0060.0063

5/1/16
0060.0063
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Lãnh binh Phiên An mới bổ là Lê Sách từ Bình Định kế đó cũng đến hội bàn việc quân. Vũ Quýnh cũng đem cả việc tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Quan quân hăng hái tiến công, đánh phá đồn giặc, thu phục được tỉnh lỵ, xem tờ tâu, khôn xiết vui mừng. Vũ Quýnh trước bị cách lưu, lập tức cho được khai phục, thưởng thêm 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, Lê Văn Nghĩa được thưởng 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, và được ngân tiền hạng lớn và nhỏ mỗi thứ 10 đồng. Tôn Thất Gia được 1 đồng kim tiền hạng nhỏ, 10 đồng ngân tiền hạng lớn, 5 đồng ngân tiền hạng nhỏ. Các phái viên khoa đạo theo đi trận là Phạm Duy Trinh và Lê Đức Tiệm cùng các viên phủ huyện cho đến các trạm mục đều được thưởng ngân tiền có thứ bậc khác nhau. Ngoài ra các binh, dõng, lính trạm và người Man, thưởng chung 1.000 quan tiền. án sát Lê Văn Lễ trước bị cách lưu vì tội thất thủ, nay cũng cho được khai phục".


    Tên Phạm Văn Thự theo giặc đã bị bắt, lập tức chém đầu rao trong quân chúng, để làm gương răn cho những kẻ không giữ đạo làm tôi. Trong những binh đinh đã bị bắt sống ai là kẻ cam tâm theo giặc, cầm khí giới chống lại quan quân, thì lập tức trị tội, ai bị cưỡng ép theo giặc thì tha ra. Lại chuẩn cho : Phàm kẻ nào đã tòng quân để gắng sức chuộc tội, mà ra trận lại sợ hãi chùn lại thì lập tức chém để rao trong quân.


    Vả lại, nay tỉnh lỵ hiện đã thu phục, khí thế quan quân mạnh gấp trăm lần, đảng giặc tan vỡ, thế tất không khỏi ngầm tính những việc báo thù. Lũ ngươi, Vũ Quýnh, Lê Sách và Lê Văn Nghĩa phải nên thiết lập đồn lũy cho kiên cố ở ngay tỉnh lỵ và phía đối ngạn Bình Đồng, chia phái binh, voi và thuyền để phòng giữ, đứng trước ở nơi không thể thua, rồi liệu cơ mà làm để chờ đại binh tiến đến hội lại đánh dẹp. Như thế, thì có thể đánh một trận bắt được giặc, đại công mới thành được.


    Lại dụ Tổng đốc Long - Tường là Lê Phước Bảo và Tổng đốc An Giang là Lê Đại Cương rằng : "Quan quân Biên Hòa nay đã giết tan đảng giặc, lấy lại được tỉnh lỵ, mũi nhọn của quân lính chính đương mạnh mẽ sắc bén, đang mưu đồ tiến đánh. Binh, voi và chiến thuyền do các tỉnh và Kinh đô phái đi có thể hẹn ngày đến được Biên Hòa. Bọn ngươi nên chỉnh đốn chiến thuyền, đốc thúc quân lính đến thẳng Phiên An hội tiễu. Lại truyền dụ cho bọn vua, quan nước Chân Lạp đều biết để họ được yên tâm đừng nghe tin đồn trước mà trong lòng hoang mang sợ hãi".


    Sai Khánh Hòa, Bình Thuận vận chuyển súng ống, khí giới đến Biên Hòa (Khánh Hòa 20 cỗ súng thần công, súng máy đá ; Bình Thuận 10 hoặc 15 cỗ súng thần công và súng quá sơn), chia đặt đồn lũy để nghiêm việc phòng thủ. Lại sai Thị vệ mang ngân tiền Phi long (500 đồng hạng lớn, 400 đồng hạng nhỏ), đến giao cho quân thứ Vũ Quýnh, Lê Sách.


    Sai án sát Phiên An mới bổ là Hoàng Văn Minh, khi đi đến Biên Hòa, lập tức hiệp cùng thự Tuần phủ Vũ Quýnh, trù biện quân nhu, lương thực và mọi cơ nghi đánh dẹp, chờ bình xong giặc sẽ lại đến Phiên An cung chức.


    Lại sai Tả thị lang bộ Hình Đoàn Khiêm Quang đi gấp đến Bình Thuận, hội cùng thự Tuần phủ Hoàng Quốc Điều, trù biện mọi việc thúc lính vận lương.


