0060.0065

5/1/16
0060.0065
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    án sát Lê Văn Lễ hiện đóng ở Biên - Long, cách chỗ quân thứ không xa, thế mà, về việc đánh giặc luôn mấy ngày, hắn cứ lặng yên, dường không nghe biết gì cả, như thế thực là khinh nhờn ! Vậy phải giáng xuống 2 cấp.


    Thự Tuần phủ Thuận - Khánh, Hoàng Quốc Điều đã từng mấy lần nghiêm dụ, bảo phải chuyển vận đạn đại bác, đạn chì và thuốc súng đến để giúp lúc nhu cầu khẩn cấp, thế mà nay thuốc súng chở đến chỉ có hơn 30 cân. Việc quan hệ đến quân cơ, sao được chậm chạp lầm lỡ như thế ! Vậy giáng 4 cấp. án sát Phan Phu không hay giúp đỡ được việc, cũng giáng 2 cấp.


    Các ngươi, Đoàn Khiêm Quang, Hoàng Quốc Điều, Phan Phu, phải nên gia tâm trù liệu thế nào, đem số đạn súng quá sơn cùng với thuốc súng mà chiếu chỉ đã sai đi đường bộ, và số đạn súng thần công do Khánh Hòa luân chuyển giải đi, hỏa tốc tải đến quân thứ để kịp sự việc quân cơ. Và đại đội quan quân chừng đến trung tuần tháng sau, lục tục đều tới.


    [Các ngươi] phải lập tức vát chở 4, 5 nghìn phương gạo lương, 4, 5 phương muối đưa đến tỉnh Biên Hòa dùng để cấp phát. Nếu có một khoản nào không được chu đáo thì các ngươi sẽ đều bị xử bằng quân luật.


    Sai truyền dụ cho các tỉnh từ Quảng Bình trở vào Nam : Phàm có gọi biền binh hạ ban và lưu ban tập hợp để làm việc công ở tỉnh, thì chuẩn cho cấp mỗi người mỗi tháng 1 quan tiền, 1 phương gạo. Khi việc đã yên, vẫn theo y lệ trước.


    Lại truyền dụ cho các Đốc, Phủ, Bố, án các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa : hễ thấy thuyền hiệu "Thụy long" từ Giang Lưu Ba đi việc công về đến hải phận tỉnh nào thì sức ngay bốc các hạng vật của công đưa lên đường bộ, rồi mau mau vát lấy ở tỉnh 10 cỗ súng quá sơn bằng đồng, bằng sắt và đạn dược theo súng, chuyển thêm trên dưới 1.000 cân thuốc súng, 7, 8 trăm phương gạo lương, giao viên quản thuyền là Phó vệ úy Nguyễn Tiến Khoan chở đi, theo Thảo nghịch Tả tướng quân hay Bình khấu Tướng quân tiến đi dẹp giặc.


    Lại sai tỉnh Bình Định đốc thúc 10 thớt voi chiến, 1 Suất đội ngồi cưỡi, 50 biền binh mà Quảng Nam đã phái đi trú phòng lần trước, chuyển đến Biên Hòa theo quan làm việc bắt giặc.


    Lại truyền dụ quan quân các đạo bắt giặc Nam Kỳ : Phàm khi ra trận, nếu ai hăng hái xông pha đánh trận mà bị thương hay bị chết, thì từ quản cơ trở lên, đợi chỉ hậu thưởng. Còn Suất đội, bị thương nhẹ thì thưởng tiền 5 quan, bị thương nặng 10 quan, chết trận thưởng bạc 10 lạng. Đội trưởng, bị thương nhẹ thưởng tiền 3 quan, bị thương nặng 6 quan, chết trận thưởng 3 lạng bạc. Lính, bị thương nhẹ thưởng tiền 2 quan, bị thương nặng thưởng 5 quan, chết trận thưởng 2 lạng bạc. Dân phu, thủ hạ bị thương nhẹ thì thưởng tiền 1 quan, bị thương nặng thưởng 3 quan, chết trận thưởng 1 lạng bạc.


    Vua dụ Nội các : "Nhân dân trong các thành hạt Gia Định cũ được thấm nhuần phong hóa đã lâu và được săn sóc nhiều năm, vẫn có tiếng là trung nghĩa, nay chẳng qua bị giặc cưỡng ép, nên mới đến nỗi đưa thân vào lầm lạc, chứ sơ tâm họ há có phải tự cam chịu thấp hèn cả đâu ? Trong lúc đánh dẹp, chắc họ không sao tránh khỏi hòn đạn, mũi tên, thực đáng thương lắm ! Vậy truyền dụ Tướng quân và Tham tán, thông sức cho quan quân các đạo : Phàm khi ra trận, phải nên lớn tiếng gọi to : Trong bọn giặc nếu có người nào bỏ giáo xuống, xin đầu hàng, thì tha cho tội chết, nếu cứ nhất thiết cam tâm theo giặc, cầm khí giới chống lại quan quân thì giết không tha".


