0060.0059

31/12/15
0060.0059
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    có khoa mục và 12 người viết chữ tốt để theo làm. Xét rõ thể văn tam trường của Bắc triều xem bài nào bình chính, thông suốt, có thể làm mẫu mực thì chọn lấy 30 bài kinh nghĩa bát cổ, 20 bài thơ ngũ ngôn và thất ngôn có nêu hai chữ "phú đắc" ở đầu, 20 bài phú luật, 10 bài văn sách, viết tinh tường thành 31 bộ, chia đưa cho Quốc tử giám và học quan các địa phương ngoài Kinh, cứ theo đấy mà dạy học trò học tập. Lại truyền lệnh tập hợp các học trò trong hạt sao chép ra”.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm Lục bộ nhận được tấu sớ, sổ sách, văn án do các địa phương gửi tới, những việc thuộc loại quan trọng, khẩn yếu, cả đến những việc tầm thường dễ làm, thì ngay trong ngày đó, phải làm phiếu đệ trình. Ngoài ra những việc không phải khó làm, nhưng còn cần được kê cứu, thì hạn trong 3 ngày. Còn loại nào số mục hơi nhiều và đáng phải tư cho các nha kê cứu, thì hạn trong 10 ngày. Nhưng nếu có sự lý khó khăn, số mục nhiều quá, thì cho được trình bày lý do, xin triển hạn thêm nữa. Những văn kiện do các bộ giao cho Nội các duyệt xét và những bản án mà đô sát Phước duyệt cũng theo lệ ấy. Nếu có kẻ nào làm trái, thì cho phép kiểm soát điều tra lẫn nhau, xét rõ duyên do để phân biệt trị tội.


    Vua đi chơi nhà Lương tạ ((1) Nhà hóng mát.1).


    Sai nha môn các tỉnh, phủ, huyện và học chính, hằng tháng, phải làm việc lưu trữ công văn.


    Trước giờ, các địa phương giữ công văn, mỗi khi có sự đổi thay nhau giữa người cũ và người mới thì mới kiểm lại, làm sổ sách bàn giao. Có khi vì kỳ hạn vội vã, chẳng kịp làm xong, trong đó có khi mất sót, không bởi đâu mà xét tra được. Đến đây, vua dụ sai các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính đến các Tri phủ, Tri huyện và Học chính đều phải căn cứ số công văn trong nha mình, theo từng ngày, tóm tắt đại lược rõ ràng ghi vào sổ. Rồi đến cuối tháng, chia loại làm thành quyển mục lục, đóng ấn triện vào, lưu giữ để việc bàn giao được dễ soạn và xong sớm. Việc này được ghi làm lệ.


    Vua bảo bộ Công rằng : "Trước đã chuẩn định quy thức ống gạt hộc và phương ban hành theo nhất luật. Nay nghĩ : 2 đầu ngang ống gạt, chỗ miệng hộc và phương ghép gỗ để đón ống gạt nếu cứ để nguyên chất gỗ thì lâu ngày bị mòn, đến khi đong ra, đong vào, không khỏi có sự chênh lệch. Vậy truyền chỉ cho các thương trường và các địa phương : cứ theo hộc, phương và ống gạt hiện nay đang dùng, phải bịt sắt 2 đầu ngang ống gạt, miệng hộc, miệng phương chỗ để hứng gạt, khiến cho bền chắc, khỏi sinh tệ hại".


    Ngô Huy Tuấn, thự Tuần phủ Hưng Hóa, đem quân và voi đi đánh thổ phỉ ở Văn Bàn. Vừa mới đến đồn Đông Quang (thuộc huyện Trấn An) thì tên nghịch quan Hoàng Kim Thịnh tự đem súng ống và khí giới đến cửa quân đầu thú. án sát Trần Ngọc Lâm được tin báo, đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Hoàng Kim Thịnh kêu gọi tụ họp dân trong châu, đánh hãm đồn Trấn Hà, mở ngục thả tù phạm, thực là một tên phản nghịch ghê gớm. Nay thấy đại binh tiến đến, hắn tự liệu thế cùng, mới chịu hàng phục, há có thể nhất khái cho là hắn biết hối tội mà vội vàng bỏ qua, không xét hỏi, khiến cho bọn quỷ quái làm trót lọt được ngón xảo quyệt của chúng hay sao ? Vậy lập tức giam vào cũi sắt, phái giải về Kinh, đợi chỉ.


    "Ngô Huy Tuấn, ngươi nên thượng khẩn đốc thúc binh dõng thu phục ngay Trấn Hà, lùng bắt hết đảng giặc, sẽ lại mưu tính những việc thiện hậu chia đặt đồn canh, cần phải mười phần chu đáo. Rồi hiểu thị cho thổ dân khiến họ được yên vui làm ăn và trách cứ thổ dân bắt nộp nếu thấy tội phạm nào còn sống. Ngươi, một mặt tâu lên, một mặt khải hoàn, để quan quân khỏi phải lâu ngày xông pha lam chướng".


