0060.0058

30/12/15
0060.0058
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    thạo rừng núi và khe suối. Còn Trần Văn Lộc thì đem số biền binh Sơn Tây đã quản lĩnh trước, mau mau quay về Hưng Hóa hoặc Sơn Tây để bắt giặc.


    "Lại nữa, bọn thổ phỉ Man phiến động, thì gần bên chúng tất có kẻ đồng mưu, tin rằng không phải chỉ có một xã Sơn Âm thôi đâu. Vậy nên tra hỏi ngay ai giúp kẻ ác làm càn cũng phải một phen răn dạy, để cho biết sợ, biết chừa, chứ không nên nghe một bên, cẩu thả dung tha, đến nỗi gây thành vạ lớn sau này".


    Nay tiết trời đã đến giữa mùa hạ, sắp có mưa lụt, lam chướng rất dữ, cốt trong tháng này phải lùng bắt được đầu sỏ giặc và bè lũ giải về Kinh để trừng trị, đợi chỉ rút quân khải hoàn.


    Cho Quách Công Chế, con cả Phòng ngự sứ Quách Công Chuyên, được kế tập làm Phòng ngự sứ, sung Chánh trưởng hiệu, hiệu Ninh hùng nhất ; con thứ là Quách Công Bộ làm Chánh đội trưởng. Trước kia, trận đánh ở Thiên Quang, Công Chuyên chết trận. Vua thương xót, sai tìm hỏi các con của Công Chuyên. Đến bấy giờ, Tạ Quang Cự tâu nói : Con cả Công Chuyên, Công Chế là người đương nổi công việc ; con thứ là Công Độ tòng quân, cũng được việc. Cho nên có mệnh lệnh này.


    Tuyên úy đồng Tri phủ Lạc Biên, Nghệ An là Chuyên Cương trốn đi, làm phản.


    Trước kia, Thổ mục Lạc Biên là Phù Chiêm đã bỏ đi, phìa Lục Tạo lại trốn, Chuyên Cương trong lòng không yên, liền lấy trộm thuyền công mới đóng xong, do con suối nhỏ bờ Bạc Phiệt, đến đồn Phố Khâm sai em là Chiêm Bút, con là Hạt Xà Bông thông với Xiêm La, được người Xiêm thu nạp. Chỉ có thổ mục Chiêu Bông và phìa Xà Nộn không chịu theo, chạy đi báo tỉnh. Quan tỉnh đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ : "Lạc Biên từ lâu vẫn thuộc bản đồ ta, nhiều lần được ơn vỗ về thương xót. Ta thương chúng không có chốn nương tựa, nên đã chọn đất cho sống yên ổn, lại rộng nới về thuế khóa, phát chẩn cho lúc đói khổ. Cái ơn nuôi nấng đó, kể ra, cũng đã đến nơi đến chốn. Thế mà cha con Chuyên Cương chẳng biết đội ơn, lại nảy lòng ngờ vực tráo trở, đem gia quyến lén lút đi trốn. Đó là chúng muốn đứng ra ngoài vòng sinh thành của ta, tự mình mang lấy lo buồn ! Triều đình không lấy việc đó làm quan tâm. Duy lũ Nguyễn Đình Tân và Vũ Đĩnh trước đã không biết hết lòng vỗ về, sau lại không biết đề phòng từ khi sự việc chưa xảy, thế thì trách nhiệm của người gìn giữ biên cương ở đâu ? Vậy, đều giáng 2 cấp.


    "Nay Chuyên Cương trốn rồi, còn đối với dân chúng Lạc Biên, chính là lúc không có ai đứng ra vỗ về. Vậy, chuẩn cấp bằng cho Chiêu Bông và phìa Xà Nộn quyền giữ việc phủ, để chiêu dụ nhân dân khỏi sợ hãi".


    Thự Giám sát Ngự sử đạo Hải - Yên là Lê Đức Tiêm tâu nói : "Trước đây thần vâng mạng đi Bắc Kỳ làm việc công, nghe biết trong dân gian gần đây có việc quan địa phương mua các vật hạng chỉ căn cứ vào số người trong sổ đinh mà bắt chia nhau cáng đáng, đến nỗi người không sản xuất, mặc dù vật giá cao, cũng phải miễn cưỡng mua nộp. Bọn tổng lý và lại dịch nhân đấy lại sách nhiễu, nhân dân rất đau khổ".


