bạt, còn thì đem quân và voi sang sông ngay. Và giục Thủy sư Nguyễn Văn Quyền cùng tiến, trước hết hãy đánh bọn phỉ gần ở phía tả Lâm Thao và thuyền giặc ở ven sông, rồi cùng sang sông Thao để giải vây cho Hưng Hóa. Giải vây rồi, lập tức chia binh đặt giữ 2 bờ sông Thao. Thủy sư thì đi lại đón chặn các bến đò sông Đà. Phải cướp cho hết các thuyền đò, thì giặc ở hai bờ sông Đà không tiếp ứng cho nhau được, thế tất phải tan vỡ. Quân ta nghỉ vài ngày cho sung sức, rồi theo dọc 2 bờ sông Đà, cùng 3 đạo thủy sư cùng tiến, ra sức đánh giết, sẽ có thể báo tin thắng trận ngay được".


    Lại dụ rằng : "Hôm nọ, có chỉ cho Trần Văn Lộc rút về. Nay quan quân đủ dùng để đánh dẹp, mà giặc ở Ninh Bình, thì đường sá hiểm trở. Nếu không ra quân kỳ, xuất kỳ bất ý để đánh địch thì tin báo thắng trận chắc còn phải lâu. Ngươi hãy cùng Hồ Hựu nên phái ngay Trần Văn Lộc hoặc 2 viên Chánh phó quản cơ, đem 100 lính Thần sách, 400 lính các cơ, trách cứ bọn Đinh Công Trọng, Đinh Công Ninh và Quách Công Nhị chiêu tập hơn 1.000 thổ dân, cấp cho lương gạo, thuốc đạn, sai làm tiền khu, do đường Kim Bôi (tên xã) qua núi Long Lĩnh, thẳng đến xã Sơn Âm, quét sạch sào huyệt giặc, đừng để còn sót một mống nào ! Cho phép cấp bằng cho bọn Công Trọng làm ngoại ủy cai đội, đợi ngày thành công, còn sẽ hậu thưởng (bọn Đinh Công Trọng đều can án, phải làm lính. Từ ngày Ninh Bình, Hưng Hóa có việc, chúng đều tình nguyện theo làm thổ dân đi tòng chinh cố sức để chuộc tội)".


    Hộ lý Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Hồ Hựu đóng ở phủ Quảng Oai chia phái quan quân các đạo, đặt 4 đồn chẹn những nơi xung yếu để chống giặc. Có hơn nghìn phỉ từ sơn phận các xã Phú Hữu, Yên Bồ, Vật Yên kéo lại, xông lên thách đánh. Quân ta đem súng thần công và súng quá sơn bắn chết mấy tên. Giặc lùi chạy. Ta chém được 1 đầu giặc. Việc lên đến vua. Vua phê bảo : "Xem tờ tâu, cũng hơi ưng ý. Nhưng phải đánh giết thật hăng hơn nữa, để sớm báo tin thắng trận".


    Bọn Lãnh binh Hưng Hóa là Phạm Văn Điển, Phó lãnh binh Nam Định Lương Văn Liễu, Phó vệ úy Thủy sư Hà Nội Nguyễn Văn Quyền tất cả thủy bộ cùng tiến, đánh giải vây cho tỉnh thành Hưng Hóa.


    Trước kia, bộ binh ta đánh sơn phận xã Phú Hữu. Hơn 700 phỉ tan vỡ, bỏ súng ống, khí giới, xuống thuyền nan, chạy sang bờ phía tây sông Đà. Thủy quân đánh phần sông xã Trung Hà bắt được hơn 10 chiếc thuyền phỉ. Phỉ lên bờ, chạy tản, trốn. Lính, dõng, đạo riêng của Quản phủ Vĩnh Tường là Nguyễn Duy Trữ cũng đánh bại giặc ở sông Thao, đánh đắm 6 chiếc thuyền và chém 9 đầu giặc.