    Phan Đăng Đệ, quyền nhiếp Tri phủ Lý Nhân, mật phái biền binh thuộc phủ đi tuần dò thám địa hạt xã Bút Sơn thuộc Kim Bảng. Cứ theo người tố cáo dẫn đưa bắt được tướng giặc Lê Văn Lận cùng vợ con và thân đảng nó 4 người, đem nộp.


    Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường đem việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Lê Văn Lận là tên tướng giặc trốn đã lâu năm, ngầm mưu làm việc trái phép. Khoảng mùa xuân, nó dám kết bè đảng với lũ Lê Duy Lương, Quách Tất Công, chống lại quan quân đánh hãm thành, đồn, làm phiền đến quan quân phải đi đánh dẹp. Nay sào huyệt giặc ở Sơn Âm đã bị phá tan, không còn chỗ dung thân, mới tản lạc ở nơi dân gian, bị người tố cáo bắt được. Đó vì nó tội ác đã đầy dẫy, nên phải đem đầu đến chịu chết đó thôi. Há nên vì lâu ngày mà để chậm trễ sự giết được ? Vậy lập tức giam vào cũi sắt, phái giải về Kinh, dùng hết cách mà trừng trị. Còn vợ con, và thân thuộc nó đã bị bắt, chờ án xử xong, sẽ theo đúng lý luật mà phát lạc. Người tố cáo và biền binh đi bắt đó, thì thưởng cho 200 lạng bạc".


    Lê Đại Cương, Tổng đốc An - Hà, tâu nói : Việc sửa đắp thành mới An Giang đã dần dần xong. Duy còn đường thủy đạo hiện đương khai đào một đoạn giáp Hậu Giang dài hơn 1.050 trượng.


    Nay đương mưa luôn, việc làm ruộng đang cần, vậy những dân các huyện hiện đương làm việc ở đó, hễ ngày nào xong thì xin cho họ về ngay để làm ăn. Đến như cái hào dưới chân thành và các đoạn sông đào chưa khai, xin chờ đến chính mùa đông khô ráo, hãy theo thứ tự mà làm. Vả lại, nay công việc làm thành tuy mới tạm ổn, nhưng thế cục đã thành, cơ chỉ đã định. Phàm đường lối trong ngoài ra vào cùng với chợ búa phố xá đều đã dự vạch ra trước, để cho người ta biết đến đấy ở, sớm thành nơi vui vẻ. Nếu lại trở về Châu Đốc, sợ rằng dân mới tụ họp sẽ lại tản mát nơi khác. Thần đã đem số tre chặt rồi rào giậu 4 mặt, tạm làm cái thành bằng tre, và tạm thời dựng nhà kho, công đường và nhà làm việc để tiện việc dọn đến ở. Còn tòa hành cung dựng ở Châu Đốc trước, thì gỗ lim còn dùng được, nên dỡ mang về Tân Thành để xây dựng.


    Lại nữa, huyện Tây Xuyên là kiêm lý của phủ Tuy Biên, chính Châu Đốc ở trong địa hạt ấy. Vậy, xin lấy đồn ấy dùng làm phủ lỵ để cho sự ở được hùng tráng.


    Vua đều nghe theo. Lại nghĩ : Việc đắp thành An Giang cùng các thành Quảng Nam, Hà Tĩnh và Nam Định đều thuê dân làm việc, đương lúc mùa hạ này, hoặc giả có người cảm nhiễm đến ốm. Vậy, hạ dụ sai ra lệnh cho mua nhiều các vị thuốc, sai lương y điều trị. Nếu có kẻ nào chết thì mỗi người được cấp 1 tấm vải và 3 quan tiền.


    Lê Văn Khôi, nguyên Vệ úy vệ Minh nghĩa thuộc Tả quân, làm loạn, chiếm giữ tỉnh thành Phiên An (Khôi là người dưới quyền Lê Văn Duyệt, họ công tính Nguyễn Hựu, vì phản nghịch, cho nên đổi theo họ của Duyệt).