    Đình thần tâu dâng bản án phản nghịch về bọn đầu sỏ giặc ở Bắc Kỳ là Lê Duy Lương, Lê Duy Nhiên, Lê Văn Lận, Phạm Doãn Dũng và Hoàng Kim Thịnh.


    Vua sai Thống chế Hồ Văn Khuê, Hình bộ Tham tri Bùi Phổ cầm cờ bài vâng mệnh vua, quản lĩnh lính và voi áp giải [bọn ấy] đến chỗ chợ đông, xử tử bằng hình lăng trì. Thủ cấp Lê Duy Lương, trước hết đem bêu hai ngày ở nơi ven sông tỉnh Biên Hòa thuộc Nam Kỳ, rồi lại chuyển ra Bắc Kỳ, đem bêu ở các hạt từ tỉnh Hà Tĩnh trở ra Bắc, mỗi hạt 3 ngày, sau khi đã bêu khắp rồi thì ném đầu lâu ấy xuống biển. Còn các tên khác, thì bêu đầu ở địa phương mà chúng đã làm việc can phạm để cho mọi người biết.


    Tên nghịch phạm ở Hưng Hóa là Đỗ Viết Trai (nguyên là thổ Huyện thừa ở Yên Lập), bị quan quân tiến đánh, bè bọn tan vỡ, Trai lẩn trốn ở vùng rừng Đà Bắc. Nguyên thí sai thổ lại mục là Xa Văn Quế bắt được. Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức đem việc ấy tâu lên.


    Vua nói rằng : "Đỗ Viết Trai đã làm quan của triều đình, lại dám giở giáo làm loạn, tội ác đầy rẫy. Vậy xử tử ngay bằng hình lăng trì. Xa Văn Quế trước đã can tội thất thủ, nay lại cố gắng ra sức bắt được và giải nộp quan tên yếu phạm. Công ấy cũng đáng khen. Vậy, chuẩn cho được tha tội trước, lại cho hàm Thổ lại mục, chuyên giữ đồn Vạn Bờ, và thưởng thêm 200 quan tiền.


    Phó vệ úy vệ Ban trực hậu dinh Thần sách là Lê Văn Bách, trước kia phái đi Hưng Hóa làm việc bắt giặc, vì bị bệnh, ở lại điều trị ở Sơn Tây, đến nay chết ! Tỉnh thần tâu lên, vua thương Bách có chút công khó nhọc, bèn ra lệnh cho truy tặng chức Vệ úy, hàm Chánh tam phẩm, cấp tiền tuất gấp hai.


    Thổ Tri châu châu Bảo Lạc, tỉnh Tuyên Quang là Nông Văn Vân làm phản.


    Trước đây, tỉnh Hưng Hóa có động, ở tỉnh đã truyền hịch đến động thổ dõng ngăn chặn đánh giặc, nhưng Vân không hưởng ứng, rồi lại can vụ án mạng. Thự Bố chính là Phạm Phổ, án sát Lê Bỉnh Trung đem việc ấy mà tham hặc xin cách chức, phái người đến bắt để xét hỏi, rồi chọn thổ Tri châu ở Đại Man là Nguyễn Quảng Khải quyền giữ công việc châu Bảo Lạc. Quảng Khải báo trước Vân biết. Khi người do tỉnh phải đến, Vân cầm binh khí đe dọa và nói : "Ta sắp làm việc lớn, chứ đâu thèm làm Tri châu ! Không bao lâu, ta sẽ đến tỉnh, cần gì phải đòi với hỏi, nay ta tha chết cho mày, hẵng mượn cái mặt mày để nhắn bảo quan tỉnh". Vân bèn thích 4 chữ "Tỉnh quan thiên hối" ((1) Quan tỉnh thiên tư, ăn hối lộ.1) vào mặt người tỉnh phái, rồi tha cho về. Lũ Phạm Phổ bèn bàn bạc rồi ủy ngay Lãnh binh Trần Hữu án đem biền binh và lấy thêm thổ dõng hai châu Đại Man, Vị Xuyên đi đến trước lùng bắt và đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Nông Văn Vân đã làm quan của triều đình, trước đây vì can án, đã chuẩn cho cách chức và xét hỏi lại dám tập hợp bè lũ, hiếp đáp sai nhân, rông rỡ nói ra những lời phản loạn, thật rất đáng ghét ! Vậy ra lệnh cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên, phái ngay 600 biền binh, 5 thớt voi chiến theo lũ Phạm Phổ và Trần Hữu án kíp đến châu Bảo Lạc, nhân lúc chúng mới tụ tập, sớm dập tắt đi, để tuyệt mầm ác. Lại sai 2 tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng đem quân chặn giữ địa hạt.


