0060.0066

5/1/16
0060.0066
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Trước kia, nghịch Khôi sai bè đảng nó là ngụy Thủy quân Lưu Tín đem hơn 20 chiếc binh thuyền, đánh úp trạm Biên - Long, quân thuộc hạ của Quản cơ cơ Hòa thắng là Vũ Văn Đặng tự rút lui và tan tác trước. Lê Văn Lễ, Giả Tiến Chiêm cùng Phiên dõng Phó quản cơ là Lê Văn Do và nguyên Trấn thủ Phiên An, bị cách chức, đi hiệu lực là Trần Văn Thăng (lũ Do và Thăng trước được tỉnh phái đi tuần biển, nhân gặp cuộc biến loạn của nghịch Khôi bèn đem hơn 100 lính và thuyền 4 chiếc do tỉnh phái trước, đến Biên - Long, theo quân thứ Lê Văn Lễ) chống quân địch không nổi đều lui chạy đến trạm Thuận - Biên. Phan Văn Thúy và Trương Minh Giảng từ tỉnh Bình Thuận đem đại đội quân và voi vừa đến, tức thì chia phái Vệ úy Hữu vệ dinh Thần cơ là Trần Văn Trí, Phó vệ úy Trương Văn Phượng đốc suất vệ binh cùng Lê Văn Lễ đi trước. Vệ úy Hữu vệ dinh Tiền phong là Nguyễn Văn Đoài, Phó vệ úy Ngô Tá Đàm đem vệ binh cùng Lê Văn Do, Trần Văn Thăng đi thứ nhì. Lũ Phan Văn Thúy thân đốc suất biền binh các vệ, các đội nối nhau tiến lên.


    Giặc đặt quân phục ở hai bên dọc đường rừng rậm và lối đi chật hẹp, bắn cả súng lớn và súng nhỏ. Cai đội dinh Thần cơ là Nguyễn Văn Môn, Cai đội cơ Tĩnh dinh man là Trịnh Văn Thải đều bị giặc bắn chết. Quân ta vừa đánh vừa đi. Giặc lui về bờ sông Biên - Long, kết thành thế trận để chống cự. Quan quân hăng hái đều tiến đánh dữ, giặc thua to, hoặc nhảy xuống sông, hoặc xuyên qua rừng, chạy ra bốn ngả để trốn. Quan quân bắt, chém hơn 40 tên phạm, thu được hơn 10 chiếc thuyền và súng ống khí giới vô kể, bèn thu quân đóng ở trạm Biên - Long, rồi đem tin thắng trận tâu lên, và nói : "Nay quan quân các đạo và hương dõng đều tập hợp ở địa phận Phước An, mà ở Hưng Phước kho chứa không có mấy. Những biền binh ở Biên Hòa lui về, thuốc đạn gần hết, tuy đã phi tư cho tỉnh Bình Thuận tiếp tục tải đến, nhưng có lẽ đến hơn 10 ngày mới có thể tiếp tế được.


    "Vả lại, huyện hạt Phước An là chỗ địa đầu rất xung yếu, tất nên chia đặt đồn trại, phòng bị nghiêm ngặt hơn nữa, mới có cơ nghi tiến đánh được. Vậy xin hẵng lưu lại để trù liệu, ước 10 ngày sau, tiền và lương vận đến, của dùng về việc quân hơi thư sẽ phải tùy cơ chia đường tiến ngay. Xin sắc sai bộ nên thượng khẩn trù biện, cấp thêm lương ăn, thuốc đạn để giúp về quân nhu".


    Vua dụ rằng : "Đại binh đi chuyến này, gặp giặc mai phục ở rừng rậm, giữ chỗ hiểm bắn súng ra, bày trận chống đánh mà quân ta hăng hái thẳng tiến, thu được thắng lợi lớn, đã đủ làm phấn khởi tinh thần sắc bén của quân ta, lại làm chán nản lòng chiến đấu của lũ giặc. Xem từ lâu, ta rất vui lòng và khen ngợi.


