0060.0064

5/1/16
0060.0064
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Lại truyền dụ cho Hộ lý Tuần phủ Thanh Hoa là Nguyễn Khả Bằng và Nguyễn Đăng Giai trích ra tất cả Trung vệ Ban trực để lại giữ Thanh Hoa, còn số Kinh binh đã phái đi và số lính Nghệ An đã được điều động, đều sức cho những người cai quản đem về hàng ngũ cũ.


    Vua lại nghĩ : Không nên lơ là sơ hở trong việc thiện hậu, bèn dụ cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức liệu để lại bốn, năm trăm biền binh dinh Thần sách, giao cho Quản vệ Đoàn Văn Cải chia đóng Hưng Hóa và phủ thành Quảng Oai.


    Vua dụ Nội các rằng : "Trước giờ, số quan quân được phái đi đánh giặc cũng nhiều, cần nên ghi cho minh bạch để làm tài liệu phân biệt. Vậy sai bộ Binh xét xem trong Kinh và các tỉnh ngoài, các văn võ xuất chinh từ Quản vệ, quản cơ đến thành thủ úy và quản phủ, điều tra cho kỹ : viên nào đã từng đi đánh dẹp mấy lần có hay không có công trạng, làm ngay danh sách xếp loại, ghi rõ, nộp giao Nội các. Còn từ Suất đội đến binh lính, ở Kinh do Quản vệ, ở các tỉnh ngoài do tỉnh thần, cũng đều theo lối ấy, làm danh sách kê loại tư lên bộ, giữ làm bản lưu trữ. Về sau, hễ có việc quân thì theo ngay những lời đã ghi trong bản danh sách : ai đánh dẹp nhiều lần thì đều được sai phái trước, để nhờ tay thành thuộc giúp cho được việc. Nếu có việc cất nhắc thăng bổ, cũng căn cứ vào đấy để làm thứ tự trước, sau".


    Đem tội trạng của bọn phản nghịch là Lê Duy Lương bá cáo khắp trong ngoài.


    Dụ rằng : Bọn Lê Duy Lương trốn tránh từ lâu, ngắm ngầm mưu phản. Ngày tháng 3 năm nay, nhân kẽ sơ hở, hắn lén nổi dậy ở đồn Chi Nê thuộc Ninh Bình, tiếm xưng danh hiệu, chống cự quan quân. Sau, lan tràn đến cả các tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa, Hà Nội và Thanh Hoa. Xét xem những việc đã làm, chỉ là mượn tiếng khôi phục nhà Lê, mê hoặc lòng người, đến nỗi làm cho bọn ngu muội, không biết gì, bị lầm lạc vì nó.


    Ta trông ra Bắc, nặng lòng lo âu, rất để ý đến việc vỗ yên lương dân, đã từng nhiều lần phái quan quân chia đường tiến đánh.


    Về sau, Hà Nội bắt được tên ngụy xưng Tả hà tướng quân Lê Văn Lận, Hưng Hóa bắt được tên chính yếu phạm là Hoàng Kim Thịnh, Sơn Tây bắt được tên ngụy xưng phù Lê đại tướng quân Phạm Doãn Dũng. Bọn đầu sỏ phản nghịch là Lê Duy Lương và Lê Duy Nhiên cũng bị bắt, đều đã đóng cũi giải về Kinh, trừng trị, đủ cách.


    Nhân nghĩ : Nhà nước ta lấy lại được đất cũ, có toàn bộ dư đồ, được thiên hạ với chính nghĩa, là lấy được Tây Sơn, chứ không lấy của họ Lê.


    Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta lúc mới đại định, rộng ơn đối với triều trước đã bị diệt, đặc cách phong cho Lê Duy Hoán làm Duyên Tư công để giữ việc thờ cúng họ Lê. Về việc kế tuyệt tồn vong, thực đã hết lòng nhân nghĩa. Phàm những điều đó, ai có tai mắt cũng đều nghe biết cả. Như thế thì con cháu họ Lê dù kết cỏ ngậm vành cũng chưa đủ nói là báo đền được. Chẳng ngờ Duy Hoán, lòng lang dạ thú, tự đứng ra ngoài vòng sinh thành : tội ác đã đầy, liền mắc vào hình phạt, thực là bởi hắn tự làm nên tội ! Con hắn là Lê Duy Minh, tuổi còn nhỏ, bị giam cầm đã lâu. Năm ngoái đã y theo lời xin của đình thần, đặc cách cho nó được chết. Đó cũng là phép công, không thể đừng được. Riêng Lê Duy Lương vẫn còn lọt lưới. Từ trước cũng bỏ qua không hỏi đến, tưởng hắn nín hơi ở trong rừng sâu, mong tạm bợ kéo dài lấy chút hơi tàn ! Chẳng ngờ giữ tính tối tăm, bỏ luân thường, trái đạo lý, tự chuốc lấy lo buồn vào mình, lưới trời khó trốn. Đến nay, không còn phương nào trốn thoát, cuối cùng thân không tránh khỏi búa rìu ! Những kẻ theo giặc cũng phải chụm đầu chịu giết. Lẽ thuận, nghịch, cơ họa Phước cách nhau không hở sợi tóc.