    Vua lại dụ Nội các rằng : "Cứ như lời tâu thì tên nghịch Vân nói nhiều câu ngông cuồng càn dỡ. Xét nghiệm tình hình, thì ra nó ấp ủ cái chí phản nghịch đã lâu không phải là mới có một lúc, thế mà lũ Phạm Phổ như tuồng tượng gỗ chẳng nghe biết gì, đến lúc điều động thổ dõng, nó lại lơ là khinh nhờn, không vâng theo pháp lệnh, sao không căn cứ vào sự việc mà tâu để ta biết rõ tình hình rồi một mặt tìm cách nã bắt không nói năng gì mà kẻ phạm không trốn tội được. Sao lại tham tấu rêu rao, rồi phái Nguyễn Quảng Khải là người vẫn thân với Vân đi quyền tạm làm việc trong châu, để cho Quảng Khải, bề ngoài vờ theo bề trong chống đối, ngầm thông với Vân sinh ra lắm việc thực là mờ tối không thông sự lý. Về việc giặc Vân có thích 4 chữ "Tỉnh quan thiên hối", tuy chưa rõ là quan tỉnh có thiên tư và ăn hối lộ hay không nhưng làm việc khinh suất, gây thành loạn lớn, tội ấy không thể chối cãi được.


    "Vậy, Phạm Phổ phải cách lưu rồi tuân theo lời dụ trước, đem quân tra xét, tầm nã nếu bắt được Nông Văn Vân mà không đến nỗi sinh sự, mới cho khai phục nguyên hàm ; nếu cứ sợ hãi rụt rè, hoặc dung túng lũ giặc, để nó lan thêm ra, tất phải tội nặng.


    "Lê Bỉnh Trung, một mực a dua, không có kế hoạch gì, phải giáng 4 cấp, chuẩn cho hiệp cùng Phạm Phổ, giúp làm công việc, nếu chóng xong việc, cũng cho khai phục.


    "Đến như một châu Bảo Lạc đều là con đỏ của triều đình, đáng nên bảo ban cho biết đường họa Phước, để tự sửa mình đổi mới. Vậy truyền dụ cho lũ Phạm Phổ, Lê Bỉnh Trung nên ra lệnh hiểu thị trước : Ai biết rõ được lẽ thuận, nghịch, không chịu cam lòng theo giặc, thì cho đến trước cửa quân, đầu hàng, thú tội, nếu bắt được đích phạm Nông Văn Vân thì thưởng 200 lạng bạc. Ai đã ra thú và theo quân quan đi đánh giặc, thì gia sản vợ con đều không bị xâm phạm cướp bóc. Nếu cứ mê hoặc mãi, không tỉnh ngộ, tất phải tịch thu tài sản, san bằng cửa nhà, không để sót lại tí gì, khiến cho chúng biết răn sợ, sớm tỉnh ngộ, quay đầu về, khỏi đến nỗi lan thêm ra, làm phiền lụy !".


    Dùng Phó vệ úy Nguyễn Văn Quyền làm quyền Lãnh binh, đi gấp đến Tuyên Quang, hiệp với Lãnh binh Trần Hữu án, tiến đến châu Bảo Lạc, thương lượng làm việc bắt giặc.


    Truy tặng Binh bộ Viên ngoại lang Nguyễn Văn Mưu làm án sát sứ.


    Nguyễn Văn Mưu trước làm Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình có lỗi, bị phát vãng đến quân thứ, để ra sức chuộc tội, sau đó được khai phục, nhưng vẫn theo đi làm việc bắt giặc, lặn lội khó nhọc, khi việc đã yên, có chỉ gọi về thì Mưu bị bệnh chết ! Vua nghe tin, lấy làm thương, cho nên có mệnh lệnh này.


    Sơn Tây bắt được rồi giết chết tên ngụy Chưởng dinh Đinh Công Hiển, là đồ đảng của tướng giặc Đinh Thế Đức đang trốn tránh. Thưởng cho người tố giác 10 lạng bạc.


    Đổi bổ Phi kỵ vệ Cửu đội làm Hùng sai, Ngũ đội và Phi kỵ vệ Thập đội làm Tân sai Nhất đội, lệ thuộc vào phủ đệ công chúa thứ 2, thứ 3 ; Khinh kỵ vệ Thập đội làm Trung sai Ngũ đội, lệ thuộc thự Tả quân Nguyễn Văn Hiếu sai khiến.