    "Vậy thưởng cho : Tướng quân Phan Văn Thúy, 1 tấm bài đeo bằng ngọc trắng có chữ "Phước Thọ", 1 chiếc đồng hồ báo thức có 3 kim chỉ giờ, giây, phút và 1 đồng kim tiền Phi long hạng lớn ; Tham tán Trương Minh Giảng, 1 tấm bài đeo bằng ngọc trắng có chữ "Phước Thọ", 1 đồng kim tiền hạng lớn.


    "Thưởng : Quản vệ đương đầu đi trước là Trần Văn Trí và Trương Văn Phượng, mỗi người 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, ngân tiền lớn, nhỏ, mỗi thứ 5 đồng. Biền binh đạo ấy được thưởng tiền 500 quan.


    "Thưởng : Các Quản vệ kế tiếp tiến theo là : Nguyễn Văn Đoài và Ngô Tá Đàm, mỗi người 1 đồng kim tiền nhỏ, ngân tiền lớn nhỏ mỗi thứ 3 đồng. Biền binh đạo ấy được thưởng tiền 400 quan. Các Suất đội dự đi trận ấy mỗi người được thưởng 2 đồng ngân tiền hạng lớn. Còn biền binh các vệ, các cơ và các đội thưởng chung 600 quan tiền. Trong ấy nếu có nhân viên nào xuất sắc thì Tướng quân và Tham tán liệu thưởng để khuyến khích.


    "Truy tặng những người chết trận : Cai đội Nguyễn Văn Môn làm Phó quản cơ, trật Tòng tứ phẩm. Trịnh Văn Thải làm Cấm binh Cai đội, trật Chánh ngũ phẩm, mỗi người được thưởng thêm 10 lạng bạc.


    "Biền binh có người nào bị thương chết, đều chiếu cách thưởng mà cấp cho.


    "Duy xét trong tập tấu có nói : Hẵng lưu lại 10 ngày rồi mới tiến quân, như thế rất là thất sách. Vả lại, quân ta đi đánh xa hàng nghìn dặm, một trận thắng lợi lớn, thanh thế đầu tiên làm người phải sợ, chắc rằng lũ giặc đều đã kinh hãi, sao không nhân dịp ấy mà tiến lên ? Huống chi tỉnh lỵ Biên Hòa không có thành lũy, giặc tuy lấy được, nhưng tất không giữ nổi, thì ta nên mau chóng tiến quân lấy lại : đã giữ được chỗ yếu hại, lại có thể nhờ đấy để lấy lương thực, sao lại bàn dừng quân lại, há không phải là để cho giặc được rảnh tay ? Đến như lương thướng và quân nhu ở đằng sau thì ta trước đã nghiêm giục vận đến tiếp tế rồi, chớ phiền quá lo !


    "Vậy trong Tướng quân và Tham tán nên kịp thời, sớm cổ võ tinh thần quân lính, nhân dịp mũi nhọn quân ta đương sắc bén, tiến lần thứ nhất lấy lại Biên Hòa, tiến lần thứ hai lấy lại Phiên An, bắt, chém tên nghịch Khôi, cứu dân trong vòng ở chỗ nước sâu lửa cháy, thì lũ các ngươi và quan quân đi trận đó tất đều được hậu thưởng cả".