    Vua bảo bộ Hộ : "Nếu cứ đúng như những lời nói đó thì dân ta gặp phải tệ hại không sao xiết kể ! Vả lại, từ trước đến nay, nhân khi nhà nước có cần dùng gì, hoặc chợt lúc gặp dân gian khó kiếm ăn, thì đã chuẩn cho giả thêm giá, mua bán thỏa thuận, là cốt muốn tiện lợi cho dân, nào ngờ người thừa hành không tốt, lại làm dân phải đau khổ. Vậy, khá truyền dụ cho Đốc, Phủ, Bố, án các hạt : Từ nay, khi nhà nước có mua vật hạng gì, thì đều căn cứ vào thời giá mà mua ở các nghiệp hộ, thương hộ hoặc ở chợ, hoặc tại chỗ có sản vật, chứ không được trách cứ mà chia vào dân. Lại phải nghiêm cấm bọn tổng, lý và lại, dịch, hễ kẻ nào dám làm bậy, gây ra tệ hại, sẽ trị tội thêm lên một bậc".


    Vua ngự lầu "Hãi Tĩnh niên phong", sai triệu hoàng tử, các tước công và đình thần vào hầu, ban cho đồ trà và đĩa chén, có từng bậc khác nhau.


    Nội các tâu nói : "Từ trước đến nay, các địa phương ở ngoài, khi dâng tấu sớ đều có bản phụ cũng đệ cả để phòng khi lục phát. Duy tấu sớ các nha ở Kinh do Nội các có nêu phiếu, thì chỉ đem bản chính trình lên. Một khi bản nào có châu phê, mới tiếp tục đệ bản phụ lên Nội các để kính cẩn sao lục. Bản nào có lời chỉ dụ do Nội các nêu phiếu thì đem bản lục sao đổi lĩnh bản chính về nha tuân theo làm việc (Lệ định : Phàm tấu sớ, sách, sổ ở trong Kinh và ngoài các tỉnh, hễ có chữ châu phê, khuyên son, chấm son, thì Nội các giữ bản chính, còn các bản khác đều do các nha giữ). Bản có chỉ dụ do các nha nêu phiếu cũng thế, nhưng khi giao và lĩnh, thì thuộc viên Nội các phải chờ có bản phụ, mới chịu phát giao, thành ra chậm trễ. Lại nữa, chỉ dụ do Nội các nêu phiếu riêng, sau khi đã đóng ấn quốc bảo rồi, thì phát ngay cho nha môn hữu quan ký nhận ; vài ngày sau, trao trả bản sao lục cho Nội các lưu chiểu. Nhưng, lâu ngày, vì lắm việc, quên sót cũng nhiều, có truy xét nguyên nhân thì lại không khỏi đổ lẫn cho nhau.


    "Vậy xin từ nay, phàm các nha ở Kinh đô có dâng tấu sớ, văn án và sổ sách, duy những tập tấu có niêm phong thì theo lệ, đem bản chính đệ thẳng lên, còn việc thường mà do Nội các có nêu phiếu thì phải có đủ, bản phụ giao luôn cả để sao lục. Về việc phát giao những bản tấu sớ, văn án, sổ sách, chỉ dụ, do Nội các nêu phiếu phân biệt, trừ những sự việc khẩn cấp phải phát ngay, còn thì nếu buổi sáng đóng ấn, buổi chiều sẽ phát giao ; buổi chiều đóng ấn, sáng sớm hôm sau sẽ phát giao. Các nha đổi lĩnh tấu sớ, văn án, sổ sách, chỉ dụ, do nha mình nêu phiếu thì cũng chiếu theo thời hạn ấy. Đến như các nha ký nhận chỉ dụ do Nội các nêu phiếu riêng, thì hạn 2 ngày trả về bản sao lục ; việc giao và lĩnh đều phải theo đúng kỳ hạn. Nếu sai phạm, sẽ do viên khoa đạo đương phiên túc trực tham hặc thúc làm ngõ hầu mới không có cái tệ hại chậm trễ, hoặc đun đẩy lẫn nhau".


    Vua y cho.


    Vua hộ giá Hoàng thái hậu đi tuần du cửa biển Thuận An, ngày hôm sau, xe loan mới về cung.


    Bộ Binh tâu nói : "Từ trước đến nay, khi đại giá đi chơi, thì biền binh theo hầu do người cai quản điều khiển phải đặt dưới quyền đại thần trông coi cho có chuyên trách. Vậy, xin từ nay, mỗi khi ngự giá đi bái yết các lăng và tuần du cửa Thuận An, cửa Tư Dung, các nơi Cao Đôi, Phù Bài, thì trước nhật kỳ, do bộ kê tên từ Thống chế trở lên để đi hộ giá, đợi chỉ chấm lấy một, hai viên sung làm quan to coi quản. Phàm các hạng biền binh đều chịu dưới quyền điều khiển. Những khi đại giá tiến đi, đến chỗ nghỉ trưa hoặc ban đêm đóng lại thì những sự ra hiệu lệnh tiến hay dừng, tuần phòng đường thủy hay đường bộ đều do viên quan to coi quản ấy điều khiển cả. Như thế thì công việc có thống thuộc, dễ sai bảo". Vua cho lời tâu ấy là phải".