    Kiến An công tên là Đài phái Cai đội thuộc phủ là Lê Văn Quát đi Hà Nội mua ngựa. Quát nhân thể đi tắt lên Cao Bằng, yêu sách tiền tài của dân, bị người xét hỏi bắt được. Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : "Phiên phủ vốn không được phái người đưa văn thư đi các địa phương và can dự vào mọi sự việc ở ngoài. Điều này, trước đây đã chuẩn y lời bàn của Bộ mà thi hành rồi. Nay người của Kiến An công phái đi, chỉ là người riêng, làm việc riêng, vốn không giống với điều can thiệp việc ngoài ; nhưng không nên khinh suất, ủy thác tiểu nhân, để đến nỗi nó ra ngoài ngông nghênh sinh sự, vậy hẵng theo luật nhẹ, phạt lương thân công 1 năm. Còn Lê Văn Quát giao cho tỉnh Lạng Sơn tra xét xử nghĩ". Cuối cùng Quát bị tội chết.


    Cho Nguyễn Khoa Minh làm Hiệp biện đại học sĩ, lĩnh Hộ bộ Thượng thư, vẫn kiêm lĩnh Lại bộ Thượng thư, Tôn Thất Bằng làm Thần sách Hữu dinh Thống chế.


    Phó vệ úy vệ Dương võ thuộc Thần sách Trung dinh là Nguyễn Văn Lâm, trước kia phái đi Ninh Bình làm việc bắt giặc, đến lúc rút về Hà Tĩnh, nhân bị bệnh chết. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên. Vua đặc cách sai truy tặng chức Vệ úy, hàm Chánh tam phẩm cấp tiền tuất gấp đôi.


    Định lại lệ tiền biên việc công ở các nha phủ huyện.


    Phàm phủ nào là tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết mà thống hạt nhiều huyện, thì những huyện mà Tri phủ và phân phủ kiêm lý ấy hiện có đặt thêm chức Huyện thừa, phủ nào tuy không phải yếu khuyết mà công việc hơi nhiều đã được Tổng đốc, Tuần phủ sở tại xin đặt thêm Huyện thừa, thì mỗi năm cấp tiền tiêu về việc công là 60 quan. Phủ nào tuy là tối yếu khuyết, hoặc yếu khuyết mà thống hạt ít huyện, hoặc thống hạt nhiều huyện, mà lại là trung khuyết hoặc giản khuyết, và những huyện kiêm lý không đặt Huyện thừa thì mỗi năm cấp tiền 50 quan. Những huyện thống hạt, hễ huyện nào là tối yếu khuyết hoặc yếu khuyết thì mỗi năm cấp tiền đều 40 quan. Huyện nào dẫu không phải là yếu khuyết, mà công việc hơi nhiều, đã đặt thêm Huyện thừa, không kể đóng riêng chỗ khác hay đóng chung một chỗ, cũng cấp tiền 40 quan. Các huyện trung khuyết, hoặc giản khuyết khác mỗi năm cấp tiền đều 30 quan. Thổ, phủ huyện và những huyện mà phủ nha kiêm lý đều không được dự lệ ấy.


    Thuyền của bọn Phó vệ úy Thủy sư là Đỗ Chiêm Phác do Kinh phái đi, đến mũi Diên, bị gió cản lại, không tiến lên được. Vua nghe thấy, dụ cho tỉnh Bình Thuận sức chở đến chỗ gần và tiện, đậu lại, rồi phái vát quân và dân đem những súng đại luân xa, súng quá sơn và thuốc đạn ở trong thuyền đưa lên bộ, hỏa tốc đi gấp đường, chuyển vận đến quân thứ Biên Hòa. Những biền binh ở thuyền ấy cũng cho theo làm việc quân.


    Điều hết số voi trong định ngạch ở 2 tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa đưa đến Biên Hòa theo đại binh đi đánh dẹp.


    Thự Thống chế Thần sách Trung dinh là Hoàng Đăng Thận từ tỉnh Ninh Bình về vào yết kiến. Vua cho thực thụ ngay chức Thống chế, sai đi ngựa trạm, mau đến quân thứ Biên Hòa, sung chức Tham tán đại thần, quản lĩnh biền binh 5 vệ mới đặt tên là : Nghiêm oai, Hùng oai, Tráng oai, Phấn oai, Thần oai, theo Thảo nghịch Tướng quân Phan Văn Thúy đánh giặc. Lại phái 60 biền binh vệ Cẩm đi 1 chiếc thuyền Tuần hải, đem theo 5 cỗ súng quá sơn bằng đồng và thuốc đạn kèm theo súng, do đường biển xuất phát, đến hải phận Phú Yên hoặc Khánh Hòa, chuẩn cho tùy tiện lên bộ, một nửa theo Hoàng Đăng Thận, một nửa theo Đoàn Dũ sai phái, còn đạn súng thì do sở tại gấp đến quân thứ.


    Sai Thống chế Thần sách Hữu dinh là Tôn Thất Bằng kiêm lĩnh ấn triện Trung dinh.


    án sát Biên Hòa là Lê Văn Lễ phải tội, mất chức. Đổi bổ Binh bộ thự Hữu thị lang Hoàng Văn Đản làm án sát Biên Hòa.