    Điều 200 biền binh, Khánh Hòa, 500 biền binh Quảng Ngãi gấp đến Biên Hòa, theo lệnh sai phái của Vũ Quýnh và Lê Sách. Lại sai Bình Thuận chở đến 1.000 cân thuốc súng.


    Vua bảo Nội các rằng : "Yến sào có tính chất làm sáng mắt, mát ruột, giải nhiệt, bổ khí huyết, rất tốt trong mùa hạ. Vậy, sai Thị vệ đem đi 1 cân [yến sào] thưởng cho Tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng, đến các tướng, nếu ai mắt đỏ, ruột nóng, khí suyễn thì nên dùng. Lại cho lấy nhân sâm Cao Ly của vua dùng thưởng cho tướng quân 3 chi, tham tán 2 chi".


    Thanh Hoa, trước đây, vì có lụt, giá gạo vọt cao. Chuẩn cho thóc gạo thuế mùa hạ năm nay và số thuế năm trước còn thiếu đều cho nộp bằng tiền.


    Chưởng cơ sung Lãnh binh Thanh Hoa là Nguyễn Văn Cẩn bị giáng nhiều cấp. Chuẩn cho xuống làm Phó vệ úy chư quân, hàm Chánh tứ phẩm, bắt về hưu trí.


    Dùng thự Thành thủ úy Thanh Hoa là Nguyễn Tiến Tá làm Phó vệ úy Quảng võ dinh Thần sách.


    Làm bài ngà cấp cho khoa đạo tuần tra các tù phạm.


    Đi tuần tra khắp các tù phạm ở các nơi như vệ Cẩm y ty Trấn Phủ và ngục thất Thừa Thiên. Nếu có nơi nào giam cấm không đúng phép, hoặc xét thấy quan lại, và kẻ giữ đề lao có những tệ hại ăn hối lộ, thả lỏng tù thì phải tham hặc.


    Bộ Công căn cứ vào sự trù tính của Hà Nội về kích thước chiều dài, chiều ngang và các thanh gỗ, lưu dùng làm xe đặt đại bác, chuyển tư cho Thanh Hoa tìm mua.


    Vua nghe biết việc đó, bảo Nội các rằng : "Gỗ làm xe súng : dài, ngắn, lớn, nhỏ đều có thể châm chước dùng được, thế mà lại câu nệ định ra tấc thước ngang dọc, chẳng hóa ra làm cho giá gỗ cao vọt lên ư ? Vậy truyền Chỉ nghiêm quở rồi thông dụ cho Bộ, Viện và các nha từ nay nếu có những việc nên làm đại loại như thế thì nên để ý trù tính kỹ, nếu cứ làm tràn, không có ý kiến khả thủ gì, làm uổng phí công sức, tất sẽ giao cho đình thần nghiêm ngặt nghị tội".









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển xcviii



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa hạ, tháng 6. Cho Phan Văn Thúy làm Hậu quân Đô thống chưởng phủ sự.


    Định rõ số lượng và màu sắc cờ hiệu cho các chiến thuyền và các quân cơ của năm tỉnh lớn ở Bắc Kỳ.


    Thự Tổng đốc Hải - Yên, Nguyễn Công Trứ tâu nói : "Cơ Chính võ và 2 cơ : Tả thủy, Hữu thủy thuộc tỉnh cùng các hạng thuyền Điện hải, Hải đạo, Ô, Lê, Sam bản do Nhà nước cấp đều chưa có cờ hiệu. Xin chi của kho chế cờ để cấp cho".