    Lại dụ các quan địa phương từ tỉnh Bình Định trở vào Nam : Phái người đi dò xem 2 đạo thuyền quân của Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương và Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng đã qua hải phận hạt nào thì lập tức đến mau để đón, rồi truyền chỉ cho Tướng quân và Tham tán : Hiện nay, bộ Binh đã được thắng lợi lớn, nhật kỳ diệt được giặc chỉ sớm hay chiều thôi, thủy sư nên mau chóng tiến lên, đạo quân nào đến tỉnh Bình Thuận, thì lập tức chỉnh đốn khí giới, xếp đặt đoàn thuyền rồi tuân theo sắc chỉ trước. Tống Phước Lương lĩnh thủy quân của đoàn thuyền mình, cùng với quan quân của lũ Phạm Hữu Tâm và Nguyễn Hữu Chính đã phái trước đây do cửa biển Vĩnh Long, Định Tường ; Trần Văn Năng lĩnh thủy quân của đoàn thuyền mình, cùng với quan quân của lũ Nguyễn Văn Niên hoặc Nguyễn Văn Hòa đã phái trước đây, do các cửa biển Phiên An : nhất tề tiến lên, để sớm báo tin thắng trận.


    Vua lại sai bộ Hộ truyền dụ cho lũ Hoàng Quốc Điều, Đoàn Khiêm Quang và Phan Phu ở Bình Thuận rằng : "Nay đại binh tiến đến Biên - Long, các đồ quân nhu rất khẩn, các ngươi nên tức thì phát gạo kho 5.000 phương, tiền 5.000 quan, muối 50 phương, hỏa tốc tải đến quân thứ để chi dùng. Và tỉnh hạt nếu có thuyền buôn chở gạo đậu lại, trong thuyền thấy chứa gạo dăm ba nghìn phương, thì chuẩn cho chiểu giá trả tiền không câu nệ là đắt hay rẻ, rồi lập tức phái quan quân cỡi thuyền ấy và lái thuyền, thủy thủ, chở mau đến Bình Thuận, Biên Hòa hoặc cửa biển Xích Lam, đốc sức đưa lên đường bộ, hoặc dùng thuyền nhỏ chuyển vận đi, cần trong 10 ngày đến được quân thứ. Lại nữa, thủ sở Phước Thắng : bên tả thuộc tỉnh Biên Hòa, bên hữu thuộc tỉnh Phiên An, trước kia, những người buôn gạo phần nhiều từ chỗ ấy ra cửa biển. Vậy, cũng nên phái người dò hỏi, nếu có thể tập hợp được một hai thuyền gạo, tức thì trả tiền, lấy gạo để cung cấp cho quân. Đó cũng là việc khẩn yếu. Các ngươi phải nên hết lòng, hết ý, chính mình chia nhau đi làm cho chóng, nếu tiếp tế được đều đặn và luôn luôn, thì sau khi việc yên, tất được ban thưởng ưu hậu, nếu hơi chậm trễ hoặc để đến nỗi lầm lỡ việc quân, cũng tất phải trị tội theo quân luật".


    Lại sai Binh bộ phái 50 biền binh ở ty Cảnh tất và viện Thượng tứ đi chiếc thuyền An hải đi việc công về, phối hợp chở 2.000 cân thuốc súng, 10.000 viên đạn chì, 1.000 phương gạo, rồi cùng những biền binh đã đi thuyền ấy, đưa đến quân thứ Biên Hòa, đợi thuyền quân của Bình khấu Tướng quân tiến đến, liền cho theo lệnh sai phái.


    Thuyền của Tham tán Nguyễn Văn Trọng đến hải phận Quảng Ngãi gặp gió đông nam thổi mạnh, phải lui đậu ở đảo Đại Chiêm thuộc Quảng Nam, dâng sớ nói: "Thuyền hiệu Phiên An đang đi là thứ thuyền hơi lớn, sóng gió lỗi kỳ, khó tiến chóng được. Vậy xin cùng với con và vài chục thuộc hạ lên bộ, đi tới quân thứ Nam Kỳ, rồi ủy người cùng đi chuyến ấy là Vệ úy vệ Hữu nhất dinh Vũ lâm, Hoàng Văn Lý, quản lĩnh thuyền quân, chuyển tư cho các địa phương, hễ thuyền quân đi đến hạt nào thì hạt ấy hộ vệ đưa đi".