    Dân ta vốn sẵn lương tâm, những điều đó đều mắt thấy tai nghe cả. Từ nay về sau, tất cả đều biết dời đến nơi lành, xa lánh nơi tội, tìm điều tốt, bỏ điều hung, cuối cùng chẳng đến nỗi nghe lầm mưu gian, tự hãm mình vào vòng tội lệ. Vậy đem điều này thông dụ cho dân đều biết.


    Triệu Bố chính Thanh Hoa là Trịnh Đường về Kinh để lựa dùng. Chuẩn cho Nguyễn Khả Bằng, thự Thống chế, Hộ lý Tuần phủ, bị cách lưu, được khai phục nguyên hàm, vẫn giữ ấn quan phòng Tuần phủ Thanh Hoa, Hộ lý Tuần phủ Nguyễn Đăng Giai vẫn được cung chức với nguyên hàm Bố chính sứ.


    Nhân đó, vua dụ Nguyễn Đăng Giai rằng : Ngươi ở Thanh Hoa đã lâu. Nay địa phương dù đã bình định rồi, nhưng bọn tướng giặc Nguyễn Đình Bang và Nguyễn Đình Phát còn chưa bị bắt để đem xử án. Đó là việc ngươi chưa xong. Phải làm thế nào hiệp sức cùng Nguyễn Khả Bằng tìm cách nã bắt cho tuyệt mầm ác. Nếu lấy cớ rằng mình đã về làm chức cũ, rồi có ý kiến đưa đẩy cho người khác, không chịu giữ lòng hòa hiệp thương lượng mà làm để giặc lọt lưới, chạy xa, thì tội ấy cũng ngang với giặc.


    Cho : Hoàng Văn Lý làm Vệ úy vệ Hữu nhất dinh Vũ Lâm : Nguyễn Văn Tình làm Phó vệ úy Tả vệ dinh Tiền phong. Dùng Trần Văn Du, Cai đội vệ Cẩm y làm Phó vệ uý Cấm binh, lại kiêm thự Phó vệ uý vệ Hữu nhất dinh Vũ lâm. Thăng Lê Hữu Du, Phó vệ úy Hậu vệ dinh Long võ lên thự Vệ úy, Tả vệ dinh Tiền phong ; Cai đội Nguyễn Văn Gia lên thự Phó vệ úy Hậu vệ dinh Long võ ; Nguyễn Văn Thuận lên thự Phó vệ úy Tả vệ dinh Thần cơ ; Đỗ Văn Sửu lên thự Phó vệ úy Trung vệ dinh Tiền phong ; Tôn Thất Tiềm lên thự Phó vệ úy vệ Loan giá ; Vũ Viết Tuấn lên thự Phó vệ úy Trung vệ dinh Thần cơ ; Lê Văn Biện lên Phó vệ úy Nhất vệ quân tiền bảo.


    Dùng Trương Văn Sử, Thành thủ Nghệ An, làm Quản cơ, cơ Trấn an, đi phòng thủ Trấn Ninh. Nguyên Quản cơ cơ Trấn an là Hoàng Nghĩa Uyển, được rút về tỉnh thành, đợi chỉ.


    Bắt đầu đặt chức Phò mã đô úy, trật Tòng tam phẩm, phàm ai lấy công chúa đều được trao chức này (lệ trước : hoặc cho làm Vệ úy, hoặc vẫn hàm ấm thụ).


    Đổi : Vệ úy Nguyễn Văn Ngoạn và Nguyễn Đức Hổ làm Phò mã đô úy, Chưởng cơ Phạm Văn Tín và Kiêu kỵ đô úy Nguyễn Thường Tuân đều do nguyên hàm, kiêm chức Phò mã đô úy.


    Cho Nguyễn Văn Giai, con Thái bảo Nguyễn Văn Nhân, được tập ấm làm Cai đội Cấm binh.


    Cho Lê Đăng Doanh làm Hiệp biện đại học sĩ.