    Khôi trước kia can vào vụ án ván gỗ đóng thuyền, bị cách chức, giao cho tỉnh Phiên An nghiêm xét. Hắn mang lòng oán giận, mưu đồ làm việc trái phép, bèn cùng với tên đồng can án là Nguyễn Văn Bột, nguyên Phó vệ úy ở Nhất vệ thuộc Tả bảo [Tả quân] bí mật tập họp bọn vệ úy ở Nhị vệ thuộc Tả bảo là Thái Công Triều, Phó vệ úy là Lê Đắc Lực, Hành nhân ty là Lưu Tín, Phó quản cơ cơ Thanh thuận là Đặng Vĩnh Ưng, anh vợ lẽ của Duyệt là Vũ Vĩnh Tiền, đội Lâm xa thuộc Tả quân là Dương Văn Nhã, đội Hồi lương là Nguyễn Văn Chắm, mà bảo chúng rằng : "Bố chính Bạch Xuân Nguyên là người hà khắc, lại là chỗ thân tín của Tổng đốc Nguyễn Văn Quế. Vụ án gỗ ván đóng thuyền là chính nó bới vạch ra, nếu không giết nó thì nó cũng hãm bọn ta vào chỗ chết. Tôi nghe nói ở Bắc Kỳ con cháu nhà Lê khởi sự xâm lược hai, ba tỉnh, đã từng có thư đến khuyên tôi ở xa hưởng ứng. Nay tỉnh thành ít quân đề phòng sơ suất. Tôi lại dụ được Quản cơ coi Tượng cơ là Nguyễn Văn Tâm, Suất đội là Nguyễn Văn Chân, chọn lấy voi chiến, phục sẵn ở ngoài, lại có Quách Ngọc Khuyến, Suất đội cơ Phiên dũng giữ cửa Hoài Lai, làm nội ứng. Nếu nhân cơ hội nổi dậy, trước hãy chém Xuân Nguyên, sau bắt Tổng đốc, án sát, Lãnh binh mà giữ lấy thành thì việc lớn có thể thành được". Mọi người đều nghe theo.


    Mưu ước đã định, đêm ngày 18, Khôi dẫn bè đảng hơn 60 người, 5 thớt voi, ai nấy cầm kiếm, lấy vải trắng quàng cổ làm dấu hiệu, do cửa Hoài Lai vào thẳng dinh Bố chính. Bạch Xuân Nguyên lén trốn được. Chúng kéo nhau đến dinh Tổng đốc. Nguyễn Văn Quế và con chống cự lại, đều bị hại cả. án sát Nguyễn Chương Đạt và Lãnh binh Nguyễn Quế ra khỏi thành, trốn thoát. Sau đó Xuân Nguyên cũng bị giặc bắt được, Khôi lại giết Nguyễn Như Xuân là quản đề lao, mở cửa tha hết tù phạm, dùng làm đảng cảm tử. Phó lãnh binh Giả Tiến Chiêm ở xưởng thuyền ngoài thành, nghe có biến, đem binh Thủy cơ và dân phu ở gần đấy sấn đến cửa thành, đánh nhau hai lần, không địch nổi, bị mấy vết thương, cũng lui chạy. Rồi cùng Nguyễn Chương Đạt phi báo cho tỉnh bên cạnh, cáo cấp. Vũ Quýnh, thự Tuần phủ Biên Hòa, đem việc tâu lên.


    Vua dụ Nội các : "Phiên An thất thủ vì phòng thủ sơ hở, đến nỗi xảy ra biến cố phi thường này, rất là kinh ngạc ! án sát Nguyễn Chương Đạt, Lãnh binh Nguyễn Quế, Phó lãnh binh Giả Tiến Chiêm, khó trốn được tội, đều trước phải cách chức". Rồi truyền dụ cho Lê Phước Bảo, thự Tổng đốc Long - Tường, lập tức liệu đem biền binh gấp đến Phiên An quyền lĩnh ấn quan phòng Tổng đốc An - Biên. Nếu quân phản nghịch đã bị giết rồi thì chuẩn cho được làm tiếp ngay công việc trong tỉnh. Nếu giặc còn đương lan tràn nhũng nhiễu thì nên gấp dập cho tắt để tỏ phép nước".


    Lại chuẩn cho "Bố chính An Giang là Nguyễn Văn Bình quyền lĩnh Bố chính Phiên An, thự Bố chính Bình Định là Nguyễn Tử Cư, quyền lĩnh án sát Phiên An. Khi tờ dụ này đến, các ngươi đều phải do đường ngựa trạm, sớm đến lỵ sở mới".


    Lại truyền dụ cho : "Bình Định phái Lãnh binh Lê Sách đem Quản cơ Định dũng là Đặng Văn Quyến và 300 biền binh ; Phú Yên và Khánh Hòa mỗi tỉnh đều 1 Quản cơ và 200 biền binh ; Bình Thuận điều Lãnh binh Lê Văn Nghĩa và 300 biền binh mau mau vào ngay Phiên An theo Lê Phước Bảo sai phái. Các quan quân đi trận ấy đều thưởng trước cho tiền lương 1 tháng".


    Điều 1 Quản cơ và 500 biền binh ở cơ Tĩnh man thuộc Quảng Ngãi đi đóng giữ Bình Định.