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Quân đội có cờ, là để làm hiệu lệnh chỉ huy mà nghiêm chỉnh hàng ngũ. Đó là thứ rất cần dùng cho quân đội. Năm trước, đã từng chuẩn định : Ngũ quân Bắc Thành trước, mỗi cơ 1 lá cờ vuông, 40 lá cờ đuôi nheo. Sau đó chia đặt các tỉnh hạt, thì 5 quân ấy chia ra lệ thuộc vào 5 tỉnh lớn, số cờ hiệu đã cấp cũng đều mang theo. Nay, Nguyễn Công Trứ đem việc cờ hiệu của các quan quân chưa từng chế cấp, kêu xin cấp thêm. Nhân đó ta nghĩ : Các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây cũng có việc giống như vậy, theo lời bàn trước, mỗi cơ 40 cờ đuôi nheo, nay đổi định lại mỗi cơ 20 lá. Cơ Thiện võ Hà Nội, Thủy cơ Hà Nội, cơ Tráng uy, 3 cơ Trung, Tả, Hữu Nam Định, cơ Chính võ, 2 Thủy cơ tả, hữu Hải Dương, cơ Võ dũng Sơn Tây, cơ Cự uy Bắc Ninh, đều được chế cấp cho mỗi cơ 1 cờ vuông, 20 cờ đuôi nheo, rồi ở mặt cờ, góc, diềm cờ có viền các màu sắc để phân biệt (cơ Thiện võ Hà Nội, mặt cờ trong sắc vàng, ngoài biên, màu lam. Thủy cơ Hà Nội, mặt cờ trong vàng sẫm, ngoài vàng nhạt. Cơ Tráng uy Nam Định, mặt cờ trong hồng, ngoài lam. Cơ Trung thủy : mặt cờ, vàng sẫm. Tả thủy : trong xanh sẫm. Hữu thủy : trong sắc trắng, ngoài đều đại hồng. Cơ Chính võ Hải Dương : mặt cờ, trong xanh sẫm, ngoài lam. Cơ Tả thủy : mặt cờ, trong xanh nhạt. Cơ Hữu thủy : trong màu trắng, ngoài đều màu quan lục. Cơ Võ dũng Sơn Tây : mặt cờ, trong sắc trắng, ngoài hồng. Cơ Cự uy Bắc Ninh : mặt cờ, chính giữa dùng thêm một mảnh hồng, nếu cờ vuông, mảnh vuông 6 tấc, nếu cờ đuôi nheo, mảnh vuông 5 tấc, để cho khác với quân bộ).


    Kết hợp dùng trừu ta, vải, lụa cùng các cơ 5 quân cũng thước, tấc dài, rộng như nhau, do bộ vẽ mẫu đưa đến.


    Đến như các sắc thuyền hiệu đã có cờ Thủy cơ đủ để dùng rồi. Duy các thứ thuyền Điện hải, Hải đạo, chế cấp cho mỗi thuyền 1 cờ vuông. (Dài 3 thước 8 tấc, ngang 2 thước 5 phân. Thí dụ như Nam Định thì mặt cờ đen viết 2 chữ "Nam Định". Các tỉnh khác cũng như thế. Tất cả đều dùng trừu, lụa, trong sắc vàng, ngoài sắc đại hồng).


    Khi có việc, phóng thuyền đi thì ở về phía lái thuyền kéo cờ để làm tín hiệu. Còn các thuyền Ô, Lê, Sam bản, cơ nào, vệ nào ngồi thì đem theo cờ của cơ hoặc vệ ấy.


    Đảng giặc Phiên An xâm phạm Định Tường. Tỉnh thành bị thất thủ.


    Trước đây, Tổng đốc Long - Tường là Lê Phước Bảo đã rút quân lui về vũng Cù, giặc thừa thắng, ruổi dài, quan quân đều không đánh, tự tan vỡ, thuyền đò, súng ống, khí giới đều bị cướp hết.


    Tổng đốc An - Hà Lê Đại Cương ở Định Tường nghe tin, lập tức dẫn đại đội binh thuyền lui về phía sông Ba Lầy (thuộc huyện Kiến Đăng, giáp đầu tỉnh An Giang). Binh và dân giữ Định Tường, đều xao xuyến, chạy trốn đến hết. Phước Bảo ngồi một chiếc thuyền, lui đậu ở bến sông ngoài thành, bị quân giặc đuổi đến bức bách phải chạy về Vĩnh Long trước. Thự Tuần phủ Tô Trân, án sát Ngô Bá Tuấn chỉ còn không đầy mấy chục người ở bên mình. Tự liệu thế không chống được, cũng chạy. Giặc liền dùng đồ đảng là Lê Viết Chương (nguyên Cai đội Bắc thuận) làm ngụy Trấn phủ, Bùi Văn Thuận (nguyên Tư vụ Binh tào) làm ngụy Tuyên phủ, Hoàng Công Bách (nguyên Tư vụ Binh tào) làm ngụy Tham phủ, tiến giữ tỉnh thành.


    Lê Đại Cương, Lê Phước Bảo đều làm sớ tâu xin chịu tội. Đại Cương nói : Phước Bảo đem theo binh thuyền không phải không nhiều, thế mà đóng mãi ở Lật Giang, đã từng thông tư giục giã đến 2, 3 lần, nhưng cuối cùng vẫn chẳng chịu tiến, đến nỗi hỏng việc, lòng người vì thế rung động sợ hãi, không làm thế nào được !