    Dùng : Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Trần Văn Năng làm Bình khấu Tướng quân ; Hiệp biện đại học sĩ Lê Đăng Doanh và Vũ lâm dinh Tả dực Thống chế Nguyễn Văn Trọng đều làm Tham tán đại thần, Thị lang bộ Binh là Trần Chấn theo đi quân thứ làm Tán tương cơ vụ, cấp cho sắc, ấn, cờ, bài quản lĩnh biền binh vệ Hữu nhất dinh Vũ lâm và Tả vệ dinh Tiền phong, Nhất vệ thuộc Tiền bảo, chia ngồi 24 chiếc thuyền, phối hợp với pháo thủ thủy quân và súng đạn, quân nhu (súng Thảo nghịch đại tướng quân, súng Bình ngụy đại tướng quân, súng Thảo nghịch trung tướng quân, mỗi thứ 2 cỗ, 4 cỗ súng Thảo nghịch tướng quân, 10 cỗ súng vũ công tướng quân, gồm cả đạn dược kèm theo súng và 500 cân đạn ghém, 300 cân thuốc súng, 1 thiên lý kính, 2 địa bàn, 2 đồng hồ cát, 2.000 đồng Phi long ngân tiền lớn và nhỏ, 3.000 lạng bạc), nhằm ngày 25 xuất phát, do cửa biển Cần Giờ đến thẳng Phiên An đánh dẹp. Bọn được phái đi trước là Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn và Trần Công Điều đều phải nghe lệnh điều khiển.


    Lúc họ sắp đi, vua dụ trước mặt Trần Văn Năng rằng : "Chuyến đi này, nếu giặc đã bình rồi, khanh cũng được dự có công. Nếu giặc chưa bình, mà khanh diệt giặc, thì công càng to. Vả lại, giữ vững bờ cõi, giúp yên nhân dân, là trách nhiệm của đại thần, chứ há chỉ có đánh giặc mới là lập công thôi ư ? Khanh nên cùng với các Thảo nghịch tả, hữu tướng quân, một lòng hiệp sức, lập thêm công lao, đừng nên chấp nệ ý kiến kia khác".


    Lại dụ Lê Đăng Doanh và Nguyễn Văn Trọng rằng : "Các khanh đều có trách nhiệm tham tán. Phàm mọi việc trong quân nên cùng với tướng quân bàn bạc. Trong các đạo quân nếu có ý kiến chống chọi nhau, các khanh nên điều hòa phân giải cốt cho được việc và thành công thế mới tốt".


    Nhân cho bọn Trần Văn Năng, Lê Đăng Doanh và Nguyễn Văn Trọng mỗi người một thanh gươm vàng. Con Năng là Trần Văn Lân làm Phó vệ úy Trung vệ dinh Thần cơ, có thuộc hạ là các đội Tiền sai, Tiền thuận và con các viên tử trong đội Hoa danh, đội Giáo dưỡng. Con Trọng là Đội trưởng Nguyễn Văn Tuấn có 10 người thuộc hạ, Doanh có 10 người kiên binh, Chấn có 5 người kiên binh, đều chuẩn cho được đem đi sai phái.


    Nguyên Phó vệ úy vệ Phấn võ là Lê Văn Tề, nguyên Suất đội Tả oai và đội Minh nghĩa thuộc Tả bảo đều giao cho Trần Văn Năng đem theo đi.


    Lại phái bọn Hàn lâm Đãi chiếu là Trương Tiến Sĩ 5 người, theo đi làm giấy tờ trong quân, 2 người y chánh, y sinh theo đi tòng quân, làm điều hộ.


    Sai thự Hiệp biện đại học sĩ lĩnh Hộ bộ Thượng thư Nguyễn Khoa Minh kiêm lĩnh Thượng thư bộ Lại, lại kiêm coi quản Khâm thiên giám. Lễ bộ Thượng thư Phan Huy Thực kiêm giữ Quang lộc tự, Vũ lâm Hữu dực Thống chế Nguyễn Tăng Minh quyền lĩnh ấn triện Tả dực Thống chế, Nội vụ Lang trung Nguyễn Văn Đức quyền giữ ấn quan phòng của Nội vụ phủ.


    Vua nghĩ đến 2 đạo Thủy quân đi đánh giặc Phiên An, lặn lội đường biển cũng gian lao, bèn dụ cho từ Bình khấu Tướng quân, Thảo nghịch Tả tướng quân xuống đến các Suất đội, hễ ai dưới tên nếu có ghi là bị xử giáng, phạt thì đều chuẩn cho được khai phục, khoan miễn, ai còn thự hàm, cũng cho thực thụ ngay. Ngoài ra, các văn, võ, binh lính không dự [hạng trên] đều thưởng cho 1 tháng tiền lương.