    Vua liền dụ sai Nguyễn Văn Trọng theo đường trạm, đi mau đến Bình Thuận, đợi thuyền quân của Bình khấu Tướng quân, sẽ cùng tiến luôn thể.


    Lại dụ tỉnh Quảng Nam vát mau lấy 3 chiếc thuyền Điện hải, giao Hoàng Văn Lý phân phối Kinh binh cùng ngồi để thẳng tiến đến [quân thứ].


    Thăng : Phó vệ úy vệ Ban trực hữu là Trần Văn Loan lên thự Vệ úy, Cai đội Nguyễn Công Cẩn lên thự Phó vệ úy, đốc suất biền binh trú phòng ở Quảng Nam và toàn vệ hai pháo đài An Hải, Điện Hải lên đường, tiến đến Bình Thuận, theo tỉnh thần chia cắt phòng giữ ; thự Vệ úy vệ Trung nhị dinh Vũ lâm là Nguyễn Văn Dụ đem 25 người trong ty Hộ vệ và ty Cảnh tất cùng với 300 biền binh dinh Vũ lâm, đến thay, trú phòng hai pháo đài An Hải, Điện Hải.


    Kiến An công Đài cho rằng : "Vợ lẽ mình là cháu gọi nghịch Khôi bằng cậu, vậy xin truất xuống làm nữ tì". Vua bảo rằng : "Nó là vợ lẽ ngươi, đã hơn 10 năm, biết gì đến việc nhà họ ngoại ? Huống chi cháu gọi bằng cậu, theo luật, cũng không bắt tội đến. Nay đã truất làm đầy tớ gái, thì chuẩn cho đoàn tụ. Vả lại, việc ấy đối với ngươi, lại không can thiệp gì, bất tất phải quá sợ hãi nên cứ theo lệ thường, vào chầu hầu, từ nay, nên bỏ việc giao thiệp với ngoài, thì khỏi lụy, cẩn thận về lời nói việc làm, thì ít lỗi. Ta làm chủ thiên hạ, quyết không vì con em mà bỏ phép công. Ngươi phải kính tuân lời dạy của ta, chớ quên".


    Chuẩn định : Từ nay trở đi, phàm các quan viên văn võ tại chức và các quan quân ở nơi lưu thú nếu ai chết, theo lệ được vát thuyền đưa về nguyên quán, thì do địa phương liệu phái chinh thuyền ((1) Chinh thuyền : chỉ những thuyền ván, thuyền nan, không đầy 7 thước ta, của các tư gia mà có nộp thuế (xem Hội điển, mục "Tào chính", năm Minh Mệnh thứ 7).1) hoặc đại dịch thuyền ((2) Đại dịch thuyền : chỉ những thuyền tư gia, hằng năm, tình nguyện đóng thuế xuất nhập cảng để khỏi phải vận tải của công (xem Hội điển, mục "Tào chính", năm Gia Long thứ 16).2) của hạt mình, nếu trong hạt không có thuyền thì chuyển tư các hạt lân cận cấp cho.










    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển c



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 7. Đê các xã Sài Quất, Sài Thị, Nhuế Dương (đều thuộc huyện Đông An) thuộc tỉnh Hưng Yên, đều vỡ, nhà cửa súc sản đều phần nhiều chìm ngập, đắm đuối. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : "Dân ta tai hại như thế, xem tờ tâu, ta đau lòng, nhỏ nước mắt ! Vả trước kia, cứ theo lời tâu báo, đê bối đã luôn xảy những việc nguy hiểm, tức thì ta đã phê sai đốc sức gìn giữ hộ đê, nay lại có tai hại không ngờ này, thực nơi thừa hành không đủ sức, chứ sao lại đổ cho mưa gió dập dồn và chất đất không bền chắc ?