    Vua dụ Nội các rằng : "Lê Văn Lễ trước đã không giữ vững được thành trì, ta đã đặc cách gia ơn cho cách lưu, sau nhân lấy lại được tỉnh thành, tưởng Lễ dự có công lao, cũng cho khai phục nguyên hàm. Nay xét rõ tình hình thì là thự Tuần phủ Vũ Quýnh đi đầu quân lính đánh lui được giặc, thì công và lỗi đủ đền bù cho nhau. Còn Lê Văn Lễ thì chỉ đóng quân ở trạm Biên - Long, không hề có chút công nào ! Như thế há đáng lạm dự ơn điển ? Sau đó lại không dò thám để báo tình hình quân sự. Khi đốc thúc quân và voi thì nhiều lần tâu báo đều tỏ ra không thông hiểu sự lý, thực là lười biếng khinh nhờn ! Vậy tức thì cách chức, cho làm tiền khu để ra sức chuộc tội. Nếu vẫn cứ sợ hãi rụt rè thì chuẩn cho đem ra trước quân ngũ chém đầu ngay".


    Hộ bộ thự Lang trung Trần Công Chương nghĩ mình là chỗ tôi con khi vua còn ở tiềm để ((1) Tiềm để : chỗ nhà vua ở trước khi lên ngôi.1), tình nguyện theo quân đua sức đánh giặc. Vua cho lệ thuộc theo Thảo nghịch Hữu tướng quân sai phái.


    Vua sai Nội các truyền dụ cho Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy và Tham tán Trương Minh Giảng rằng : "Nay đại binh đông như mây họp, chia 3 đạo đi đường thủy, đường bộ đánh giáp lại, chắc có thể định ngày giết được quân giặc. Duy tháng trước lộng nồm, chu sư có lẽ chưa thẳng đến Phiên An được. Nếu Tướng quân và Tham tán đem đại đội quân và voi đến tổ giặc trước thì nên phải 10 phần thận trọng : thường rình dò, đặt quân do thám từ xa, chia quân ra, có trước sau, đầu, cuối ; quân tiếp viện, quân đánh dẹp, cùng giúp nhau. Ta vốn biết chỗ ấy đường thủy, đường bộ có nhiều lối, phải dò hết đường sá để phòng quân giặc đón chặn, và, vùng đó lại có nhiều chỗ bùn lầy, khi voi chiến đuổi giặc, cũng nên để ý. Nếu đánh một trận mà lấy lại được tỉnh thành thì được thưởng bậc trên. Nếu giặc nương tựa vào thành cố chết giữ, thì những kho thóc nguyên đặt ở ngoài thành, tìm cách cướp lấy, thì càng tốt, nếu không cướp lấy được, thì nã súng bắn đổ thành, dùng lửa đốt cháy kho cũng đừng tiếc. Phàm làm việc lớn, không nên tính đến phí nhỏ. Tướng quân và Tham tán nên khéo thể theo ý này.


    "Đến như hành quân, thì kỷ luật phải nghiêm ngặt rõ ràng để cho người ta yên chí, thưởng phạt phải cho tin chắc để cho người ta nức lòng. Nếu ai có sợ hãi rụt rè, dẫu là bọn chánh, phó vệ úy và tướng biền, cũng chém đầu để rao trong quân, chớ tha ; ai có công lao, tuy là bọn tiểu tốt dân phu hay kẻ theo hầu coi ngựa, cũng hậu thưởng chớ tiếc. Lại nên hiểu thị rộng ra, để nhân dân hạt này đều biết lánh chỗ xấu đến chỗ tốt, đều tới cửa quân xin đi đua sức, hoặc chia đặt đội ngũ, để họ được hăng hái tòng chinh, hoặc cho tụ lại thành đoàn để họ canh giữ các đồn đón chặn đảng giặc. Nếu có một vài kẻ ngu mờ, bị giặc dỗ dành mê hoặc, nay biết sớm quay đầu lại, bắt chém tên đầu sỏ hoặc cừ khôi của giặc, thì không những được tha tội trước, lại hậu thưởng thêm nữa. Kẻ nào bỏ giáo quy thuận, hoặc mật báo tình hình quân giặc, cũng được liệu lượng khen thưởng. Nếu trong quân giặc, biết rõ lẽ thuận, nghịch, cùng bảo nhau tự giải tán về làm ruộng, thì cũng được tha thứ để được cùng nhau đổi mới.


    "Lại nên phái người đắc lực lẻn đến Vĩnh Long và Định Tường, thông báo tin tức, và hằng ngày chuyển báo cho Biên Hòa hoặc Bình Thuận để cho biết tin. Nếu sự trạng đánh giặc có việc quan hệ trọng yếu, thì phải lập tức phi ngựa tâu lên, còn công việc tầm thường cũng nên 3 ngày 1 lần tâu, cho đỡ lòng ta trông ngóng.