    Vua bảo bộ Binh : "Lính đội Hồi lương đều là những kẻ tù tội, ta không cho giết mà tha, nay chúng lại táng tận lương tâm, đồng mưu làm loạn, thì ta phải đánh không tha, rồi chúng sẽ bị dập tắt ngay. Vả lại, từ ngày ta cầm chính quyền đến nay, thực lấy làm khổ tâm đối với một việc dùng người. Nếu bảo rằng sự biến xảy ra là vì để cho văn quan chuyên coi công việc ở ngoài thì Nguyễn Văn Quế xuất thân là võ tướng, đánh quen trăm trận, há phải là văn thần đâu ? Nếu bảo là thiếu niên tân tiến, chưa từng trải nhiều, thì Nguyễn Văn Quế già đời đi trận, nay tuổi đã ngoài 70, há phải thiếu niên đâu ? Thân làm quan to, coi giữ bờ cõi, thế mà không biết đề phòng trước, để xảy ra cuộc biến lớn này ! Ta nửa đêm nghĩ đến lấy làm bất bình lắm ! Cũng may đã chia đặt ra tỉnh hạt : hạt nào có biến, thì có hạt khác sách ứng. Đó cũng là một kinh nghiệm chia tỉnh là có lợi.


    "Duy Phiên An ngày nay bị giặc chiếm giữ, thì ấn quan phòng Tổng đốc và Bố chính còn hay mất, chưa thể biết được. Nên truyền dụ cho tỉnh thần Biên Hòa : hễ tiếp được công văn của Phiên An ruổi ngựa đưa đến, khi phát giao cho trạm, phải nên xét nghiệm cho kỹ hễ có ấn triện quan phòng, nếu thật chính xác, mới cho đi, để khỏi lỡ việc".


    Giặc giết Bố chính Phiên An là Bạch Xuân Nguyên. Khi giặc Khôi mới bắt được Xuân Nguyên, dẫn bè đảng đến nhà riêng Lê Văn Duyệt, bảo vợ Duyệt là Đỗ Thị Phẫn rằng : Ngày thường Duyệt và Xuân Nguyên vốn không có hiềm thù gì, vậy mà Xuân Nguyên hà khắc, bới vạch việc đã qua, lại nói không khai quật được xương mồ Duyệt lên thì không thôi ! Bọn chúng là thuộc hạ, không sao nhịn được. Biến cố ngày nay là vì Xuân Nguyên mà ra. Xin lấy mỡ Xuân Nguyên đốt tế Duyệt để hả giận.


    Đỗ Thị Phẫn khóc nói : "Làm thế chắc sẽ đắc tội với triều đình, mà mộ Duyệt cũng sẽ bị khai quật !".


    Khôi bỏ đi, dẫn Xuân Nguyên và thuộc hạ là Nguyễn Trương Hiệu đem chém (Trương Hiệu, người Thanh Hoa. Năm trước, phát giác vụ án nghịch phạm Nguyễn Văn Thuyên ((1) Thuyên, con Tiền quân Thành, vì làm một bài thơ, trong có câu "Thử hồi nhược đắc sơn trung tể, tá ngã kinh luân chuyển hóa cơ" mà hai cha con đều bị chết !1) được thưởng, sau ngụ ở Gia Định, làm môn khách của Bạch Xuân Nguyên).


    Vua bảo Nội các : "Trước giờ, những tù phạm bị giam cầm phần nhiều nhân sự canh phòng sơ hở mà vượt ngục, sinh ra nhiều việc lôi thôi, thường thường nổ ra những án như vậy. Nay, các hạt giải tù phạm về Kinh phần nhiều đã có sắc sai bộ Hình chuyển sức cho Kinh doãn gia tâm đề phòng. Vậy mà hôm trước, ta sai người đi thám, thấy trong lao tù có kẻ đem theo đồ sắt nhọn, thậm chí có kẻ đem cả dụng cụ thợ rèn vào nhà ngục nữa ! Vì thế đã phạt trượng và quở trách bọn đề lao và điển ngục, còn bộ Hình và Kinh doãn thì đều giáng chức và phạt để răn. Vậy khá thông dụ cho các địa phương ở ngoài phải nghiêm sức đề phòng, nhất thiết không để cho thân nhân tù phạm đem đồ sắt trà trộn vào nhà giam, hoặc đến nỗi có khi xảy ra chuyện gì, thì bị lỗi không nhỏ".