    Tổng thống quân vụ đạo Hưng Hóa là Phạm Văn Lý cho rằng chuyện trước kia ra quân chậm trễ, đã có dụ nghiêm quở nên dâng sớ xin chịu tội và nói : "Năm nay, thần đã 67 tuổi, khí lực hơi suy, lại nặng tai, đã đành sức khỏe kém trước, nhưng tự xét mình do thực lòng cảm kích hăng hái hãy còn có thể cố gắng đánh giặc. Trước đây tiến quân, lâu đến hơn tuần, vì bị mưa dầm ngăn trở, chứ không dám lầm nghe ai nói cũng không dám cẩu thả cầu an. Nay, thần xin hết lòng hết sức, hiệp cùng các quan tham tán, hẹn ngày đánh bắt, cốt mong xong việc để đền bù lỗi trước".


    Vua phê bảo : "Hãy rộng cho ngươi 1 tuần nữa để cho ngươi làm được như lời đã nói. Nếu cuối cùng vẫn không thành công, thì khó rộng tha được".


    Phạm Văn Lý và Tham tán Lê Văn Đức đóng quân ở Thanh Xuyên, dò biết tướng giặc Đinh Công Tiến và Phạm Doãn Dũng, đang khốn đốn, dựa lẫn nhau, lén lút trốn ở các sách trong rừng, liền hội với Tham tán đạo khác là Phạm Văn Điển, thự Tuần phủ là Ngô Huy Tuấn chia nhau đi lùng, bắt được hơn 20 tên đồ đảng giặc; lại đi về phía sào huyệt giặc ở Cự Thắng, đào mả tổ Đinh Công Tiến. Bọn Phó vệ úy Nguyễn Văn Quyền và Viên ngoại lang Nguyễn Hữu Gia, đem thuyền binh thẳng đến đồn Vạn Bờ thuộc Đà Bắc. Lũ giặc có độ mấy chục tên. Họ bắn mấy phát súng, giặc bèn lủi trốn vào rừng. Tin ấy báo đến quân thứ Phạm Văn Lý đem việc đó tâu lên luôn thể, và nói có những tên phỉ bị bắt ở trong rừng, xét ra không có tình hình cầm khí giới chống cự ; hỏi ra thì chúng đều nói trước vì oai sức bạo ngược của Đinh Công Tiến, ức hiếp bắt theo. Nay quan quân đi tiễu, có kẻ sợ hãi chạy trốn, có kẻ định ra thú nơi quan quân. Vả lại, quân ta đánh vào tận sào huyệt giặc, luôn mấy ngày sục sạo trong núi, hủy kho chứa, đốt nhà ở, tuy tàn phá nhiều, nhưng tướng giặc còn trốn, thì mầm ác chưa tuyệt được. Nếu giết hết lũ ấy cũng vô ích cho sự việc. Huống chi nơi ấy, núi non trùng điệp, cỏ cây bát ngát. Nếu lùng bắt bằng binh lực, thế cũng khó chu. Vậy, xin hãy tạm tha cái chết cho chúng, trách cứ chúng phải bắt, giết lẫn nhau mang hiến. Ta dùng người Man đánh người Man có lẽ không đến nỗi phí nhiều sức quân. Hiện đã giữ lấy 4 người ở lại trong quân để làm con tin, còn cho về hết. Nên dẫn dụ tận mặt cho chúng biết đường họa, Phước, khiến chúng khuyên bảo lẫn nhau : nhân dịp bọn Đinh Công Tiến, Phạm Doãn Dũng đương lúc cùng quẫn, phải ra sức đuổi bắt hoặc chém mang đến quân thứ dâng nộp, và hạn cho dăm ba ngày xin cứ ở lại địa phương này vài ngày để tùy tiện trù tính làm việc rồi sẽ lại đi Đà Bắc.