    "Hộ phủ Vũ Tuấn, trước hết giáng 4 cấp, án sát Nguyễn Nhược Sơn giáng 2 cấp ; những viên phái đi hộ đê là Lãnh binh Trần Văn Tảo, Quản phủ Nguyễn Văn Huy, Tri phủ Nguyễn Văn Hiển đều trước phải cách chức tức thì phái thị vệ mang cái côn đỏ, do đường trạm đi đến đem lũ Trần Văn Tảo đánh 20 trượng, chuẩn cho đến chỗ thợ làm gắng sức làm việc để chuộc tội. Và đối với việc vớt người chết đuối, cứu đám lửa cháy, không thể trì hoãn được một khắc. Vậy ra lệnh cho Vũ Tuấn và Nguyễn Nhược Sơn : một người ở lại, làm việc hàn khẩu chỗ vỡ đê, một người tức tốc tải muối, gạo và tiền, chính mình nghiêm đốc các văn võ phủ, huyện chia đi đường thủy, đường bộ, xét xem chỗ nào hiện đang bị ngập lụt thì phát chẩn trước, rồi khám rõ tình hình bị tai nạn thương tổn tâu tiếp lên.


    "Sai Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát, là Phan Bá Đạt, đem 4 người trong khoa đạo ruổi đến Hưng Yên, hội đồng với lũ Vũ Tuấn, đi khám những dân bị thủy tai. Phàm người nào bị tai hại nhẹ, thì chia hạng chẩn cấp một lần. Người nào bị hại nặng thì trước hết liệu cấp gạo ăn dăm ba ngày hoặc 10 ngày, rồi lại kế tiếp cấp cho một lần nữa. Nếu ở tỉnh, tiền và gạo không đủ, thì tư ngay lấy ở chỗ gần như Nam Định hoặc Hải Dương. Lại nghĩ : Ngày phái viên đến còn chậm, nên dụ cho Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm : "Nếu việc ở tỉnh hơi rảnh có thể chính mình đi được càng tốt, bằng không thì lập tức ủy một viên Bố chính hay án sát, cùng với Ngự sử Nguyễn Du và Nguyễn Trực Phương (nguyên phái giúp việc xây thành) đi mau đến làm việc phát chẩn".


    Sai Hữu tham tri bộ Lại Hà Duy Phiên quyền lĩnh ấn triện viện Đô sát.


    Đê ở các xã Đông Xá (thuộc huyện Gia Lâm), Phương Trạch (thuộc huyện Đông Ngàn) thuộc Bắc Ninh ; các xã Thượng Cát (thuộc huyện Từ Liêm), Hương Lang, Thụy Dương (đều thuộc huyện Chương Đức) thuộc về Hà Nội và xã Phương Độ (thuộc huyện Phước Thọ) thuộc Sơn Tây đều vỡ cả ! Tỉnh thần đều phi tấu lên.


    Vua liền xuống dụ nghiêm quở Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ, Bố chính Bắc Ninh là Đoàn Văn Trường, Bố chính Hà Nội là Nguyễn Hữu Khuê, Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức, Bố chính Sơn Tây là Đỗ Huy Cảnh và các viên phủ huyện sở tại, đều trước phải cách lưu cả. Rồi ra lệnh thượng khẩn cho sang hộ đắp lấy những chỗ bị vỡ. Những nơi bị thủy tai nếu có tình trạng đói rét bức thiết thì chuẩn cho một mặt tâu lên, một mặt lấy tiền và gạo phát chẩn.


    Vua nhân bảo Hiệp biện đại học sĩ Nguyễn Khoa Minh rằng : "Đê tỉnh Hưng Yên đã vỡ, thì sức người đã chia sẻ rồi, sao tỉnh Sơn Tây ở thượng lưu cũng vỡ, hoặc giả cửa biển có nhiều chỗ nghẽn tắc, nước sông chảy không kịp mà đến như vậy chăng ?". Bèn dụ sai Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm đi khám xem các cửa biển thuộc hạt mình, hiện nay có khoét sâu thêm rộng bao nhiêu, hay là vẫn nguyên như cũ, hoặc bồi nông thêm lên tình hình thực tại thế nào, lập tức cứ thực tâu lên.