    Bộ Hộ tâu nói : "Các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, binh mộ phần nhiều là người từ Quảng Bình trở vào Nam so với người trong hạt hay hạt bên đến ứng mộ cũng có khác. Nếu nhất khái cứ theo lệ lương của mộ binh ở Nam Kỳ, thì tiêu dùng không đủ. Vậy xin : Phàm binh lính các cơ đội chiêu mộ ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam : hạng thường xuyên thì hằng tháng được cấp tiền 1 quan, gạo 1 phương ; nếu là hạng đã phân ban thì đình cấp tiền lương. Lại nữa, thú binh ở Thừa Thiên và các đồn bảo ven biên giới các hạt Bắc Kỳ, gián hoặc có biệt trại và đồn lẻ, việc công không nhiều lắm, nếu cứ nhất khái theo lệ lương của lính thú ở biên giới Nam Kỳ, thì e không có sự phân biệt. Vậy xin : Phàm giản binh và mộ binh ở các hạt nếu có những người được phái đi đồn ải biên cương để đóng giữ mà chốn ấy thực có lam chướng nặng nề thì mới chuẩn cho hằng tháng cấp tiền 1 quan, gạo 1 phương. Nếu không, thì không ở trong lệ này. Còn các hạng binh lính khác từ Thừa Thiên trở ra đến các tỉnh Bắc Kỳ, chỉ trừ 3 đội Thuận An nhất, nhị, tam ở Thừa Thiên, cứ theo lệ cũ, hằng năm cấp cho 200 phương gạo. Còn ngoài ra, binh lính, kẻ chăn voi trong Tượng cơ cùng cả binh lính các cơ đội giản binh hoặc mộ binh và những tù phạm được dồn bổ làm lính, những kẻ bị án xử làm lính đến các lính lệ phủ huyện, thì lương tháng tiền và gạo đều y theo lệ ở Nam Kỳ mà làm. Lại còn ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, thuộc binh của các Đốc, Phủ, Bố, án, Lãnh binh, Quản phủ cho đến các Quản vệ, Quản cơ, Suất đội, hằng tháng chỉ cấp lương 1 phương gạo. Duy ai được phái đi việc binh thì hằng tháng được cấp tiền 1 quan, gạo 1 phương. Đến như tỉnh hạt Quảng Trị, Quảng Bình thảy đều yên ổn, thì thuộc binh ở đó đều nên theo lệ lương mới định cho các tỉnh Nam Kỳ. Viên quan nào nguyên ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc mà được thăng chức, đổi đi, thì những người đem theo mới được chi lương. Lệ này bắt đầu thi hành từ mồng 1 tháng 6 năm nay. Các thủ hạ, thổ hào và thổ dân lệ thuộc các đồn trong châu ở các tỉnh hạt Sơn Tây, Bắc Ninh, Quảng Yên, Cao Bằng, Tuyên Quang và Hưng Hóa xin để cho quan địa phương xét kỹ tình hình : địa thế hiểm hay dễ, công việc nhiều hay ít, hoặc đáng chi lương, hoặc nên thôi cấp, và nên đổi định lại danh hiệu chức sắc thế nào, xét cho thỏa đáng và tâu lên".


    Vua chuẩn y lời bàn.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm các văn quan thăng lệ ở Kinh và ngoài các tỉnh nên cho nửa lương, tiền chưa đầy 1 quan, gạo chưa đủ 1 phương, thì chuẩn cho cấp lương tháng tiền 1 quan, gạo 1 phương. Những hậu bổ, Cử nhân, Giám sinh đã từng làm thí sai hay quyền thự mà lại triệt lưu hậu bổ, thì cũng cấp cho như thế, không nên cấp lương nguyệt lẫm như cũ (lương nguyệt lẫm : tiền 3 quan, gạo 3 phương).


    Triệu Tôn Thất Bằng, thự Thống chế Thần sách Hữu dinh về Kinh nhận chức. Bằng, trước đây đi Hà Tĩnh đốc suất công việc xây thành, đến nay đã gần xong, cho nên triệu về.


    Bố chính Nghệ An là Nguyễn Đình Tân, án sát Vũ Đĩnh tâu xin lại phái biền binh dinh Thần sách đến thay đóng ở phủ Trấn Ninh.


    Vua dụ : "Trấn Ninh cũng là một đất quan trọng. Từ trước đến nay, đã chuẩn cho phái binh thay nhau đến đóng giữ để cho nghiêm việc phòng bị. Trước kia, ta nghĩ địa hạt phủ ấy có nhiều lam chướng, lại gặp giữa mùa hạ nóng nực, nên có chỉ cho biền binh phái đi trước, 1 tháng rút về, không cần phải thay lớp khác nữa. Nhưng thổ phỉ ở Thanh Hoa, Ninh Bình chưa bắt được hết, hoặc còn trốn tránh sống lén lút ở đấy, nên cũng phải sẵn sàng phòng bị. Bọn ngươi nên phái 2 Suất đội và 100 biền binh đến thay để canh phòng trong 2 tháng. Ân thưởng cho 2 tháng tiền lương và cấp phát cho nhiều thuốc men mang theo để dùng".


    Trong Kinh kỳ ít mưa.


    Tên Phủ Pháp, tù trưởng sách Man Bôn Tai thuộc Thạch Thành nguyên tỉnh Phú Yên tụ tập nhiều người Man, giết hại dân buôn, cướp của rồi đi. Thự Tuần phủ Nguyễn Công Liêu lập tức phái quân và voi thuộc tỉnh tiến đến đàn áp. Việc đó đến tai vua. Vua dụ : "Tụi Man quèn này tự mình làm hại mình, chỉ mau đi đến chỗ phải tội. Ngươi, Nguyễn Công Liêu, có trách nhiệm một địa phương, phải nên tìm cách lùng bắt, hoặc dụ các trại man ra sức nã bắt kẻ phạm. Nếu làm không khéo để xảy ra nhiều việc, thì chỉ trách cứ vào ngươi".