    Vua dụ : "Cứ theo tình hình đã báo, thì suốt lộ Đà Bắc, giặc đã đánh hơi, trốn xa từ trước rồi. Đáng tiếc là Phạm Văn Lý, ngươi không sớm đi đánh dẹp để báo tin thắng trận, rồi sau hãy đem quân về, thế chẳng hóa ra đã có công mà không có tội ? Ngươi lại vội quay về Quỳnh Lâm ! Lẽ đâu giặc ở trước mắt, mình làm tổng thống lại tự rút quân lui về ? May là ta nghĩ đến công lao trước của ngươi, nên hãy xử nhẹ; giá thử giao xuống cho đình thần hoặc quan coi việc pháp luật xét xử thì quân luật nghiêm ngặt, ngươi sẽ phải tội gì ? Bấy giờ là muốn giữ lấy tấm thân để mưu việc hay về sau, phỏng có được chăng ? Vả lại bọn giặc ở một dải Văn Bàn, hiện nay chắc đã đánh hơi, sợ oai quân ta, trốn xa từ trước, thì công việc đánh dẹp không khó khăn tốn sức lắm. Vậy, nội trong tháng này, cốt phải quét sạch hết thảy, thì không những chuộc được tội trước, mà lại còn được ta liệu cho ơn rộng nữa. Nếu cứ như trước, không làm nên công trạng gì, quyết khó rộng tha cho ngươi được nữa.


    "Lại truyền dụ Tạ Quang Cự nên chuyên tâm lo tính một dải Sơn Âm, không phải ra đi Đà Bắc để nhọc quân sĩ !".


    Cai trạm Thanh Sơn thuộc Thanh Hoa là Lê Văn Quyền làm thư nặc danh nói sơ lược về tình trạng thứ dân các tỉnh Bắc Kỳ bị nợ riêng bức bách khổ sở. Bấy giờ nhân có ống thư do Hưng Hóa chuyển đệ, chỗ niêm phong bị rách, nhân mở xem, thấy sớ văn, hắn bỏ lộn lẫn cả bức thư nặc danh ấy vào rồi chuyển đệ đi. Khi sớ dâng lên, vua mở xem thấy, bảo Nội các rằng : "Nếu dân gian có đau khổ thì nên kêu quan sở tại phân xử. Hoặc giả có ai oan khuất bị quan tư ức hiếp, thì cứ tiền lưng gạo bị, vào Kinh đánh trống đăng văn để tố cáo. Đến như văn thư nặc danh, luật vẫn nghiêm cấm, huống chi ống trạm để truyền đệ văn thư, có quan hệ đến việc cẩn mật, sao dám ngầm bỏ lộn thư vào ! Cái thói này quyết không nên gây cho to lớn lên được. Vậy ra lệnh cho bộ Binh truyền dụ các Đốc, Phủ, Bố, án ở các tỉnh dọc đường phải hết lòng điều tra cho được kẻ phạm mà chịu tội để răn về sau này". Sau đó, quan tỉnh Thanh Hoa có hỏi được thực trạng, tâu lên. Quyền bị khép vào tội chết.


    Cầm Nhân Cẩm, đầu mục đồn Hạ Lộ, huyện Văn Chấn, Hưng Hóa, ủy thuộc hạ là Cầm Nhân Đôi đem thổ binh thổ hạ bắt được đảng giặc ngụy xưng là Trung quân Nguyễn Văn Ngũ, và cả đồ đảng 5 người ở sách Bằng La. Việc lên đến vua. Cầm Nhân Đôi được thưởng 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn và Cầm Nhân Cẩm được 5 đồng.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : "Quan quân đi đánh dẹp thổ phỉ ở Thanh Hoa, Ninh Bình, Sơn Tây và Hưng Hóa, nhiều lần, cứ như lời tâu, thì đều đã hăng hái mạnh dạn tiến lên, đánh giết dữ, đảng giặc đều trông chừng, chạy trốn, quan quân quét sạch sào huyệt giặc, nhưng vẫn chưa bắt được lũ đầu sỏ giặc ! Đến nay tiết mùa hạ nóng nực, còn phải đình lại chờ đợi chưa rút binh về ngay được. Đó là việc bất đắc dĩ, ta thật khổ tâm, sớm khuya càng thêm vất vả lo lắng. Nhân nghĩ đến quân ta, đi trận đã lâu, nhọc nhằn đáng thương. Vậy gia ân cho từ Tổng thống, Tổng đốc trở xuống đến binh lính đều thưởng cho 1 tháng lương cả tiền và gạo ; còn thổ mục, thổ binh và thủ hạ thì được một nửa. Lại vì khí nóng nung nấu, quan quân không khỏi bị nhiễm lam chướng. Nay ra lệnh thông dụ cho các quan tỉnh sở tại gọi lấy lương y, chuẩn bị thuốc thang phái đi quân thứ điều trị. Những ai mắc bệnh phải về tỉnh, cũng điều bắt về thấy chuốc chữa cho. Vua cho lấy thứ thuốc tây như rượu chống gió và dầu bạc hà, sai thị vệ mang đi chia phát".


    Bộ Hình tâu lên bản án Lưu Đình Luyện, nguyên Bố chính Quảng Ngãi.