    "Phàm các thứ quân nhu, lương thướng, súng ống, thuốc đạn đều phải nên trù tính trước. Việc gì nên tâu thì tâu, còn thì chuẩn cho thông tư đến chỗ cận tiện, điều động lấy mà dùng. Cần phải cái gì cũng có ngay và thừa thãi.


    "Vả lại, Tướng quân và Tham tán là đại thần trong nước, vẫn nổi tiếng là người có mưu mô, thao lược, nay nhận trách nhiệm nặng này, chắc rằng làm rộng mưu mô, mong được ổn thỏa, hẹn ngày sớm dâng công to. Ta hằng ngày mong cờ đỏ báo tin thắng trận đấy".


    Truy cách quan chức của Nguyễn Văn Quế, Tổng đốc An - Biên và Bạch Xuân Nguyên, Bố chính Phiên An.


    Vua dụ đình thần rằng : "Phiên An là một tỉnh lớn ở Nam Kỳ. Nguyễn Văn Quế là một quan to, chuyên việc cầm quân ở ngoài, ngày thường điều khiển không đúng sự nghi, việc gì cũng bỏ bê trễ, thậm chí đối với lũ lính Bắc thuận ((1) Bắc thuận : những lính đào ngũ ở cơ Bắc thuận.1) và Hồi lương ((2) Hồi lương : những lính đặt ở đội Hồi lương.2) cũng không biết ngăn ngừa từ trước, lại cho là chỗ tâm Phước, đáng tin cậy, để ở bên mình, đến nỗi nghịch Khôi, là đồ tiểu yêu gây nên việc biến phi thường : quan quân trong một thành phần nhiều bị nó hiếp chế, làm cho vạ lây ra tỉnh gần bên, liên lụy đến cả dân thường, phải phiền đại binh đến đánh. Thế thì tội Nguyễn Văn Quế không phải là tội tầm thường như tội để mất thành trì. Bạch Xuân Nguyên giữ Bố chính ty, cùng làm việc với Nguyễn Văn Quế, thế mà không giúp đỡ công việc trong tỉnh, chỉnh đốn sửa sang bờ cõi, chỉ biết bới nhặt vết xấu, đàn hặc tội người, còn mình không tự kiểm điểm, có nhiều vết xấu về tham ô, nhũng lạm, để đến nỗi ở chỗ kẽ nách đều là quân thù, gây thành biến loạn. Tội làm lầm lỡ việc nước ấy cũng không phải là nhỏ.


    "Lũ ấy tuy đã bị giặc giết rồi, nhưng, nếu còn sống thì triều đình tất cũng khép tội nghiêm ngặt, quyết không tha. Nay suy xét tận gốc sự việc, thì phép nước không thể khoan thứ được. Vậy, Nguyễn Văn Quế và Bạch Xuân Nguyên đều phải truy đoạt quan chức. Về phần Nguyễn Văn Quế, mới được phong là An Lương bá và cho thế tập tước phong, cũng đều bị cách luôn cả, để cho phép nước được nghiêm túc. Đó là ta giữ một lòng rất công bằng, rất ngay thẳng, trong đó thực không có ý nâng lên hay dìm xuống gì cả !".


    Tuần phủ Lạng - Bình Hoàng Văn Quyền, tâu rằng : "Vợ của nghịch Khôi là em gái Nông Văn Vân ở Bảo Lạc, những thân thuộc của nó ở Lạng Sơn đều đã lần lượt bị bắt, nhưng mới được quá nửa. Gián hoặc chúng nó đi lại thông tin tức cho nhau, còn chưa thể biết được. Vả lại, 2 tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, số quân có ít. Vậy xin đòi tất cả những lính hạ ban thuộc các cơ Lạng hùng, Cao hùng, chia phái ngăn chặn các nơi". Vua y cho.


    Thổ phỉ Ninh Bình lại lén lút nổi lên ở huyện Phụng Hóa, huyện Yên Mô, cướp bóc của cải đồ vật của dân các xã Phước Lai, An Bạc, Vĩnh Khương, rồi đi thẳng vào vùng rừng Thanh Hoa, Hộ lý Tuần phủ Ninh Bình, Lê Nguyên Hy tức thì phái binh đánh bắt và đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Nay kẻ đầu sỏ bọn thổ phỉ ở địa phương Thanh Hoa, Ninh Bình, là lũ Lê Duy Lương, hiện đã chụm đầu chịu giết rồi, đó chẳng qua là lũ nhỏ nhặt tàn rạc, linh tinh, nhân kẽ hở, lén lút ló ra thôi, những đường chúng đi, hướng về phận rừng Thanh Hoa, thì tỏ ra việc làm của Nguyễn Khả Bằng và Nguyễn Đăng Giai chưa trọn. Vậy truyền dụ họ phải mau mau phái ngay viên nào đánh giặc đắc lực, đem biền binh, hợp sức với Ninh Bình, hội tiễu, để quét sạch giặc dã ở địa phương. Nếu ai làm việc bất lực, để cho lũ thổ phỉ ấy còn có thể ẩn hiện trong rừng, gây sự nhiễu dân, thì lỗi nặng ấy khó từ chối được. Còn biền binh ở tỉnh hạt, chuẩn cho lưu cả ở hàng ngũ để sai khiến".