    Vua sai bộ Binh truyền dụ cho Bố chính Quảng Ngãi là Lê Nguyên Trung và án sát Nguyễn Đức Hội rằng : "Nguyên biền binh vệ Minh nghĩa trước bị giặc Khôi cai quản, đã lâu, chúng bị tên Khôi cậy thế lực Lê Văn Duyệt [đã chết], sai làm việc riêng, lên rừng lấy gỗ, bóc lột nhiều cách, mọi người đều oán. Nay giặc Khôi giữ thành làm phản, thực là tội ác tự nó làm. Phàm người có khí huyết, không ai không muốn ăn thịt nó, lột da nó ? Huống chi biền binh ấy đều là sĩ tốt của triều đình, được nuôi dưỡng đã lâu, thấy việc trái luân thường, chống đạo lý ấy, há lại không giận ? Còn những Suất đội hiện bị gọi đến chỉ muốn hỏi rõ tình trạng, nay đã cho theo ngay Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng để sai phái đi đánh dẹp.


    "Bọn biền binh vốn vô can, còn nghi sợ gì ? Các ngươi nên đem sự lý ấy tuyên dụ rõ ràng để chúng đều được yên tâm".


    Lại sai mật dụ cho Tuần phủ Thuận - Khánh là Hoàng Quốc Điều rằng : "2 vệ thuộc Tả bảo đã từng thay đổi Quản vệ và Suất đội rồi phái đi đóng giữ Bình Thuận, hiện nay cũng đã đến tỉnh rồi. Vả lại, 2 vệ ấy nguyên thuộc dưới cờ của Tả quân, nay giặc Khôi làm loạn, ý hướng bọn kia cũng chưa định được. Ngươi nên hết lòng dò xét từ đội trưởng đến binh lính, xem ý hướng thế nào, cốt phải dò được thực trạng, lập tức mật tâu lên".


    Vua dụ Nội các rằng : "Gần đây, cứ như lời tâu của Tổng đốc An - Hà Lê Đại Cương, thì giặc Khôi đã bỏ sào huyệt, đốc suất đảng giặc, nhiều kẻ tả hữu trong đảng giặc, đi thuyền đến địa giới Định Tường, Vĩnh Long. Lại nghe tin Biên Hòa dò thám được báo rằng : Trong thành Phiên An, đảng giặc chỉ có vài trăm người. Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng hiện nay chắc đã đến Biên Hòa. Nếu binh thuyền các đạo đều tiến đến, một loạt, thì thủy, lục đánh khép lại càng tốt. Nếu thuyền bị sóng gió ngăn trở, thì bộ binh quyết không có lý đợi lâu. Vậy truyền dụ cho bọn Phan Văn Thúy : Phải chia binh đóng giữ bến đò Biên - Long và tỉnh lỵ Biên Hòa mỗi chỗ vài trăm người để đường vận lương ở phía sau được thông đồng. Rồi thống lĩnh ngay lấy quân Kinh và quan quân cùng voi trận 6 tỉnh đã điều đi mà tiến lên. Trước hết vát quân dân và thuyền Biên Hòa do đường thủy và đường bộ gấp đến bến sông Bình Đồng, hoặc tìm cách dùng nhiều thuyền bè cho quân sang sông, rồi chia đường hăng hái mà tiến, nhân chỗ rỗng của giặc, thẳng lấy tỉnh thành Phiên An, giết tan đảng giặc, bắt sống những tên đầu sỏ phản nghịch lập được công to là ở trận này. Các ngươi đều nên cố gắng ! Ta hàng ngày trông ngóng cờ hồng báo tin thắng trận.


    "Lại nữa, từ nay về sau, phàm trong quân có việc quan trọng khẩn yếu, chuẩn cho Tướng quân và Tham tán lập tức phi ngựa đệ tâu. Còn tình hình đánh dẹp hiện tại, mỗi ngày một lần đệ tâu bằng cách tối khẩn. Đến khi việc yên thì thôi".


    Lại truyền dụ cho Hoàng Quốc Điều và Đoàn Khiêm Quang ở Bình Thuận : Phàm có tấu sớ của Tổng đốc, Tuần phủ các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên tâu báo do đường biển đến Bình Thuận, thì chuẩn cho đem chỗ kín, mở phong xem : Nếu là tình hình giặc và quân cơ khẩn yếu, đáng phải báo tin cho Tướng quân và Tham tán, thì tức khắc chính tay mình, sao lục nguyên ủy, gửi đến nơi Tướng quân và Tham tán xem. Rồi lại niêm phong tờ tấu sớ ấy, lồng thêm phong bì, dùng ấn quan phòng của Tuần Phủ Thuận - Khánh đóng vào mà phát đệ đi.