    Lưu Đình Luyện trước kia cùng với thuộc hạ trong tỉnh ăn lễ thương nhân nhà Thanh, tự tiện giảm thuế thuyền buôn, tham tang đến hơn 180 lạng. Vua đã phái Hà Duy Phiên tra xét, giao Bộ duyệt lại, Đình Luyện bị kết án chém thường, nhưng được cho xuống tội đồ 5 năm.


    Thăng : Trần Văn Lý, Vệ úy Trung vệ dinh Thần cơ lên thự Vệ úy vệ Hữu nhất dinh Vũ lâm Tả dực ; Nguyễn Văn Hòa, Phó vệ úy Hậu vệ doanh Hổ oai, lên thự Phó vệ úy Trung nhị Hữu dực dinh Vũ lâm.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển xcv



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa hạ, tháng 5. Chuẩn định : Từ nay về sau, các tỉnh từ Khánh Hòa trở vào Nam đến Hà Tiên, hễ phái người đến Kinh triều yết, và theo lệ, những người đến Kinh được đưa vào yết kiến cùng những người Kinh khi đến lỵ sở hoặc khi trở về thì nhân việc công, đều được đi ngựa trạm. Việc này được ghi làm lệ.


    Định lệ cho Nam Kỳ và Bắc Kỳ được tích trữ chì, đồng đỏ, diêm tiêu, lưu hoàng (Phiên An, Nghệ An, Thanh Hoa, Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh đều được trữ chì 2.000 cân, đồng đỏ 1.000 cân, diêm tiêu 6.000 cân, lưu hoàng 1.200 cân. Bình Định, Vĩnh Long, An Giang đều được trữ chì 2.000 cân, đồng đỏ 700 cân, diêm tiêu 6.000 cân, lưu hoàng 1.200 cân. Biên Hòa, Định Tường, Quảng Bình đều được trữ chì 2.000 cân, đồng đỏ 500 cân, diêm tiêu 6.000 cân, lưu hoàng 1.200 cân. Quảng Nam, Quảng Ngãi đều được trữ chì 1.000 cân, đồng đỏ 500 cân, diêm tiêu 6.000 cân, lưu hoàng 1.200 cân. Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Quảng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng đều được trữ chì 1.000 cân, đồng đỏ 500 cân, diêm tiêu 4.000 cân, lưu hoàng 800 cân. Hà Tiên được trữ chì 300 cân, đồng đỏ 100 cân, diêm tiêu 1.000 cân, lưu hoàng 200 cân).


    Vua nghĩ gần đây công việc doanh tạo phiền phức nặng nề đã sớm làm xong, chuẩn cho các hạng biền binh ở Kinh, kể từ mồng 1 tháng 6, được chia ban để nghỉ ngơi (lệ trước định : kể từ mồng 1 tháng 7 mới chia ban).


    Nguyễn Công Trứ, thự Tổng đốc Hải - Yên thấy vùng Sơn, Hưng có động, làm sớ tâu xin thân hành đi đánh giặc, trong tập tâu có nói xin cho thần cầm cờ tiết để trấn thủ.


    Vua bảo Nội các rằng : "Nước nhà lúc mới chia đặt các tỉnh hạt, văn võ đều dùng cả, như lũ Đoàn Văn Trường, Nguyễn Đình Phổ đều là võ biền. Đó là dùng người tùy theo tài năng, thực là sự lo xa để trị nước, chứ đâu phải như người Tống chuyên dùng nho thần, gây nên cái hại là không mạnh lên được ? Công Trứ lấy mình là quan văn, vâng chịu trọng trách ở trấn ngoài, cho nên lấy thế làm cảm khích mà xin đi, chứ vốn không phải có ý nghĩ gì, chỉ vì dẫn lời cổ ngữ, không ngờ lời và ý có sự thiên lệch, làm kinh động người nghe, thành ra không hợp đó thôi. Vậy sai bộ Lễ truyền chỉ ban quở".


    Cho Nguyễn Công Hoán làm Đại lý Tự khanh vẫn kiêm làm công việc bộ Hình.


    Phan Bá Đạt nguyên là Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát, hết hạn nghỉ về Kinh, vẫn giữ chức như cũ.


    Triệu Bố chính Quảng Ngãi là Dương Văn Phong, thự án sát Hưng Yên là Đặng Văn Chương về Kinh. Cho Lê Nguyên Trung, Hữu thị lang bộ Lễ, làm Bố chính Quảng Ngãi ; Nguyễn Nhược Sơn, thự Lang trung Nội vụ phủ làm án sát Hưng Yên.