    Còn Phước Bảo thì nói : "Biền binh không quen thủy chiến, mới thoạt giao chiến với giặc đã thua chạy tan vỡ ngay ! Đại Cương thân cầm trọng binh đóng ở Định Tường, khi nghe tin quân ta thua, tức khắc kéo đi, đến nỗi lòng người sôi nổi sợ hãi, không sao trấn áp được".


    Tô Trân sau đến Vĩnh Long, cũng đem tình hình thất thủ dâng sớ xin nhận tội. Sớ cùng tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Cứ theo tin tức dò thám lần lượt báo đến, thì việc giặc Khôi làm loạn chẳng qua là bọn tù tội vô loại, tụ họp lại thành bè đảng, chắc tụi giặc quèn ấy chẳng có khí lực gì đâu ! Bọn ngươi, Lê Đại Cương, Lê Phước Bảo đều là quan to thống trị cả kiêm hạt, thân đốc binh thuyền đến hội tiễu, vậy mà sai phái ủy thác phần nhiều không được người giỏi, điều khiển lại lỡ cơ hội ! Trước đó, ở Tra Giang thua một trận nhỏ, nên giặc mới hư trương thanh thế làm cho lòng dân nao núng sợ hãi. Lại không biết góp sức hợp mưu, cùng lo giết giặc, mà lại nửa kế không nghĩ ra, mới thoạt giao chiến với giặc, đã vội lui quân, làm hỏng việc, thế mà còn làm biểu chương đổ lỗi cho nhau, đáng lý ra phải trị tội nặng, nhưng nghĩ bây giờ đương lúc cần phải đánh dẹp, nên hãy khoan thứ cho Lê Đại Cương và Lê Phước Bảo : đều được cách lưu. Còn Tô Trân và Ngô Bá Tuấn lập tức phải cách chức làm binh, chuẩn cho được ở trong quân gắng sức chuộc tội.


    "Vả lại, bây giờ đã phái đại đội binh thuyền tiến đánh, hiện nay cũng sắp đến Phiên An. Bọn ngươi, Lê Đại Cương, Lê Phước Bảo, nên liệu tùy thế lực, trù tính cho chín. Nếu tình thế có thể tiến đánh thì nên tập hợp binh, dõng, chỉnh đốn khí giới, hăng hái, can đảm, tiến lên giết giặc, thu phục Định Tường để chuộc tội trước. Nếu sức lực không thể đương nổi thì nên nghiêm cẩn cố thủ để chờ đại binh, thì tội còn nhẹ. Nếu một mực nhút nhát chùn lại, lỡ có vấp váp lần nữa, thì tất phải theo quân pháp chém đầu, quyết khó tha thứ cho các ngươi nữa !".


    Chế tạo : Cờ tướng cho Thảo nghịch Tả tướng quân, Bình khấu Tướng quân, mỗi người 1 lá, 3 lá cờ tướng cho Tham tán đại thần, cờ ngũ hành, cờ quân lệnh mỗi thứ 10 lá, và 10 thẻ ngà quân lệnh (5 thẻ : mặt trước khắc 5 chữ "Thảo nghịch Tả tướng quân", mặt sau khắc 2 chữ "Quân lệnh", 5 thẻ : mặt trước khắc 4 chữ "Bình khấu Tướng quân", mặt sau khắc 2 chữ "Quân lệnh").


    Cho : Nguyễn Văn Xuân làm Thống chế Thần sách Hậu dinh, Trương Phước Đĩnh làm Hữu Thị lang bộ Lễ, Tống Viết Trì làm Vệ úy Hữu nhị dinh Vũ lâm.


    Thăng Hoàng Quang Thông, Phó vệ úy Tả vệ dinh Long võ lên thự Vệ úy.


    Cho Nguyễn Văn Lương, viên bị cách, được khai phục, làm Cai đội dinh Vũ lâm, thự Phó vệ úy Tả vệ dinh Long võ.


    Thăng Hoàng Trị, Cai đội dinh Hổ oai lên thự Phó vệ úy ở Nhất vệ thuộc Trung bảo Trung quân.