    Binh thuyền của bọn Nguyễn Văn Quyền, Phó vệ úy đạo Hưng Hóa và Nguyễn Hữu Gia, Viên ngoại lang, đang đóng quân ở phận sông Vạn Bờ, có lũ giặc từ động Hào Tráng kéo lại ; hoặc dựa vào vách đá, hoặc nấp trong rừng rậm từ trên cao bắn xuống. Quân ta bắn lại, mãi đến chiều, giặc mới lui.


    Khi có tin báo đến, Tổng thống Phạm Văn Lý, Tham tán Lê Văn Đức lập tức liệu để biền binh đóng giữ địa đầu Bất Bạt, và gấp tư ngay cho đạo binh Phạm Văn Điển dời đến đóng ở Tu Vũ để chặn giặc lủi ở Thanh Xuyên. Rồi chia quân thủy, lục đều tiến. Khi đến Vạn Bờ, giặc đã trông chừng trốn trước cả, bọn Lý bèn đóng binh ở đấy. Làm sớ tâu lên, có nói : Biền binh trước kia ở Thanh Xuyên, chia đường lùng bắt giặc : khi lên núi rừng thì phát gai, đốn cây ; khi qua khe suối thì phải cốn bè, bắc cầu, cảm nhiễm lam chướng, dồn dập nhọc nhằn, thành ra nhiều người mắc bệnh. Kịp khi tiến đánh Đà Bắc, đường bộ phải leo núi mà đi, đường thủy phải ngược dòng mà tiến, đường sá hiểm trở, chậm trễ hàng tuần, thế mà vẫn chưa bắt được tướng giặc để đem xử án.


    Vậy thành khẩn xin gia hạn thêm cho để được hết lòng lo tính, mong sẽ làm được xong việc.


    Vua phê bảo rằng : "Xem tờ tâu, thấy quan quân hết sức khó nhọc, xông pha lam chướng, lùng giặc tận trong núi sâu, chẳng từ mệt nhọc, ta sao nỡ còn quở trách nữa ! Duy chưa bắt được đầu sỏ giặc, khó bảo là đã thành công. Bọn ngươi còn một ngày chưa được nghỉ tay, thì ta cũng còn một ngày không được yên lòng. Các ngươi đều nên ngước thể lòng ta. Trong các quan quân, nếu ai lăn lội nguy hiểm mà xuất sắc nhất, thì nên tùy việc khen thưởng để yên ủi lòng sĩ tốt đã cố gắng trổ sức".


    Lệnh truyền các tỉnh Bắc Kỳ : Phàm những tù phạm quân lưu đáng phải phát phối đi các tỉnh từ Biên Hòa trở vào Nam thì lập tức đình chỉ lại. Nếu trót đã giải Kinh rồi, thì chuẩn giao cho ngục thất Thừa Thiên, nếu chưa giải đi, thì cứ giam lại cấm ở ngục, chờ sau xuống chỉ sẽ thi hành.


    Bộ Hình nhân đó tâu rằng : Bắc Kỳ giải đến hơn 190 tù phạm, nếu để lại ở ngục Thừa Thiên, sợ có điều không tiện. Vua bèn sai châm chước đổi phát phối đi các địa phương từ Bình Thuận trở ra đến Thanh Hoa.


    Vũ Quýnh, thự Tuần phủ Biên Hòa, tâu nói : "Các viên tỉnh phái là Trần Văn Khanh, Quản cơ cơ Biên hùng ; Nguyễn Văn Khiển, Suất đội Tượng cơ, đem binh và voi đi Phiên An ứng cứu đánh dẹp, mới đến Trung Thôn, huyện Bình Phú thuộc tỉnh, thì vừa gặp Phó lãnh binh Giả Tiến Chiêm chạy đến, đóng quân ở đó. Hỏi ra biết rằng Phiên An cùng các tỉnh, phàm các hiệu kho, các hiệu thuyền và voi thuộc thành Gia Định trước đều bị giặc Khôi cướp đoạt cả. Bọn lính Bắc thuận đào ngũ và lũ côn đồ theo giặc ngày một nhiều, thanh thế giặc càng lớn. Vả lại, binh lính có ít, không lấy đâu phái thêm được. Hiện đã để lũ Trần Văn Khanh lưu lại, đóng giữ địa phận, đốc sức quân và dân đóng đồn ở bến đò Bình Đồng, Đông Thôn. Lại phái Phó quản cơ Ngô Văn Hóa coi quản binh thuyền đến ngã ba sông Nhà Bè để chặn đường giặc đến. Lại thông báo cho các tỉnh Bình Thuận, Định Tường phái binh đến tiếp ứng, chờ binh 2 tỉnh đến sẽ hợp lực để tiến đánh".