    Cho Vũ Xuân Cẩn, Thượng thư bộ Hình, làm Tổng đốc Bình - Phú, sai Bùi Phổ, Nguyễn Công Hoán quyền giữ ấn triện bộ Hình.


    Vua bảo Nguyễn Khoa Minh, Hiệp biện đại học sĩ, rằng : "Xuân Cẩn học ít, nhưng là người chất phác, làm việc lâu năm. Vì Bình - Phú hơi ít việc, nên cho ở đấy để y nhờ đó mà được di dưỡng.


    Thăng Hà [Tông] Quyền, Hàn lâm viện Thị độc học sĩ lên thự Công bộ Hữu thị lang vẫn sung làm việc Nội các.


    Cho Nguyễn Đình Phổ làm Tổng đốc Ninh - Thái, Đặng Văn Thiêm làm Tổng đốc Định Yên, Hoàng Văn Quyền làm Tuần phủ Lạng - Bình, Đỗ Khắc Thư làm Tuần phủ Nam - Ngãi, Lê Đạo Quảng làm Tuần phủ Quảng Yên, Đặng Văn Bằng làm Hữu thị lang bộ Lại, sung chức Thị lang Thương trường, Nguyễn Văn Bính làm Bố chính An Giang, Bùi Văn Lý làm án sát An Giang, Nguyễn Đức Hội làm án sát Quảng Ngãi, Lê Văn Lễ làm án sát Biên Hòa.


    Nguyễn Bá Thân nguyên án sát Quảng Bình, trước có tang mẹ, về làng Đông Biện (thuộc huyện Vĩnh Lộc) Thanh Hoa, để lo việc tang. Vừa khi có thổ phỉ nổi dậy, đến sách nhiễu dân lấy lương. Bá Thân lấy đại nghĩa dụ bảo người làng không cung cấp cho giặc. Rồi Quyền tạm chôn cất mẹ, đem cả gia đình lên tỉnh thành ở. Giặc oán giận, đốt cả nhà, Thân không bị hại.


    Nghe biết việc đó, vua nói : "Nếu đúng như lời người ta nói, thì người này không những có tiết tháo đáng khen, mà lại sáng suốt, biết giữ mình, có trí lo liệu trước, bèn sai Nội các truyền dụ tỉnh thần xét hỏi lại việc ấy tâu lên, đợi chỉ.


    Vua nhân bảo Phan Huy Thực ở bộ Lễ rằng : "Việc làm của Nguyễn Bá Thân có quan hệ đến phong tục không nhỏ. Đại phàm trong hương ấp có người trung tín mở bảo cho, thì lương dân sẽ không bị giặc dụ dỗ ; nếu không thì bị mê hoặc, tỉnh ngộ. Thí dụ như xã Trung Hà thuộc Hưng Hóa, trước kia đã ra theo giặc, khi giặc thua, lại chở đò và dẫn đường cho giặc. Lúc binh uy [triều đình] tỏa đến, tránh sao khỏi ngọc đá đều tan, thực đáng thương xót !".


    Vua lại nói : "Trước kia, Bá Thân mắc nhiều sai lầm, nay gặp việc lớn, lại làm được như thế. Vậy biết triều đình dùng người như thợ giỏi dùng gỗ, không nên vì một tấc mà bỏ mấy cây gỗ to vừa người ôm". Kịp đến khi quan tỉnh đem tình hình việc ấy tâu lại, vua bùi ngùi khen ngợi hồi lâu, rồi thưởng Bá Thân 100 quan tiền, chuẩn cho được nghỉ một tháng để lo việc nhà, khi hết hạn nghỉ, vào Kinh để lựa dùng.


    Định lại điều lệ chống nước lụt ở Bắc Kỳ.


    Bộ Công bàn tâu : Nha môn Đê chính đã bãi bỏ, công việc phòng đê đều do Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh quản lĩnh. Nhưng trong đó, có những sự thể không được giống như trước. Nếu cứ một mực theo chương trình trước đã định thì e làm việc có chỗ không đúng. Vậy xin châm chước định lại. Vua y theo lời tâu.


    (1. Theo lệ, công trình sửa đê, hằng năm, cứ đến kỳ nước lên, Tổng đốc, Tuần phủ xét các bờ đê trong hạt mình tuần tra theo như lệ thường. Nếu gặp công việc hiểm hóc mà quân và dân trong hạt sửa chữa không khắp, thì đều được phép phi báo cho hạt bên cạnh, vát lính và dân gấp đến hộ đê cần giữ cho khỏi lo ngại. Nếu hạt bên cạnh vì lòng phân biệt giới hạn, không chịu phái người đến giúp, hoặc chỉ làm cho nhuế nhóa, cho tắc trách, để đến nỗi hỏng việc, thì chuẩn cho cứ thực tâu hặc để truy cứu vì lý do gì, rồi phân biệt xử tội. Nếu công trình ở chỗ hai hạt giáp nhau, thì cho các Tổng đốc và Tuần phủ hội thương cùng nhau mà làm. Nếu có sự sơ suất, lầm lẫn thì phải liên đới chịu lỗi.