    Đó là việc khẩn yếu rất quan hệ đến quân cơ, cần không được tiết lộ tin tức, cũng không được để trì hoãn. Hễ phạm một trong các điều ấy quyết thì tội không nhỏ.


    Lại nữa, binh, voi và thuyền do các tỉnh điều đến, nếu đạo quân nào dừng lại chờ ở tỉnh hạt thì nên hỏa tốc thúc giục tiến đi Biên Hòa cho kịp nhật kỳ hội tiễu”.


    Bộ Hình đem những án tham tang của công đã đền xong, sao lục rõ các tội danh để tâu lên.


    Vua gia ơn khai phục cho viên bị cách được ra sức làm việc chuộc tội là Trương Hảo Hợp làm Tư vụ chờ ngày đi công cán đường biển trở về, sẽ lại xuống chỉ thi hành. Nguyên án bị phát vãng làm lính là Nguyễn Danh Giáp, được giao cho Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng đem đi quân thứ sai phái gắng sức chuộc tội. Trần Văn Hoàng đã được giao cho Nội vụ phủ sai phái gắng sức chuộc tội.


    Tước bỏ họ cả thân thuộc bản chi của giặc Khôi.


    Dụ rằng : "Giặc Khôi giữ thành làm loạn, gây biến phi thường, chống cự quan quân, giết hại quan to. Xét nguyên do thì vì tên Lê Văn Duyệt đã chết, nuôi kẻ gian gây mầm ác, ấp ủ nảy nở, đến nỗi mới tang tóc tan tành như thế.


    "Lại nữa, bè đảng giặc Khôi đều là những người ở dưới cờ chỉ huy của Lê Văn Duyệt nói phao rằng : Vì báo thù cho Lê Văn Duyệt, muốn làm khó dễ với triều đình. Vậy thì rõ ràng giặc Khôi như con của Lê Văn Duyệt.


    "Trước đây, đã xuống chỉ đổi họ giặc Khôi theo họ Lê Văn Duyệt và phái 3 lộ đại binh vây đánh, hẹn ngày trừ diệt, không để sót giống ác hại. Huống chi họ Nguyễn Hựu vốn là công tính, há lại có giống chim muông ăn thịt cha mẹ, ô nhục dòng dõi nhà vua như thế. Còn thân thuộc chi họ giặc Khôi phải lập tức xóa bỏ họ Nguyễn Hựu, đổi theo họ Lê, để phân biệt chi hệ nó, khiến cho tỏ rõ tội danh".


    Trong Kinh kỳ mưa. Đã 5 tháng nay, trời hạn mãi. Vua rất lo, đổi phái hoàng tử và đường quan cùng Lang trung trong Lục bộ, mỗi hạng 3 người, kế tiếp cầu đảo ở đàn Tam thần. Rồi mây dày đặc bốn bề tụ lại, mưa to.


    Vua vui mừng, liền đốt hương khấn đầu lạy ở sân điện Trung Hòa, mưa ướt áo ngự, hồi lâu mới vào. Lại phát 1 lạng kỳ nam chia làm ba để đốt hương, và lấy ở kho 3 nén kim hương, 9 tấm lụa thờ, sai bộ Lễ sắm lễ tam sinh để làm lễ tạ.


    Thưởng cho hoàng tử mỗi người 1 chiếc chén bạch ngọc Dương chi, 1 đồng Phi long đại kim tiền, 2 đồng tiểu kim tiền, đường quan và Lang trung trong Lục bộ, mỗi người được 2 cuốn sa, 2 cuốn trừu, 2 cuốn đoạn, kỷ lục 1 thứ. Còn các ty thuộc chấp sự, và các biền binh giữ đàn tràng đều được thưởng chung 100 quan tiền.


    Lại truyền chỉ cho các địa phương Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Quảng Bình và Bắc Kỳ đều đem thực trạng về mưa và lúa mạ tâu lên.


    Vệ úy vệ Cẩm y Trương Văn Hậu chết.


    Hậu đã từng theo đi đánh dẹp, rõ ràng có góp phần gian lao. Vua rất thương, ban cho 300 quan tiền, 3 chiếc áo, 3 chiếc quần, 1 cây gấm Tống, 5 tấm lụa, 10 tấm vải, 10 cân sáp, 300 cân dầu.


    Dùng Bùi Công Huyên, Vệ úy vệ Tiền nhất Tả dực, dinh Vũ lâm làm Vệ úy vệ Cẩm y.