    Dùng : Tống Phước Lương, Trung quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, làm Thảo nghịch Tả tướng quân. Nguyên Xuân, Thần sách Hậu dinh Thống chế làm Tham tán đại thần. Trương Phước Đĩnh, Hữu Thị lang bộ Lễ, theo đi trong quân, làm Tán tương cơ vụ, được cấp cho sắc, ấn, cờ, bài để quản lĩnh biền binh các vệ : vệ Hữu nhị dinh Vũ lâm, vệ Tả dinh Long võ và vệ Nhất thuộc Trung bảo Trung quân, chia ngồi 22 chiếc thuyền, phối hợp Thủy quân pháo thủ và súng đạn quân nhu (35 cỗ súng đại luân xa, cùng quá sơn và các thứ đạn dược kèm theo súng, 300 cân đạn ghém, 3.000 cân thuốc súng, 1 chiếc thiên lý kính, 2 cái địa bàn, 2 đồng hồ cát, 2.000 đồng ngân tiền Phi long lớn và nhỏ, 3.000 lạng bạc), nhằm giờ lành ngày 20 tiến quân, do các cửa biển Vĩnh Long, Định Tường đi đánh nghịch tặc ở Phiên An. Phàm binh thuyền của bọn phái đi trước là Đỗ Chiêm Phác, Nguyễn Hữu Chính, Phạm Hữu Tâm cùng với các quan quân do Tổng đốc Lê Đại Cương và Lê Phước Bảo đem đi, đều phải theo lệnh điều khiển.


    Khi sắp đi, vua dụ tận mặt bọn Tống Phước Lương và Nguyễn Xuân rằng : "Các ngươi đi chuyến này, nếu có thể tiễu trừ được giặc, sớm báo tin thắng trận, thì công ấy cũng bằng công bình được giặc Tây Sơn. Nhưng việc đánh giặc không khó, mà xử lúc có công mới khó. Khi đại binh đến Phiên An, nên hiệp lực với Thảo nghịch Hữu tướng quân là Phan Văn Thúy cùng lòng giúp nước, cả thủy lẫn lục đều tiến, tả hữu đánh khép lại, cốt sao hẹn ngày tiêu diệt xong giặc, cẩn thận đừng tranh công để làm lỡ việc".


    Lại dụ Trương Phước Đĩnh rằng : "Tướng văn tướng võ phải điều hòa nhau thì việc mới nên. Nếu giữa Tướng quân và Tham tán có điều gì dị đồng, ngươi nên can ngăn".


    Nhân đó, ban cho Tống Phước Lương và Nguyễn Xuân mỗi người 1 thanh kiếm vàng. Con Lương là Tống Phước Bản có bộ hạ là các đội Trung sai, Trung thuận, Xuân có 10 người thuộc hạ, Đĩnh có 5 người kiên binh thuộc hạ, đều chuẩn cho đem theo để sai khiến.


    Lại phái 2 người y chánh và y sinh theo đi quân thứ để làm việc điều hộ.


    Sai : Tôn Thất Bằng, Thự Thần sách Hữu dinh thống chế quyền lĩnh ấn triện Hậu dinh, thự Hữu quân Nguyễn Văn Xuân quyền lĩnh ấn triện Thần sách Tả dinh và ấn triện Thủy quân, thự Tả thị lang bộ Hộ là Thân Văn Quyền sung làm công việc Nội các. Điều thự Tả thị lang bộ Binh Đặng Văn Chương làm thự Tả thị lang bộ Hộ.


    Sai biền binh ở hai chiếc thuyền hiệu đi biển đã đi việc công về, phối hợp chở các đạn súng (súng đại luân xa Thảo nghịch đại tướng quân, súng Bình ngụy đại tướng quân, súng Thảo nghịch trung tướng quân, mỗi thứ 2 cỗ, 4 cỗ súng đại luân xa Thảo nghịch tướng quân : 10 cỗ đại luân xa thành công pháo và đạn dược kèm theo súng) theo Tướng quân và Tham tán đi làm việc quân.


    Lại sai Thừa Thiên liệu thuê hạng thuyền đi xa để phái quân hộ vệ đi coi quản và điều động súng đạn (80 khẩu súng thần công và đạn dược, 3 viên đạn chì, súng điểu sang, 1 vạn mảnh đá lửa) chuyển vận đến quân thứ Biên Hòa.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Quan quân các đạo lần lượt phái đi Phiên An đánh giặc, đã đem đi súng ống, khí giới, đạn dược, đá lửa, ống phun, hoặc do đường bộ, hoặc do đường thủy, chắc đã nhiều rồi. Vậy nên thông dụ cho từ tướng quân trở xuống đến các quản quân, không cứ là quản quân đạo nào ở trong Kinh hay các tỉnh ngoài, nếu quân nhu có thiếu thì tức khắc đến nơi gần nhất lấy dùng, thủy nhờ mượn bộ, bộ nhờ mượn thủy, giúp đỡ lẫn nhau, cốt mong giết giặc lập công, không được kỳ thị".


    Binh thuyền của bọn tướng quân Tống Phước Lương ra cửa biển Thuận An, sai quan chia đến miếu Nam hải Long vương và miếu Phong bá cầu gió. Chu sư liền nhân chiều thuận gió, lần lượt tiến đi.