    Quan quân các đạo thừa thắng tiến lên, gần đến tỉnh thành Hưng Hóa. Quan quân trong thành thấy viện binh đến, lập tức mở cửa thành, hợp sức đánh khép lại : bắt và chém được hơn 60 tên giặc, thu được khí giới vô kể. Giặc bèn rút bỏ vòng vây, chạy về sách Phương Giao (thuộc huyện Thanh Xuyên). Đạo binh của Lãnh binh Tuyên Quang là Trần Hữu Yến, Tri phủ Lâm Thao là Mai Khắc Mẫn gặp giặc ở xã á Nguyên (thuộc huyện Sơn Vi) chém được tên đầu sỏ giặc là Nguyễn Văn Trù và bọn chúng mấy chục tên. Hồ Hựu đem việc thắng trận tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Gần đây thổ phỉ rông rỡ, dở trò cú vọ bạo tàn ! Nay quan quân thảy đều trổ sức hăng hái luôn mấy ngày thắng trận, giải vây ngay cho tỉnh thành Hưng Hóa. Vậy đáng nên hậu thưởng để tỏ ý khuyến khích : Phan Văn Điển, Lương Văn Liễu, Nguyễn Văn Quyền, Nguyễn Duy Trữ và lũ Vệ úy Đoàn Văn Cải, Quản cơ Vũ Tiến Mâu 7 người cùng đi trận ấy đều được thưởng 1 đồng kim tiền Phi long hạng lớn và gia quân công 1 cấp. Trong đó, Phạm Văn Điển thống lĩnh quan quân một lộ, được thưởng thêm 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; các suất đội mỗi người 3 đồng, biền binh được thưởng 2.000 quan tiền. Ngô Huy Tuấn, Trần Ngô Lâm, Trần Hữu Yến và Mai Khắc Mẫn, trước bị giáng cấp cách lưu, nay đều cho được khai phục chức cũ. Còn người chém được tên đầu sỏ giặc Nguyễn Văn Trù thì được thưởng cho 10 lạng bạc. Ngoài ra đều thưởng cho 2 lạng. Đến như Hồ Hựu là một viên quan to đương lúc quan quân tiến đánh, nếu chính mình ra trận đốc chiến thì ta cũng rộng ban ơn cho ; nhưng lại ngồi yên giữ một chỗ, để hưởng sự thành công, há nên lạm mong dự thưởng ? Nay bọn giặc đã sợ mất hồn. Quan quân các người, nên nhân thế chẻ tre này tiêu diệt hết bọn giặc ở hai bờ sông Đà, đánh thẳng vào sào huyệt giặc ở Quỳnh Lâm, Đà Bắc, bắt lũ chính phạm và thứ yếu phạm bỏ vào xe tù, giải về Kinh, hoặc cắt đầu bỏ hòm đệ về cửa cung khuyết. Còn bè lũ nó thì bắt bớ tìm giết, hẹn ngày quét sạch, rồi chia đường tiến đến Ninh Bình hội tiễu. Ta sẽ lại hậu thưởng cho".


    Thự Bố chính Hưng Hóa là Ngô Huy Tuấn, thự án sát là Trần Ngọc Lâm tâu bày tình hình tiễu phỉ : "Từ khi tỉnh thành bị vây, viện binh chưa đến, bọn thần đã cùng với Lãnh binh Bùi Văn Đạo, Suất đội Trần Đăng Phú đốc suất quân sĩ trong thành hết sức chống giữ hoặc bắn súng đánh phá, hoặc đêm đến giòng dây cho quân ra ngoài thành, cướp trại giặc, giết giặc kể hàng trăm. Đến khi các đạo tiến đến tức thì mở cửa thành, hợp sức lại đánh, giặc phải rút lui".


    Vua phê bảo : "Tưởng hai khanh chỉ biết việc tế lễ, chưa từng trải trận mạc, chẳng ngờ lại có thể vì ta mà giữ vững cô thành. Lại gặp lúc quân ít, viện binh không có, vậy mà biết ra sức khống chế địch với số quân không đầy 400, chống được hàng nghìn quân giặc hung bạo, đến sau được giải vây, thành được công. Thế không những đáng ghi công lên lá cờ Thái thường, mà lại làm vẻ vang cho mặt văn thần nhiều lắm. Vậy, cho Ngô Huy Tuấn làm Bố chính, quyền giữ ấn quan phòng Tuần phủ và Trần Ngọc Lâm làm án sát, đều được thưởng thêm 3 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; Bùi Văn Đạo đổi làm trật Chánh tam phẩm (trước Tòng tam phẩm) thưởng 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ và 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; còn cái án thua trận trước được miễn nghị ; Trần Đăng Phú được thăng thụ Cai đội, thưởng ngân tiền Phi long lớn, nhỏ mỗi thứ 5 đồng. Đạo và Phú lại được gia quân công 1 cấp. Biền binh trong thành, thưởng tiền 1.000 quan. Những người được giòng dây ra thành giết giặc, thưởng thêm 200 quan.