    Sau đó, Đặng Văn Thiêm Phước tâu : "Các cửa Liêu, cửa Ba Lạt, cửa Diêm Hộ đều sâu hơn năm trước, duy cửa Lác là không sâu. (Cửa Liêu : kỳ tháng 7 năm trước, khi nước triều lên, sâu 7 thước 5 tấc, khi nước triều xuống, sâu 1 thước 5 tấc, năm nay, khi nước triều lên, sâu 8 thước 5 tấc, khi nước xuống, sâu 2 thước 1 tấc. Cửa Ba Lạt : năm trước, khi nước triều lên, sâu 5 thước, khi nước xuống, sâu 1 thước 5 tấc ; năm nay, khi nước triều lên, sâu 6 thước 2 tấc, khi nước xuống, sâu 1 thước 8 tấc. Cửa Diêm Hộ : năm trước, khi nước triều lên, sâu 8 thước, khi nước xuống, sâu 3 thước ; năm nay, lúc nước lên, giống như năm trước, lúc nước xuống, sâu 3 thước 5 tấc. Cửa Lác : năm trước, khi nước triều lên, sâu 5 thước 8 tấc, khi nước xuống, sâu 1 thước 4 tấc ; năm nay, khi nước triều lên, sâu 5 thước 4 tấc, khi nước xuống, sâu 1 thước 1 tấc). Con các cửa bể khác như : cửa Trà Lỳ, cửa Lân, cửa Lạn đều giống như năm trước".


    Tỉnh Thanh Hoa có hoàng trùng (ăn hại lúa).


    Thăng Tư vụ bộ Lễ, Phạm Quang Nguyên lên thự Đốc học Hà Tĩnh.


    Giá gạo tỉnh Quảng Ngãi lên cao. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên.


    Vua nghĩ rằng : "Vụ thuế mùa hạ đương khẩn, giá gạo tất ngày càng cao lên, chuẩn cho dân : về thóc tô chính cung năm nay hoãn đến năm Minh Mệnh thứ 15, thứ 16, mới thu. Lại cho rằng thóc chứa ở kho tỉnh có ít, bèn phát gạo kho ở Kinh 10.000 phương, phái thủy quân chở đến. Dân có ai muốn đong gạo kho, thì giảm giá bán cho. Lại sai tiếp tục chuyển vận thóc kho Quảng Nam 4, 5 hộc để trữ ở Quảng Ngãi".


    Vua nhân bảo Nội các rằng : "Tỉnh Quảng Ngãi là kiêm hạt của tỉnh Quảng Nam, dân gian ngẫu nhiên gặp sự gạo ăn khó khăn như thế, mà thự Tuần phủ Đỗ Khắc Thư không biết điều đình ngay trước khi việc xảy ra, lại không tâu báo sớm, hình như đổ cho có Bố chính và án sát, mà không quan tâm gì đến, như thế thì còn đặt chức Tuần phủ kiêm thống ấy làm gì nữa ? Sai truyền chỉ ban quở".


    Hộ lý Tuần phủ Hưng Yên Vũ Tuấn đến khám chỗ đê vỡ ở tỉnh hạt, những người bị tai hại, mỗi người được cấp gạo 1 uyển, tiền 6 đồng, muối 2 sao, rồi làm sớ đưa tâu lên.