    Hộ lý Tuần phủ Hưng Yên, Vũ Tuấn, tâu báo về việc đê điều trong tỉnh, bị nước lên to, thường xảy ra việc nguy hiểm.


    Vua liền phê bảo : "Phải đốc sức quân, dân, ra sức hộ đê". Nhân đó bảo Công bộ rằng : "Từ trước đến nay, gặp mùa nước lên, việc hộ đê điều được vững bền là toàn nhờ quan quân, dân chúng, đồng lòng, hợp sức, phòng ngừa trước khi có việc. Nay tuy qua ba tiết phục ((1) Ba tiết phục : Sơ phục, trung phục và mạt phục. Sau tiết Hạ chí, ngày canh thứ 3 là sơ phục, ngày canh thứ 4 là trung phục. Ngày canh thứ 1 sau tiết lập thu là mạt phục.1) nhưng ở kỳ nước lên mùa thu, đê điều các hạt càng nên nhất luật phòng bị khẩn hơn. Nên thông dụ cho các Đốc, Phủ, Bố, án các tỉnh Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Ninh Bình : đốc đồng các phủ, huyện, phải xét xem các đoạn đê thuộc hạt mình, chỗ nào rất khẩn yếu, thì phải có nhiều sọt đựng đất, phên nứa và nhất thiết những đồ để chống lụt, chuẩn bị đặt sẵn ở trên mặt đê, rồi nghiêm sức quân và dân ngày đêm phòng giữ. Nếu gặp nước to, thế cấp bách, thì phải thượng khẩn sang hộ. Hễ có một việc gì không được chu đáo, tất bị lỗi nặng, quyết không thể đổ cho sức nước để cầu khoan giảm được. Vả lại, việc phòng đê, là việc rất quan hệ đến lợi hại về đời sống của dân. Ta dậy sớm, ăn muộn, bận lòng lo lắng chưa từng một khắc nào ngơi. Các ngươi từ Đốc, Phủ, Bố, án cho đến các phủ, huyện, đều là kẻ bề tôi giữ đất nước, nên thể theo ý ta, phòng hộ cho khéo, cốt sao cho đê điều được vững, xóm làng được yên, nếu hờ hững không gia tâm, để đến nỗi lỡ xảy tai biến, thì không những phép luật triều đình rất nghiêm, mà các ngươi là phận tôi con, đêm nằm nghĩ bụng có thể yên được không ?".


    Thăng : Phó vệ úy Nhị vệ Kinh tượng là Nguyễn Văn Tạo lên thự Vệ úy, vẫn quyền làm công việc Nhất vệ và Tam vệ, Phó vệ úy vệ Nội thủy là Đoàn Kim lên thự Vệ úy, vẫn kiêm quản cơ Kiên chu.


    Đảng giặc Phiên An lại xâm lấn Biên Hòa, tỉnh lỵ lại thất thủ.


    Trước đây, đảng giặc đã thua, nghịch Khôi sai ngụy Hậu quân Phó tướng Nguyễn Văn Bột đốc suất binh thuyền từ Nhà Bè kéo lại, lại sai riêng một chi đánh trạm Biên - Long. Thự Tuần phủ Vũ Quýnh, Lãnh binh Nguyễn Văn Thị nghe tin thám báo, tức thì sai Phó lãnh binh Phiên An là Giả Tiến Chiêm đi đến trạm Biên - Long, hiệp theo nguyên án sát Lê Văn Lễ, Quản cơ cơ Hòa thắng tỉnh Khánh Hòa là Vũ Văn Đặng, tùy cơ chống đánh, rồi cùng với quan quân các đạo đặt thủ sở ở bốn mặt tỉnh lỵ để đợi.


    Rồi 19 chiếc thuyền giặc chia làm 3 ngả đánh 3 mặt tiền và tả hữu của tỉnh lỵ. Giặc dùng nhiều súng quá sơn, súng thần công lớn và súng điểu sang, tên độc bắn loạn xạ.


    Về mặt tả, Lãnh binh Phiên An là Lê Sách đốc suất Quản cơ cơ Định dũng Bình Định là Đặng Văn Quyến thúc quân bắn súng lớn trúng 2 chiếc thuyền giặc : nhiều tên giặc bị ngã nhào chết. Đặng Văn Quyến bị tên độc bắn trúng, cũng chết. Nguyễn Văn Thị cưỡi voi lên trước để tiếp ứng. Thuyền giặc mới lui về bờ bên hữu.