    Lại sai bày đàn ở bên ngoài quách của tỉnh thành, sắm đủ lễ vật cho tế nguyên Trấn thủ Phan Bá Phụng, Quản cơ Hoàng Văn Trường và các biền binh chết trận. Lại giải bọn giặc bị bắt sống đến trước tế đàn, mổ lấy tim gan bày tế.


    Tổng đốc đạo Ninh Bình là Tạ Quang Cự, từ Gia Viễn về phủ Thiên Quan có con voi chiến sổng vào đồn giặc ở Nam lộ. Quang Cự cùng Tham tán Hoàng Đăng Thận, Nguyễn Đăng Giai và Viên ngoại lang Nguyễn Đức Nhuận đều đem lính và voi đuổi theo. Gặp giặc chống cự, bọn Quang Cự vừa đánh vừa đi, đến đồn á ở xã Yên Trị (thuộc huyện Lạc Thổ) thì trời đã xế chiều, họ lại quay về. Dọc đường, tên thổ ty Quảng Địa thuộc Thanh Hoa là Nguyễn Đình Bang đi tụt lại sau. Đăng Thận giục giã, Đình Bang trở bắn lại quân ta rồi bỏ đi. Đăng Giai dâng sớ xin chịu tội và nói : "Đình Bang là anh Đình Phát, thổ ty La Sơn. Cha hắn là Phòng ngự sứ Nguyễn Đình Giá, trước đã chiêu tập dân xiêu ở Lạc Thổ lập được 24 trại. Những kẻ can án, đi trốn, phần nhiều ẩn núp ở đấy. Mà Đình Bang và Đình Phát lại là thông gia với Quách Công Ôn, Quách Công Nghiệp, không khỏi có tình trạng thông đồng với giặc. Thần vẫn lo nghĩ về việc đó. Nhưng tội ác hắn chưa rõ rệt, cho nên thần chỉ ngấm ngầm ràng buộc mà thôi. Nay Đình Bang theo đi đánh giặc bỗng lại nảy sinh dã tâm bỏ đi nơi khác. Việc đã xảy ra như thế, biết làm sao được ! Thần đã có công văn phi báo Hộ lý Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng phái nhiều biền binh kíp đến địa phận Thạch Thành, Quảng Địa, phàm những đường có thể thông đến Ninh Bình, thì nghiêm ngặt phòng ngừa càng hơn, để chặn đường không cho giặc thông với nhau. Xin chọn phái một viên quan to hoặc cho thần trở về bắt họ hàng, vợ con của chúng và dân các trại do chúng đã lập mà giam giữ quản thúc. Còn của cải ruộng đất đem hết cho dân để tuyệt đường chúng nó giúp giặc. Đến như thổ ty, thổ dân 3 huyện Lạc Thổ, Phụng Hóa và An Hóa, hoặc tình bà con, hoặc vì nghĩa thân gia, hoặc vì bị cưỡng ép phải theo, họ đều kéo cánh liên kết, cứu giúp lẫn nhau. Dân 3 huyện ấy giúp giặc hoặc theo giặc đến quá nửa, chỉ có hơn 10 thổ ty và hơn 300 thổ dân là theo quan quân. Xét xem tình ý cũng là miễn cưỡng, đều không tin được cả. Thổ dân đã gian ngoan mờ tối như thế, mà đường rừng núi lại hiểm trở như kia ! Mỗi khi xuất quân không người đưa đường : ngoài thì lạc lõng vì núi sâu chằm rộng, trong thì có khi bị thổ dân gian trá đưa vào đất giặc. Tình hình bất trắc như thế, dẫu có trăm vạn quân hùng hổ cũng đến không có được nào để tiến gấp được. Vả lại, giặc này dựa vào rừng núi, hang động tụ như bầy quạ, đông như đàn kiến lại không có lương thực súc tích gì, tình thế cũng không lâu bền được. Thiết nghĩ : nên chia đặt đại binh ở những nơi giáp gần người Kinh thuộc ba huyện ấy để phòng ngừa ngăn chặn, khiến giặc không thể lén đến sách nhiễu, thì chúng chỉ ôm núi, ăn hết lương, thổ dân sẽ lìa bỏ rồi tình thế đến phải bắn giết lẫn nhau. Quân ta có thể không phải khó nhọc mạo hiểm mà giặc cũng phải đến yên". Vua dụ : "Nguyễn Đăng Giai trước đã tâu khen bọn thổ ty : súng đạn khí giới tinh nhuệ, mà người thì có tinh thần chiến đấu, nếu đem đi đánh dẹp thì có thể dùng để sai khiến được. Nay sao lại có việc xảy ra không ngờ như thế ! Ngươi làm chức Tư mục ((1) Quan một địa phương có nhiệm vụ chăm sóc, vỗ về dân chúng.1) đã không hay hết lòng vỗ về, gây nuôi cho thổ dân hiểu biết đường phải, yêu chuộng nghĩa, khi có việc, lại không khéo điều khiển để cho người ta hăng hái tiến lên. Đến khi giao cho việc quân, thì không nghĩ ra được một mưu chước gì, khi thấy giặc, thì tay nắm miệng nhưng lại cố chết giữ im một chỗ. Nay nhân thổ binh sổng trốn, ngươi lại bày ra những lời chùn lại ! Thật không hợp lý chút nào ! Vậy phải cách chức ngay”.