    Sai Phó vệ úy vệ Ban trực hữu Trần Văn Loan liệu để 200 vệ binh ở lại phòng thủ tỉnh thành Quảng Nam, còn thì lại đem về hàng ngũ đồn thú ở hai đài Điện Hải, An Hải, hiệp cùng quản đài Nguyễn Văn Lượng phân phái tuần phòng.


    Sai Chưởng cơ Phạm Văn Điển lĩnh công việc ở viện Thượng tứ.


    Thăng Phó vệ úy vệ Tiền nhị dinh Vũ lâm là Lê Văn Thảo lên thự Vệ úy.


    Vua sắp bao phong cho con cháu vua Chiêm Thành, dụ Nội các rằng : "Từ xưa vương giả suy rộng ân điển đối với nước đã bị diệt vong, là để giữ đạo trung hậu và tỏ lòng chí công.


    "Nhà nước ta gây cơ đồ ở cõi Nam, kiến lập đến nay đã hơn 200 năm. Ta kính nối cơ nghiệp quý báu, giữ yên toàn một nước. Nhân nghĩ : Từ Kinh kỳ điện trở vào Nam (đến Bình Thuận), từ Bình Thuận trở ra Bắc (đến Kinh kỳ) nguyên là đất cũ Chiêm Thành. Ngước nhờ hoàng thiên vùa giúp, trao cho bậc có đức sáng gây dựng nước nhà. Liệt thánh hoàng đế triều ta mở mang rộng lớn để có ngày nay.


    "Còn dòng dõi vua nước Chiêm Thành được ơn các triều thương yêu, cho quan chức để thờ cúng lâu đời. Nay, Nguyễn Văn Thừa hiện được bổ Quản cơ, hàm Chánh tứ phẩm, có tên trong sổ làm quan. Tấm lòng giúp cho một nước và một họ đã bị tuyệt diệt mà còn tồn tại ấy thực không còn gì hơn được nữa.


    "Vả lại, nay đương tặng phong năm tước, lễ lớn bắt đầu, đáng nên suy rộng đến con cháu các vương khiến cho cùng được nhuần thấm trong ân điển thấm thía. Vậy phong tước cho Nguyễn Văn Thừa làm Diên An bá, lại trao cho chức Vệ úy, hàm Tòng tam phẩm, liền được chiếu theo chức đó chi lương và vẫn làm việc công ở tỉnh Bình Thuận. Từ nay về sau, chuẩn cho con cháu được thế tập để giữ việc thờ cúng của Chiêm Thành. Nếu người nào có tài năng phẩm cách đáng dùng thì Nhà nước cũng lại liệu cất nhắc, chứ không có ý phân biệt vì cho là người ở nơi biên viễn".


    Lại cho dựng miếu chuyên thờ vua Chiêm Thành ở Kinh đô và ở ngoài tỉnh thành Bình Thuận, hằng năm Xuân - Thu hai lần tế, do nhà nước đứng sửa lễ. Việc tặng phong tờ cáo có trục, hoặc cấp ấn triện và lễ thờ, đồ thờ đều do bộ Lễ, việc định quy thức dựng miếu thì do bộ Công, đều thỏa thuận bàn bạc tâu lên, đợi chỉ thi hành.


    Sau đó, Nguyễn Văn Thừa được lệnh triệu về Kinh đợi chỉ, nhưng bị bệnh, không đi được, tỉnh thần xin cho Thừa hãy nghỉ gia hạn. Vua ưng cho, nhân đấy, bảo bộ Binh rằng : "Ta nghĩ vua Chiêm Thành trước có công lao với dân, ta đương muốn vun trồng cho con cháu [vua ấy], để tỏ đức trung hậu, nên triệu Thừa về Kinh để cử hành lễ ban ơn. Vậy, truyền chỉ cho tỉnh thần đem ý ấy bảo cho Thừa biết để yên tâm điều trị, sớm được lành mạnh về Kinh hưởng ơn huệ vẻ vang, tỏ rõ sự ban cho vinh sủng".


    Nhân lúc ấy, có án thông với giặc phát ra, nên việc ấy phải thôi.


    án sát Cao Bằng là Phạm Đình Trạc nã bắt được con của giặc Lê Văn Khôi là Lê Văn Báo và Lê Văn Hổ, anh ruột là Lê Văn Quýnh và thân thuộc tất cả 14 người, đưa về Lạng Sơn. Làm sớ tâu lên.