    Vua dụ rằng : "Từ nay, phàm việc đánh dẹp và dò thám được tình hình giặc, chuẩn cho cứ 3 ngày 1 lần đệ tâu bằng cách tối khẩn. Nếu là việc quan trọng khẩn yếu, lập tức phi ngựa đệ vào tâu lên, để đỡ mong mỏi".


    Vua lại dụ đình thần rằng : "Tướng giặc Lê Văn Khôi tội ác đã đầy, thần và người đều giận. Nếu đại binh đều tập hợp lại thì nó khác gì hồn cá lượn lờ trong đáy nồi, chẳng bao lâu, thế tất sẽ bị diệt hết. Vậy, khá truyền chỉ cho bọn 2 viên Tổng đốc Long - Tường, An - Hà và Tuần phủ Biên Hòa lập tức phải thân đốc quan quân ra sức hội tiễu, cốt phải sớm bắt hoặc chém cho được giặc Khôi và bè đảng nó, thu phục tỉnh thành để cho dân được yên ổn.


    "Lại hiểu dụ cho văn võ, quân dân biết : Việc này xảy ra đột ngột, phàm hễ ai có lương tâm, thì đều để chí căm thù. Vậy phải nên thân họp hương dõng sở tại, đón chặn bốn mặt đường thủy, đường bộ, đừng để một tên giặc nào chạy thoát. Ai bắt hoặc chém được tên nghịch Khôi sẽ thưởng cho 1.000 lạng bạc ; bắt được bè đảng giặc, cũng được trọng thưởng.


    "Lại truyền dụ cho Lê Phước Bảo chọn lấy 500 dân đinh cường tráng ngoại châu thành Phiên An, gọi là đoàn dõng, đều miễn thuế thân, tạp dịch, cấp cho khí giới, để lệ thuộc quan quân canh giữ tỉnh thành".


    Đổi bổ Hoàng Văn Minh, án sát Quảng Nam làm án sát Phiên An ; Trương Văn Uyển, thự Lang trung bộ Hình làm án sát Quảng Nam ; Nguyễn Tử Cư, thự Bố chính Bình Định, quyền lĩnh án sát Phiên An rút về Bình Định để cung chức.


    Nguyễn Trọng Vũ, thự Hữu tham tri bộ Binh bị miễn chức. Dùng Nguyễn Trung Mậu, Hữu tham tri bộ Công làm Hữu tham tri bộ Binh.


    Vua bảo Nội các rằng : "Bọn phỉ bị tù ở Phiên An nổi loạn, Nguyễn Chương Đạt thân làm án sát, không nã bắt được thì có tình ý gì không, cũng chưa biết được. Nguyễn Trọng Vũ là anh ruột Chương Đạt, há nên để cho tham dự công việc cơ mật trung ương ? Vậy hãy cho thôi việc bộ để nghe xem đã. Dùng Mậu thay vào".


    Sai quan phần việc theo đúng cách thức, đúc lại ấn quan phòng Tổng đốc An - Biên, ấn triện và dấu kiềm bằng ngà cho Bố chính, án sát Phiên An, ấn quan phòng và dấu kiềm bằng gỗ cho Lãnh binh và Phó lãnh binh [Phiên An] làm hơi khác nhau một, hai nét chữ để rồi ban cấp.


    Cho thự Phó vệ úy vệ Trung nhị Hữu dực dinh Vũ lâm là Nguyễn Văn Hòa, thự Phó vệ úy Trung vệ dinh Tiền phong là Mai Công Ngôn làm Vệ úy, trật Tòng tam phẩm, đều sung làm Phó lãnh binh Phiên An, đem đội Thường trực lục thuộc vệ Cẩm y và 2 đội Ngân sang nhất, nhị cùng các biền binh của Phiên An và An Giang đang giải đồ vật vào Kinh, phải chia nhau ngồi 16 chiếc thuyền ô, thuyền lê, đi vào Phiên An để theo Lê Phước Bảo quyền Tổng đốc, đi bắt giặc.


    Vua lại cho rằng các đội Thường trực và Ngân sang vốn là binh Gia Định lựa vào đã hơi quen kỷ luật trong quân, nên dụ sai : khi có khuyết suất đội, thì lấy đội trưởng bổ sung, có khuyết đội trưởng thì lấy binh lính cường tráng và thâm niên bổ sung vào.