    "Ngày đó, Hoàng Đăng Thận cũng đi ở đấy, đã không hay liệu cơ đánh dẹp, lại chỉ bức bách bắt người ta phải tiến, đến nỗi chúng bỏ đi phương nào không biết ! Vậy phải giáng xuống 4 cấp.


    "Tạ Quang Cự điều khiển không đúng cơ nghi, cũng giáng 2 cấp.


    "Tất cả đều cho lưu dụng, nhưng hạn cho các ngươi trong vòng 1 tuần, phải làm thế nào : góp sức, đánh mạnh, lấy lại Chi Nê, cốt đem lũ đầu sỏ giặc đến làm cho ra án. Nếu các ngươi tự xét là mình bất tài, đành lòng chịu tội, thì làm ngay tờ tâu xin tự biếm truất, cũng không sao, ta sẽ sai ngay đại viên khác đến thay lĩnh việc quân. Như thế, thì lũ ngươi còn mặt mũi nào sống với người đời nữa ?


    "Thổ ty Nguyễn Đình Bang đã theo đi đánh giặc, tại sao lại bỏ trốn, tình và lý thật có chỗ không hiểu được. Có lẽ bị Đăng Thận bức bách cũng chưa biết chừng. Nếu vội vàng giết ngay thì không những kinh động thổ dân lại gây thêm ngờ vực, càng luống công đề phòng, sinh ra nhiều sự bất tiện ! Ngươi, Nguyễn Đăng Giai hãy phái người đi phủ dụ hắn : nếu hắn quay đầu trở lại thì chuẩn cho tòng quân gắng sức chuộc tội, nếu thực cam lòng theo giặc, thì bấy giờ mới nên đánh bắt, cho nó phục tội.


    "Còn Nguyễn Đức Nhuận trước kia phạm lỗi bị cách, nhưng vì cho rằng Nhuận đã từng nhậm chức phủ Thiên Quan, hơi am hiểu tình hình, bèn cho khai phục làm Viên ngoại lang, theo việc binh nhung. Thế mà từ bấy đến nay, không có một điều gì trội, đáng lấy, chỉ luẩn quẩn tiến lui, xu tay ngồi nhìn. Vậy, truyền chỉ nghiêm quở. Nếu ngươi tự liệu rằng mình vô tài, thế khó tiến thủ, thì nên tường trình với Tạ Quang Cự để Cự cứ thực tâu lên đợi chỉ cách chức triệt hồi, không được ở lâu trong quân thứ".


    Sai Ngự sử Đặng Kim Giám gấp đến Thanh Hoa, dò xét tình trạng thổ phỉ để tâu lên.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm các viên quan ở các tỉnh mới được thăng bổ, theo lệ, đáng được dẫn vào yết kiến, thì đều lấy ngày được chỉ, dẫn vào yết kiến, do Lại bộ thảo chiếu cấp cho.


    Từ Phú Yên trở vào Nam đến Hà Tiên, dân cư các hạt có nhiều đồng ruộng ở xen vào rừng núi, thường có thú dữ làm hại.


    Vua sai Binh bộ truyền dụ các quan tỉnh xét các thôn ấp ở ven rừng núi thuộc hạt mình, chọn phái binh và dân hễ ai biết bắn súng điểu sang, thì liệu cấp cho súng
  • Chia sẻ trang này