    Cấp tiền, gạo lương tháng cho biền binh 13 sở đồn bảo thuộc hạt Lạng Sơn (3 đồn Quang Lang, Đông Quan, Bình Gia, mỗi đồn 1 Suất đội, 20 lính. Đồn Na Lĩnh 1 Suất đội, 15 lính. Đồn Đồng Đăng 1 Suất đội, 10 lính. 8 đồn : Kim Lễ, An Châu, Bắc Khuông, Đan Sa, Vân Mộ, Bạch Dương, An Khuyến, Sơn Trang, mỗi đồn 1 trưởng 10 lính).


    Vua cho rằng : Thổ dân Bình Thuận vừa mới qua cuộc phân chia địa hạt mà lệ thuộc lại, bèn dụ cho quan tỉnh : Phàm những việc sai phái đi đài tải chuyển đệ, đều miễn cho.


    Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng tiến đến tỉnh lỵ Bình Thuận, tâu nói : "Binh và voi do các tỉnh phái đều đã tiến lên. Trong số thủy quân do Kinh phái duy có 11 chiếc thuyền Ô, thuyền Lê do Nguyễn Văn Hòa và Mai Công Ngôn quản lĩnh trẩy đến hải phận Khánh Hòa, bị gió cản trở, còn đậu lại ở đấy. Vậy xin hãy ở lại tỉnh lỵ 1, 2 ngày để đợi đoàn thuyền. Nếu họ chưa kịp đến, bọn thần cũng sẽ lập tức đi gấp, tiến lên đánh dẹp".


    Vua phê bảo rằng : "Bọn khanh bất tất chờ đợi thủy quân. Nên kíp lĩnh đại đội quan quân và binh, voi do các tỉnh điều đến, thẳng tiến miền thượng du Biên Hòa, sang sông, đánh vây tỉnh thành Phiên An. Chu sư cũng sẽ hẹn ngày đến được, giặc nhất định sẽ bị giết. Nay đã lại sai Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương tiếp tục tiến lên, ai nấy đều nên đồng lòng giúp nước, hiệp sức lập công để nhận thưởng to nhất".


    Lại truyền dụ cho bọn Hoàng Quốc Điều và Đoàn Khiêm Quang : Phàm binh thuyền của bọn Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn, Nguyễn Văn Niên, Trần Công Điều do Kinh phái còn đậu ở Bình Thuận thì 1 viên nên đi gấp đến nơi thuyền đậu, chuyển sức các biền binh : cho mang khí giới, lên bộ đi trước. Còn súng quá sơn và thuốc đạn các thứ thì thuê nhiều dân phu hoặc do trạm truyền đệ, gấp rút đến quân thứ Biên Hòa. Số thuyền để lại, liệu vát quân và dân canh giữ.


    Đặt quân hiệu cho biền binh các tỉnh đi đánh dẹp ở Nam Kỳ.


    Vua có dụ bộ Binh rằng : "Nay dấy quân đánh giặc, đối với những biền binh các tỉnh đã trưng điệu đó, phải nên đặt cho danh hiệu, để tiện sai khiến và kêu gọi. Vậy truyền dụ : Quảng Ngãi vát ngay 500 lính tỉnh, đặt tên là vệ Nghiêm uy, Bình Định vát ngay 200 lính tỉnh đặt tên là vệ Hùng uy, mỗi vệ đều chọn 1 viên Quản cơ để quản lĩnh, ngày đêm đi gấp đường đến quân thứ Biên Hòa theo Tướng quân và Tham tán đi đánh dẹp. Lại đổi nguyên Tả bảo nhất vệ làm Phấn uy vệ, đổi nguyên Tả bảo nhị vệ làm Thần uy vệ. Các cơ tỉnh Quảng Ngãi lần trước phái đi Bình Thuận đánh dẹp thì đặt tên là vệ Tráng uy. Tất cả đều phải thúc giục tiến lên mau chóng. Khi việc bình rồi, sẽ lại lấy theo tên cũ, trở về hàng ngũ.


    Ra lệnh cho : Kinh binh các vệ, đội thuộc ty Kỳ cổ, viện Thượng tứ và Lục kiên các Dực, các Sai nhằm mồng 1 tháng 7, chia ban để nghỉ ngơi, còn thì vẫn cứ lưu lại hàng ngũ ở Kinh.


    Tổng đốc Bình - Phú Vũ Xuân Cẩn, tâu nói : "Biền binh các cơ, đội trong tỉnh, nhiều lần đã được điều động, chỉ còn lại hơn 300 người. Vậy, xin để cả lại hàng ngũ để làm việc công". Vua y cho.


    Lại sai gọi thêm 300 dân ở gần đó, cấp cho tiền lương và binh khí đóng ở tỉnh để phòng giữ.