    2. Lệ giữ vững đê, xét công [người coi đê] và bàn thưởng. Phàm công việc đê, dùng Tổng đốc, Tuần phủ làm đốc tu, Bố chính làm giám tu. Thí dụ : Tuần phủ Hưng Yên kiêm Bố chính, thì Tổng đốc Định - Yên làm đốc tu, các viên phủ, huyện và những viên do tỉnh phái đi làm đê đều là chuyên biện, vẫn cứ theo chương trình trước mà bàn việc thăng thưởng. Đầu là đốc tu tức Tổng đốc và Tuần phủ, thứ đến giám tu là Bố chính, lại thứ nữa đến chuyên biện là các viên phủ huyện và những viên do tỉnh phái đi cùng làm. Những viên đang được bàn định thăng thưởng, đều do Tổng đốc và Tuần phủ cứ thực khai vào sổ sách, do bộ đề tấu, đợi chỉ ; sau giao cho bộ Lại châm chước phân biệt bàn định thăng thưởng. Cứ 3 năm 1 lần làm danh sách các thuộc viên hàng tỉnh và nha dịch phủ huyện, từ bát, cửu phẩm trở xuống, hễ làm việc siêng năng, được đợi ân thưởng, thì cũng do Tổng đốc và Tuần phủ kê danh sách xếp thành từng loại. Ngoài ra, đều theo lệ trước.


    3. Lệ xử tội để đê vỡ. Theo chương trình trước mà phân xử : đầu là chuyên biện, tức các viên phủ huyện và những viên do tỉnh phái ; thứ đến giám tu là Bố chính ; lại thứ nữa đến đốc tu là Tổng đốc và Tuần phủ. Những nhân viên đang bị xử ấy đều do đốc, phủ kê vào sổ sách, do Bộ đề tâu, đợi chỉ, sau giao cho bộ Lại châm chước phân biệt xét xử. Ngoài ra đều y như lệ trước.


    4. Lệ xử tội đắp đê mới không được kiên cố. Cứ theo chương trình trước, phàm đê đắp không kiên cố hợp thức về kích thước, về số lượng, thì cứ trách cứ vào những chuyên biện là phủ huyện và viên tỉnh phái đi cùng làm, luôn với các lại dịch của các tỉnh phủ, huyện theo đi làm đê. Phàm những nhân viên đã bị xét xử vì việc đắp đê không kiên cố, không hợp thức, số người ấy nhiều hay ít, là căn cứ vào sự xét hỏi của đốc phủ là đốc tu và Bố chính là giám tu, rồi do đốc, phủ kê vào sổ sách, do bộ đề tâu đợi chỉ, sau, giao bộ Lại châm chước mà phân biệt xét xử.


    Đến như đê mới đắp không kiên cố hợp thức mà phải đắp đền, thì chờ chỗ phải đắp đền xong, do các đốc, phủ tâu lên sẽ phái quan Kinh ra khám lại. Nếu quả thật đã kiên cố, hợp thức tất cả rồi, thì do bộ tâu lại, đợi chỉ chước lượng cho khai phục. Nếu đốc tu và giám tu tham hặc những quan lại chuyên biện làm đê không kiên cố, hợp thức, thì được miễn nghị. Còn ngoài ra cứ theo lệ trước mà làm).


    Đổi đội Nhất, đội Nhị, đội Tam, 3 đội trấn binh ở Vĩnh Long làm ba đội Long tráng nhất, nhị, tam. Dồn 2 đội ở kho Vĩnh Viễn và kho Trấn Thương thành 1 đội kho Vĩnh Long.


    Người Minh Hương ở Quảng Nam là Trần Vĩnh Ký kiện xã Cẩm Phố (thuộc huyện Diên Phước) về đất bãi ẩn lậu còn nhiều, xin sai khám xét đo đạc. Ty Tam pháp đem việc tâu lên.