    Vua dụ Nội các : "Giặc Khôi lạm dự công tính ((1) Lê Văn Khôi, nguyên là Nguyễn Hựu Khôi, là dòng dõi các chúa Nguyễn trước, thuộc "công tính".1), đội ơn nhà nước đã lâu, mà dám chiếm thành, làm loạn, giết hại quan quân, tội ác rất nặng. Ngày nay, con cái, anh em, thân thuộc nó đều phải nộp đầu, đủ thấy đạo trời rõ rệt. Giặc kia sớm muộn cũng khó thoát khỏi lưới trời".


    Phạm Đình Trạc theo chỉ, làm được thỏa đáng, thưởng gia 1 cấp. Còn các văn võ và binh lính được phái đi vây bắt, được thưởng tiền bạc có khác nhau. Rồi truyền chỉ cho Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền trước hãy phái binh giải bọn con giặc : tên là Hổ, tên là Báo và anh của giặc là Quýnh lên đường : từ Bắc Ninh trở vào Nam đến Hà Tĩnh, các tỉnh phải theo địa phận hạt mình luân lưu đệ giải, ở Kinh cũng phái biền binh đón sẵn ở đầu địa phận Quảng Bình để tiếp giải về Kinh trị tội. Ngoài ra, thân thuộc của giặc đều lưu lại ở Lạng Sơn giam cầm nghiêm ngặt chờ sau sẽ xử trí.


    Nghệ An sau đó, cũng bắt được các nghịch đảng : Cha con Đặng Vĩnh Ưng 7 người, vợ con Đinh Phiên 5 người, Quảng Nam bắt được vợ con Lưu Tín 3 người. Ra lệnh thảy đều nghiêm giam, đợi xử án.


    Giảm cho Nghệ An : hai phần mười (2/10) thuế chân chèo thuyền năm này. Còn thì cho nộp bằng tiền.


    Quản phủ Vĩnh Tường gia hàm Vệ úy là Nguyễn Duy Trữ trước kia theo đi đánh dẹp ở Đà Bắc, vì nhiễm sơn lam chướng khí, mắc bệnh, cho về tỉnh điều trị, đến bấy giờ chết. Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức đem việc tâu lên.


    Vua nhớ Trữ là người xuất sắc trong việc đánh dẹp, rất thương tiếc, truy tặng hàm Vệ úy, Chánh tam phẩm, thưởng thêm 100 lạng bạc.


    Bố chính Vĩnh Long Phạm Phước Thiệu và thự án sát Doãn Uẩn tâu nói : "Trước kia, Tổng đốc Lê Phước Bảo đem theo hơn 1.000 quan quân thuộc tỉnh và hơn 20 chiếc thuyền, tiến đến Phiên An làm việc quân, chỉ liệu để số biền binh ở lại đủ canh giữ tỉnh thành mà thôi. Bọn thần đã vát thêm dân phu ở các phủ huyện đến phụ vào việc phòng thủ để ngăn chặn các đường xung yếu trên sông. Bọn thần thường đem đại nghĩa hiểu dụ nhân dân. Mọi người đều biết cảm kích và phấn chấn. Chỉ vì Phước Bảo điều động trái đường, đến nỗi hỏng việc, thuyền bè, khí giới đều bị giặc chiếm. Nay, số binh thuyền ở tỉnh không còn mấy, mà số binh lính tan tác cũng chưa thấy tập hợp lại. Hiện giờ, bọn thần đương cùng thự Tuần phủ Tô Trân thu thập tàn quân, chừng 1, 2 ngày sẽ xuất phát, mưu đồ khôi phục tỉnh thành Định Tường. Một đạo binh thuyền của Lê Đại Cương, Tổng đốc An - Hà, cũng từ Định Tường dời về đóng ở địa đầu An Giang từ xa làm thanh thế để tiếp ứng".


    Vua dụ rằng : "Lê Phước Bảo quản lĩnh đại đội binh thuyền không phải không nhiều, thế mà thoạt nghe tin một đạo quân khác gặp thuyền lũ giặc quèn, chưa bắn súng, đã vội sợ bóng sợ gió, chạy tan cả. Bọn Lê Phước Bảo và các Lãnh binh làm công trạng gì, mà khốn đốn đến thế ! Lê Đại Cương cũng cầm đại binh ở mặt sau sao không hiệp sức để cứu ứng, mà lại coi dửng dưng như chuyện ngoài tai, liền rút quân lui. Việc xong rồi, bấy giờ mới bới vạch kia khác, đổ lỗi lẫn cho nhau, không hiểu thế là ý gì !