    Vua dụ bộ Binh rằng về các loại biền binh ở Kinh trước đã có chỉ cho đến tháng 6 chia ban về nghỉ ngơi. Nay Nam Kỳ có việc, chính là lúc sai phái đương bận rộn, nên hãy cứ cho lưu lại tại ngũ ở Kinh. Duy 2 vệ Nhất, Nhị thuộc Tả bảo trước đã đồn thú lâu ngày ở Gia Định, gần đây lại phải tập hợp làm việc vất vả, thì chuẩn cho đến ngày 1 tháng 6 được về nghỉ ngơi.


    Dùng Lê Sách, Lãnh binh Bình Định, làm Lãnh binh Phiên An, chuẩn cho trước phải do đường trạm, đến hội đồng với quan quân Biên Hòa để tiến đánh.


    Lại ra lệnh cho Bình Định đòi hết số biền binh ở cơ Định dũng đang hạ ban nghỉ ngơi phải tiếp tục đi đánh. Bình Thuận cũng phái thêm 200 biền binh đi tiếp ứng.


    Sai thị vệ đi thúc giục các quan quân được phái đi của các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận phải chạy đi gấp đường cho nhanh chóng. Rồi thị vệ lại gấp đến Phiên An dò xét tình hình giặc, về tâu.


    Cho Nguyễn Văn Thị, Vệ úy ở Tam vệ, Kinh tượng, sung làm Lãnh binh Biên Hòa, chuyên coi các Tượng cơ của Biên Hòa và Phiên An, hội với quan quân các đạo để đánh giặc. Sai chọn thuộc hạ lấy 50 người cưỡi ngựa giỏi và 2 viên Suất đội theo đi để sai khiến.


    Rút binh thuyền tuần dương từ Quảng Nam đến Biên Hòa trả về hàng ngũ.


    Triệu Nguyễn Văn Trọng, quyền Tổng đốc Thanh Hoa và Hà Duy Phiên, Tham tán, về Kinh. Vua thấy thổ phỉ Thanh Hoa gần đây thua vỡ, quan quân chỉ tìm bắt chứ không phải đánh dẹp, đã có Nguyễn Khả Bằng và Nguyễn Đăng Giai đủ để làm việc ấy, cho nên triệu bọn Trọng về. Sau đó thưởng gia quân công mỗi người 1 cấp.


    Lại truyền dụ bọn Trương Văn Hậu, quyền Lãnh binh Thanh Hoa ; Trần Văn Lộc, Lãnh binh Sơn Tây ; Nguyễn Văn Phong, Lãnh binh kiêm Thủy sư Nam Định đều về Kinh, Thủy sư Lãnh binh Hà Nội là Tôn Thất Chung cũng rút về tỉnh.


    Thưởng cho các trạm từ trạm Thừa An trở ra Bắc đến trạm Sơn Quang thuộc Sơn Tây mỗi đội trạm được 2 quan tiền và mỗi lính trạm 1 quan tiền. Từ trạm Thừa Nông trở vào Nam đến trạm Phiên Tân, mỗi trạm đều thưởng 20 quan tiền. Vì cớ phải vất vả nhọc nhằn về việc chạy trạm báo tin quân sự ở Nam - Bắc hai kỳ.


    Sai quan phần việc chế tạo cho Thảo nghịch Hữu tướng quân và Tham tán đại thần mỗi người 1 thẻ kim bài, 1 lá tướng kỳ cho Thảo nghịch Hữu tướng quân (dùng thứ đoạn lông, trong đỏ, ngoài vàng), 1 lá tướng kỳ cho Tham tán đại thần (dùng thứ trừu lông, trong đỏ, ngoài xanh), 5 lá cờ ngũ hành (dùng thứ trừu lông 5 sắc), 5 lá cờ quân lệnh (dùng thứ nhiễu hồng, viền đoạn), 5 bài ngà quân lệnh (mặt trước khắc 5 chữ "Thảo nghịch Hữu tướng quân", mặt sau khắc 2 chữ "Quân lệnh") và 1 ấn quan phòng bằng bạc, 1 dấu kiềm bằng ngà cho Tuần phủ Phiên An.


    Bộ Hộ bàn xin từ nay, phàm các hạt, theo lệ, nộp thuế bạc, thì hộ đứng nộp phải nộp bạc ròng, không câu nệ là bạc đĩnh cũ hoặc bạc đúc mới nếu đủ tuổi cũng đều cho nộp. Gián hoặc có người xin nộp thổ ngân thì phải xét nghiệm là bạc thật, đủ tuổi, không pha lẫn tí gì, mới được theo lệ nhận thu. Kẻ nào dám quay quắt xoay xở trong việc này, sẽ bị nghiêm trị theo pháp luật.


    Vua y theo.


    Cho Hoàng Văn Đản, viên bị cách, được khai phục làm ngạch ngoại Tư vụ bộ Lễ.


    Trước kia, Đản vâng mệnh đi sứ, phạm lỗi, bị cách chức phải phái đi làm việc trên đường biển để chuộc tội ; đến bây giờ, xong việc công trở về, lại được dùng.
  • Chia sẻ trang này