    Vua nói : "Phàm nơi dân cư có bãi sông thì hay cày cấy ở bờ bãi. Ngày thường, ta đã đi chơi ở vùng Nguyệt Biều và Long Hồ, xem ngắm ruộng lúa, thấy bờ ruộng năm trước, có thể vừa 2 người đi, đến năm sau chỉ vừa 1 người đi được thôi. Đó cũng vì người ta ham thích trồng cấy, ruộng đất ngày một mở mang. Nếu cứ một mực khám xét, phân xử thì ngay đến bãi cát ở bên nhà lương tạ và hành cung cũng có sự di lậu, huống chi chốn khác ? Tuy rằng tội ẩn lậu ruộng đất vẫn có luật nói rõ ràng, nhưng tên Vĩnh Ký kia tố cáo lại hàm hồ thêu dệt không chỉ rõ thực số mẫu sào bao nhiêu. Há lại nên nghe lời một bên mà vội sai khám xét đo đạc làm phiền cho dân hay sao ?". Vua không chuẩn y.


    Sai các tỉnh Phiên An, Biên Hòa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang mỗi tỉnh chọn 1 đội Hồi lương thuộc tỉnh mình chuyển giao cho Hà Tiên gộp lại với đội Biên lương để dồn làm 5 đội Biên lương nhất, nhị, tam, tứ, ngũ.


    Dồn hai đội Nhất và Nhị trong Giáo dưỡng binh thuộc thành Gia Định trước làm đội Tường thiện thuộc Định Tường ; 2 đội Ngũ và Lục làm đội Long nghị thuộc Vĩnh Long ; 2 đội Tam và Tứ thì bổ sung vào 2 đội Nhị và Bát cơ Biên Hòa.


    Nước Nam Chưởng sai sứ đến cống. Sứ đến Trấn Ninh, quan tỉnh Nghệ An tâu lên. Vua sai bộ Lễ đổi định lại lệ sứ bộ tiến Kinh (Lệ trước : sứ bộ có 26 người, số được cho tiến Kinh là 1 chánh sứ, 1 phó sứ, 3 đầu mục, 1 thông ngôn, 4 lính tùy tùng, gồm 10 người. Nay đổi định lại : 1 chánh sứ, 1 phó sứ, 2 đầu mục, 1 thông ngôn, 3 lính tùy tùng, gồm 8 người. Ngoài ra đều ở lại biên cương và sẽ được thưởng).


    Bọn giặc Thanh Hoa từ phía rừng Đồi Ngang kéo đến quấy nhiễu dân xã An Lão (thuộc huyện Phụng Hóa), cướp bóc của cải đồ vật, rồi lại rút theo đường rừng.


    Vua nghe thấy, sai truyền chỉ nghiêm sức bọn Tổng đốc, Tuần phủ là Nguyễn Văn Trọng và Lê Nguyên Hy phái quân đi tiễu. Vua dụ họ rằng : "Giặc này chẳng qua ẩn núp vất vưởng, nhân chỗ sơ hở, lén lút nổi dậy, quyết không phải trên không mà rơi xuống. Tuy núi rừng rậm rạp, đường sá nhiều ngả, nhưng dân địa phương sở tại đều thuộc hơn ai hết. Vậy thì những đường mà đảng giặc đi qua, há không có một người kiếm củi, cắt cỏ, cày ruộng, chăn trâu biết đến mà báo trước hay sao ? Đó có lẽ vì quan địa phương ngày thường không sức rõ trước, khi xảy việc, đến nỗi dân theo thói cũ, chẳng quan tâm đến ? Sau khi việc xảy ra, mới đi báo quan, để cho bọn giặc được tự do đi lại đó thôi.


    "Lũ ngươi nên nghiêm sức các phủ huyện chuyển sức cho xã thôn sở tại xem chỗ tiếp giáp với rừng ở trong tỉnh hạt, không cứ là người kiếm củi, cắt cỏ, cày ruộng, chăn trâu nếu có nghe biết tin tức bọn giặc kéo đi phương nào, và từ đường nào đến lập tức phi báo gần phủ huyện thì do phủ huyện gần quân thứ thì đến quân thứ để kịp thời sớm điều quân đón đánh. Như thế thì giặc còn trốn đường nào, lập tức sẽ bị tiêu diệt".


    Dùng Nguyễn Bá Thản, Lang trung bộ Công làm án sát Ninh Bình.


    Ban văn thể tam trường ((1) Ba kỳ thi khoa Hương hoặc khoa Hội.1) cho cả trong Kinh và các tỉnh ngoài.


    Vua dụ bộ Lễ rằng : "Phép thi Hương, thi Hội trước đã từng đổi văn thể tam trường, nay nghĩ : việc sửa sang đổi mới, nên phải có bản mẫu hành văn để cho học giả dễ bề nhận xét. Vậy, ra lệnh cho Phan Bá Đạt, Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát trông coi việc ấy. Chọn các thuộc viên trong Lục bộ, Nội các và viện lấy mỗi nơi 1 người
  • Chia sẻ trang này