    Chuẩn định : Từ nay, phàm ở ngoài Kinh thành có phát hỏa, thì Đề đốc, Kinh doãn chuyển sức cho Kinh huyện, tổng, lý đều phải lập tức đến cứu. Còn cửa thành, không có chỉ dụ không được tự tiện ra vào. Việc này được ghi làm lệnh. (Lệ trước : ngoài thành đêm có phát hỏa, thì Đề đốc đem lính đi ra cứu chữa).


    Sai Quang lộc Tự khanh, biện lý Hộ bộ là Dương Văn Phong đổng lý thanh tra công việc bộ Công, viên Ngoại lang bộ Binh là Đoàn Tụ sung làm Hiệp lý.


    Trước kia, đình thần bàn tâu cho rằng, về việc thanh tra bộ Công định lệ 6 năm 1 khóa. Lấy những năm Tý, Hợi làm hạn, duy khóa thanh tra trước, từ năm đầu Gia Long [1802] đến cuối tháng 12 năm Minh Mệnh thứ 7 [1826] gồm 25 năm, đã từng chuẩn cho theo lệ thanh tra bộ Hộ : chọn phái 1 viên quan võ Chánh nhị phẩm sung làm Đổng lý, 1 viên quan văn Tam phẩm, sung làm Phó đổng lý, 1 viên Tứ phẩm sung làm Hiệp lý, và 34 người viên dịch tùy biện, hạn trong 9 tháng làm xong, đều được trả lương theo lệ đối chiếu với nguyên phẩm, lại cấp thêm cho 6 tháng tiền và gạo.


    Khóa thanh tra này từ mồng 1 tháng giêng năm [Minh Mệnh] thứ 8 [1827] đến cuối tháng 6 năm nay, gồm 6 năm 6 tháng. So với khóa trước thì số năm đã ít, mà công việc cũng đơn giản hơn. Vậy, xin nên chọn 1 viên Tam phẩm văn ban sung làm Đổng lý, 1 viên Ngũ phẩm là ty thuộc các bộ sung làm Hiệp lý. Còn như số người phái theo đi làm việc thì xin 2 bộ Lại và Hộ, mỗi bộ 2 người, 3 bộ Lễ, Binh, Hình và các Đô sát viện, Quang lộc tự, Đại lý tự, Thái thường tự và Tào chính mỗi nha đều 1 người, lấy vào hàng Chủ sự, Tư vụ và Bát, Cửu phẩm, Thư lại 12 người sung vào. Còn về hạn tháng làm việc thanh tra và thể lệ cấp thêm lương bổng, đều định là 3 tháng.


    Vua y theo. Ra lệnh : Từ nay về sau, đến kỳ hạn khóa thanh tra đều theo đó làm lệ.











    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển xcix



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 7, ngày mồng 1, làm lễ Thu hưởng.


    Điều 200 lính cơ thuộc tỉnh Bắc Ninh đi đóng giữ Lạng Sơn, cứ 2 tháng một lần đổi.


    Giặc Phiên An lại đến xâm nhiễu Biên Hòa, quan quân đánh lui được giặc.


    Trước kia, đã lấy lại được Biên Hòa, bọn do Kinh đô phái đi là Phó vệ úy vệ Cẩm y Đoàn Dũ, thự Phó vệ úy dinh Vũ lâm Phan Văn Song và Nguyễn Văn Thị mới được bổ làm Lãnh binh Biên Hòa, cùng lính và voi ở các tỉnh, đều lục tục đến cả, chia nhau đi Bình Đồng lập đồn lũy để phòng thủ. Vũ Quýnh lại phái Quản cơ cơ Trung hùng Trần Văn Khanh đem binh thuyền án giữ cửa sông Phước Long. Vừa gặp 5 chiếc thuyền giặc từ Nhà Bè đến, Khanh bỏ thuyền chạy. Giặc bèn đến thẳng tỉnh lỵ. Nguyễn Văn Thị liền cỡi voi đi trước rồi Vũ Quýnh và phái viên Lê Đức Tiệm cũng tiếp đi. Lê Sách, Lãnh binh Phiên An, cùng đốc thúc biền binh ra sức đánh, cướp được 1 chiếc thuyền giặc. Giặc lui về bờ bên hữu. Đoàn Dũ cùng Lãnh binh Bình Thuận là Lê Văn Nghĩa, nguyên án sát Tôn Thất Gia và phái viên Phạm Duy Trinh từ đồn Bình Đồng đến tiếp ứng. Lê Văn Nghĩa thúc quân bắn nhau với giặc, mình bị thương nặng, vẫn đứng vững nhơn nhơn không núng, Đoàn Dũ cũng chính mình cầm súng điểu sang bắn vào thuyền giặc giết chết luôn 4 tên. Quan quân đều hăng hái đánh mạnh, giặc chết và bị thương nhiều, phải rút lui.