    "Lại quan quân một tỉnh Định Tường cũng không phải ít, thế mà bọn giặc quèn chưa từng ken sát lại, mà vây đánh ta, vậy sao Tô Trân đã vội bỏ thành trốn chạy ! Hiện nay, từ Ngô Bá Tuấn trở xuống đến văn võ thuộc tỉnh, ai là kẻ cam tâm theo giặc, ai là kẻ nhút nhát trốn chạy, bọn ngươi cần phải hỏi rõ tình hình, không chút giấu giếm, lập tức kê từng khoản tâu rõ, để biết được nguyên ủy. Còn Cai đội hưu trí Vĩnh Long là Phạm Văn Lễ, người đã mang đệ tấu sớ, thưởng cho 3 lạng bạc, và cho theo đi quân thứ để sai phái. Sau khi việc binh, có hay không có công trạng, sẽ do Tướng quân và Tham tán tâu rõ, đợi chỉ".


    Vua lại dụ Nội các rằng : "Biền binh 2 tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, nhân vì Lê Phước Bảo điều khiến lỡ làng, đến nỗi hỏng việc. Theo nghĩa Kinh Xuân Thu trách cứ vào người làm chủ tướng, thì tội lỗi thuộc về [Phước Bảo] phải chịu, chứ không phải là tội của bọn kia. Huống chi hiện nay việc bắt giặc đương khẩn cấp còn có thể thua keo này bày keo khác mà báo đáp. Vậy, hãy truyền chỉ cho các viên phủ huyện báo khắp trong hạt : Phàm các biền binh tản lạc trong dân gian nên bảo lẫn nhau, ai nấy tùy tiện đến các doanh trại quan quân sở tại xin ra sức cố gắng thì không những được miễn tội trước, mà lại có công nữa. Nếu ai bắt hoặc giết được đảng giặc, tức khắc được phân biệt khen thưởng. Nếu cứ một mực trốn tránh, hoặc cam lòng theo giặc, thì quân pháp rất nghiêm, tội không tha được".


    Bọn Thái Công Triều là đảng giặc Phiên An, đã lấy Định Tường, thẳng đường tiến lên. Các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên đều thất thủ, giặc liền chia đặt bè đảng chiếm giữ. (Giặc Khôi sai ngụy Công bộ Thái khanh là Trương Văn Tuế chia đặt các ngụy quan ở các phủ huyện. Sau, Thái Công Triều quy thuận [triều đình], Tuế và Công Triều cùng đi, Công Triều lập kế giết Tuế).


    Vua dụ Nội các : "Nhiều lần đã sai quan quân tiến đánh bọn loạn tặc nghịch Khôi. Hễ ai bắt hoặc chém được tên đầu sỏ giặc, bè đảng giặc và kẻ cưỡi voi trong đám giặc, thì đã chuẩn cho thi hành theo cách thức ban thưởng đã định. Nay, truyền chỉ cho quan quân các đạo : Nếu ai ở ngay trước trận, giết chết được 1 voi của giặc sẽ thưởng cho 20 lạng bạc, bắn què voi của giặc khiến voi không chạy, không cử động được, thưởng cho 10 lạng bạc, nổ súng bắn vỡ thuyền to của giặc, thưởng 30 lạng bạc, thuyền vừa thưởng 20 lạng, hiệu nhỏ, 10 lạng. Ai có thể bắn súng vào giữa đám giặc đông, và giữa đoàn thuyền giặc khiến quân giặc tan vỡ tả tơi và trong thuyền giặc bị bắn phá nhiều kẻ thương vong, cũng đều được theo lệ, trọng thưởng. Ngoài ra, hết thảy người có công trạng đều chuẩn cho châm chước nặng nhẹ mà phân biệt khen thưởng".


    Sai bộ Binh truyền dụ cho 2 đạo Ninh Bình, Hưng Hóa rút quân về.


    Tổng đốc đạo Ninh Bình là Tạ Quang Cự trích ra tất cả Trung vệ dinh Hổ oai để lại đóng giữ Ninh Bình ; Tổng thống đạo Hưng Hóa là Phạm Văn Lý trích ra tất cả Nhị vệ quân Tiền bảo để lại đóng giữ Sơn Tây, còn đem hết về Kinh triều kiến. Biền binh các tỉnh đã được điều động cũng đâu đó rút về hàng ngũ cũ. Phạm Văn Lý nếu còn đau thì chuẩn cho cứ ở lại điều dưỡng, còn lính Kinh thì do những người coi quản đem về.
  • Chia sẻ trang này