    Về mặt tiền, Lãnh binh Bình Thuận là Lê Văn Nghĩa đối trận với giặc, giặc sợ, chỉ lơ lửng ở giữa sông, bắn vào chứ không dám tiến đến sát gần.


    Về mặt hữu, Cẩm y Phó vệ úy là Đoàn Dũ, đốc suất Phó quản cơ cơ Phú tráng tỉnh Phú Yên là Trần Văn Thiều bắn nhau với giặc, Thiều bị chết vì trúng tên độc.


    ở chi tả, thuyền giặc kế đến, nhất tề đổ bộ, đánh sát nhau : quân ta bị thương, chết nhiều. Đoàn Dũ cũng bị vài vết thương, phải lui về mặt hậu. Các đạo quân của Vũ Quýnh và Lê Sách liền đó cũng rút chạy.


    Một cánh quân của giặc ập đến đường giữa : Lê Văn Nghĩa và Phó quản cơ Tả cơ Thuận nghĩa là Nguyễn Văn Lý đều chết tại trận. Nguyên án sát Tôn Thất Gia bị giặc bắt làm tù binh.


    Giặc bèn cho Nguyễn Văn Bột làm ngụy Trấn phủ, Hồ Văn Hãn (nguyên thự Hộ bộ Lang trung, ngụy xưng là Hộ bộ Thiêm sự) làm ngụy Tuyên phủ, Hoàng Kim Lượng (nguyên Thư ký quân Chấn võ, can án bị cách chức) làm ngụy Phó tuyên phủ, chiếm giữ Biên Hòa.


    Việc lên đến Vua. Vua dụ Binh bộ rằng : "Lũ giặc chỉ có 19 chiếc thuyền, trong đó chắc cũng không có mấy đứa, thế mà biền binh các đạo do lũ Vũ Quýnh đem đi hơn 1.000 người. Hai cánh quân của Lê Văn Nghĩa và Lê Sách đánh nhau với giặc dần có thế thắng, chỉ vì một cánh quân của Đoàn Dũ không hăng hái tiến lên, lại rút lui trước, cho nên giặc mới thừa cơ, tiến vào bức bách, để đến nỗi bị thua như thế. Chiếu theo quân luật, thực khó chối cãi được. Song nghĩ : Đoàn Dũ đã bị thương, thì trước hãy giáng 4 cấp. Vũ Quýnh, Lê Sách, Nguyễn Văn Thị đều giáng 2 cấp, để cho đới tội lập công.


    "Những người chết trận là : Lê Văn Nghĩa, trước đây đánh phá lũ giặc, lấy lại tỉnh lỵ, rất có công lao. Đặng Văn Quyến ra trận không sợ, đến nỗi bỏ mình, đều đáng thương cả. Vậy, truy tặng Lê Văn Nghĩa chức Chưởng cơ, trật Tòng nhị phẩm, thưởng thêm 100 lạng bạc, 200 quan tiền ; truy tặng Đặng Văn Quyến chức Phó vệ úy, trật Tòng tam phẩm, thưởng thêm 60 lạng bạc, 100 quan tiền.


    "Trần Văn Thiều, Nguyễn Văn Lý đều vì làm hỏng việc, mà bị thương vong, đáng nên thôi không thưởng nữa, duy có điều là đi trận bỏ mình, tình cũng đáng thương, vậy, thưởng mỗi người 20 lạng bạc".


    Tôn Thất Gia đã bị giặc bắt, đưa đến Phiên An. Nghịch Khôi cưỡng ép bắt lạy, Tôn Thất Gia đem điều đại nghĩa mắng giặc, cuối cùng vẫn không chịu khuất. Giặc giận sai voi giày chết. Rồi giặc than rằng : "Một gã thư sinh gan dạ như thế đáng sợ thật !". Giặc sai người chôn chất cho. Sau, Tướng quân và Tham tán dò hỏi được tình trạng, đem việc tâu lên.


    Vua nói rằng : "Tôn Thất Gia, năm xưa, ở bên ta, không có gì hơn người, nay lại làm được điều nghĩa, không tham sống, mắng giặc mà chết. Thực khó được người trung liệt như thế. Vậy nên biểu dương để khuyến khích những người hết lòng trung nghĩa nghìn đời". Bèn truy tặng chức án sát sứ, xóa bỏ hết những tội bị giáng, cách đã ghi ở dưới tên, lại thưởng thêm 60 lạng bạc, 100 quan tiền, cấp cho người nhà và sai tra xét rõ người kế tự để liệu cho ấm thụ".


    Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy và Tham tán Trương Minh Giảng đánh phá được giặc ở trạm Biên - Long.
  • Chia sẻ trang này