    Ngày hôm sau, giặc lại chia quân cả thủy, bộ cùng tấn công bức bách đồn Bình Đồng, Phan Văn Song đem quân và voi ra đánh, giặc phải lui. Lại đuổi theo đến chỗ cỏ cây rậm rạp ở bên đường cái quan thì phục binh, giặc nổi dậy, súng to súng nhỏ bắn loạn xạ. Phan Văn Song dẫn đầu sĩ tốt bị trúng đạn chết ngay tại trận. Cai đội Cẩm y Trần Văn Du ra sức đối địch, cũng bị giặc hại, biền binh có người chết, người bị thương, đều tan chạy. Giặc bèn tập hợp 8 chiếc thuyền, lại sát tỉnh lỵ bắn đại bác vào, Lê Văn Nghĩa tuy bị thương, cũng ra đứng trước mặt trận. Quan quân các đạo nhất tề hợp đánh, giặc bị thương vong nhiều, lại kéo đi.


    Phạm Duy Trinh và Lê Đức Tiệm đem tình trạng tâu lên và nói : "Thuyền, súng, thuốc, đạn chứa đầy ở trong thành cũ không may bị giặc lấy mất. Mỗi khi đối địch với quan quân thì giặc tự cho nhiều thuyền là đắc sách và lấy súng đạn để thỏa lòng hung tàn. ở Biên Hòa hiện nay có 20 chiếc thuyền các hạng, 15 cỗ súng hồng y quá sơn, nhưng không có thuốc đạn, mà Bình Thuận chở đến giao cho thì thuốc súng chỉ được hơn 30 cân, đạn chì có 3.000 viên thôi".


    Vua dụ rằng : "Quan quân đánh giặc luôn mấy ngày, thế mà hăng hái giúp sức đánh lui được giặc, thật đáng hậu thưởng để cổ võ trong hàng quân. Lê Văn Nghĩa lâm trận bị thương, mà vẫn nhơn nhơn không núng lại bó vết thương, hết sức chống đánh, lấy ít thắng nhiều, nghĩa dũng thực đáng khen thưởng. Nay thưởng cho Lê Văn Nghĩa thêm hàm Chưởng cơ. Còn các biền binh Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Thuận được điều đi, đều cho theo để sai phái. Lại thưởng thêm 1 đồng kim tiền Phi long nhỏ và ngân tiền lớn, nhỏ mỗi thứ 5 đồng. Nguyễn Văn Thị cưỡi voi xông lên trước, ra sức đánh mạnh. Đoàn Dũ bắn điểu sang chết liền 4 tên giặc, thực là xuất sắc. Nguyễn Văn Thị, Đoàn Dũ mỗi người được thưởng ngân tiền Phi long lớn, nhỏ, mỗi thứ 5 đồng. Thứ đến công trạng của Lê Sách, cũng thưởng ngân tiền lớn, nhỏ mỗi thứ 2 đồng. Phạm Duy Trinh và Lê Đức Tiệm, mỗi người cũng được thưởng 2 đồng ngân tiền nhỏ. Các biền binh dự trận ấy, thưởng chung cho 500 quan tiền.


    Phạm Văn Song, Trần Văn Du đều hăng hái can đảm đi trận, quyên sinh, rất đáng thương tiếc ! Vậy Phan Văn Song được truy tặng Chưởng cơ, hàm Tòng nhị phẩm và thưởng thêm cho 100 lạng bạc, 200 quan tiền, lại cho 1 người con được tập ấm làm Hiệu úy Cẩm y. Trần Văn Du được truy tặng Vệ úy, hàm Chánh tam phẩm, thưởng thêm 50 lạng bạc, 100 quan tiền và sẽ xét rõ người kế tự liệu cho ấm thụ.


    Trần Văn Khanh, võ biền hèn kém, trước đã nhút nhát chùn lại, làm hỏng việc rồi ! Nay đem quân đi chống giữ, gặp giặc lại chạy, tội thực không thể tha được. Vậy chuẩn cho chém đầu ngay ở trước quân để răn bảo cho mọi người biết. Cùng đi trận ấy, Suất đội Nguyễn Văn Lợi, phạt 100 trượng, cách chức, bắt đi tiền khu, để gắng sức chuộc tội. Thự Tuần phủ Biên Hòa là Vũ Quýnh : đã có chỉ dụ về việc quân, cứ 3 ngày 1 lần tâu, thế mà từ khi lấy lại tỉnh đến nay, Quýnh để chậm trễ tin báo việc quân, lại không tự làm tập tấu đệ lên để báo về tình hình đánh giặc lần này. Như thế rất không hợp lý. Vậy truyền chỉ sức quở.
  • Chia sẻ trang này