    Vua dụ rằng : "Dân bị thủy tai, nếu ở chỗ thấp lắm, thì dù có gạo, muối chắc cũng không thổi nấu ở chỗ nào được. Còn những chỗ ở hơi cao, mà chỉ cấp cho một số tiền, gạo nhỏ mọn, thì lấy gì mà sinh sống được ? Ngươi nên lập tức cùng với Nguyễn Nhược Sơn và các cán viên thuộc tỉnh chia đi những chỗ bị nước tràn tới, chỗ nào hại lắm thì liệu nấu cháo thổi cơm hằng ngày phát chẩn, chỗ nào tầm thường thì liệu cấp một lần mỗi người 1, 2 tiền, 10 uyển gạo, có thể ăn được dăm ba ngày, rồi lần sau sẽ lại cấp tiếp, để đỡ lúc cấp bách. Đợi khi nước rút cạn, sẽ hội đồng với các viên Kinh phái, đi khám phân biệt hạng nghèo lắm, hạng nghèo vừa, và sự nên chẩn cấp thế nào cho phải, tức thì tuân theo lời dụ trước, làm cho ổn thỏa".


    Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu rằng : "Nước sông lên to gấp hai lúc thường, đê điều ở huyện Chân Ninh ((1) Chân Ninh : nay là huyện Nam Trực thuộc tỉnh Nam Định.1) thuộc tỉnh hạt, hiện đang khẩn yếu. Thần đã đốc sức sang hộ, tưởng có thể giữ yên được. Đê các chỗ khác đều vững, nay nước sông đã rút xuống được 1 thước 1 tấc".


    Vua dụ rằng : "Nay nước sông hơi giảm, cũng nên để ý phòng hộ, chớ cậy rằng đã giữ vững được mà chểnh mảng phòng bị".


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Xứ Bắc Kỳ, trước đây vì có thổ phỉ lén lút ló ra, đã có chỉ gọi tập hợp các biền binh hạ ban ở lại hàng ngũ để làm việc, đợi đến tháng 8 sẽ lại xuống chỉ thi hành, nay công lớn tuy đã xong rồi, nhưng 4 tỉnh Hà Nội, Hưng Yên, Sơn Tây, Bắc Ninh, gần đây nước sông lên mạnh, đê vỡ, biền binh sở tại lại phải chia đi sang hộ và chuyển vận tiền, gạo để phát chẩn, sai phái đã nhiều. Tỉnh Ninh Bình cũng là một nơi xung yếu, phải phòng bị thêm. Vậy truyền dụ cho các đốc, phủ năm tỉnh ấy : chuẩn cho các hạng biền binh trước đây đã dự vào việc đi bắt giặc đều được về nguyên quán nghỉ ngơi, ngày 1 tháng 8 họp tất cả ở hàng ngũ tại tỉnh, đến tháng 9 sẽ chiểu lệ chia ban.


    Sai Thự đốc Hải - Yên, Nguyễn Công Trứ, phái 2 quản cơ thuộc tỉnh, đều đem 4, 5 trăm biền binh đến Hưng Yên và Bắc Ninh, theo các Tổng đốc, Tuần phủ chia phái đi hộ đê, đợi đến tháng 8, nước sông yên lặng, thì rút về hàng ngũ.


    Tổng đốc Hà - Ninh, Đoàn Văn Trường, tiếp tục báo : "Đê ở các xã Hòa Xá (thuộc huyện Hoài An), Đồng Lư (thuộc huyện Nam Xang), Ngoại Khê và Lại Xá (đều thuộc huyện Thanh Liêm) bị vỡ".


    Vua dụ phải khẩn cấp đắp hàn khẩu lại. Lại ủy Bố chính Nguyễn Hữu Khuê thân đi xem xét dân gian, có ai đói rét, thì chuẩn cho đem tiền và gạo để phát chẩn. Còn các viên phủ, huyện sở tại đều phải cách lưu, chuẩn cho gắng sức làm việc ở chỗ làm đê để chuộc tội.


    Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức, tâu nói : "Nước sông lên to, đê điều các huyện thuộc hạt như Tiên Phong, Phước Thọ, Đan Phượng, Yên Sơn, Bạch Hạc, An Lạc, An Lãng đều bị sạt nứt, thần đã hết sức phòng hộ rồi. Còn lần trước đê Phương Độ vỡ, nhân dân đói khó, thần đã quyền tạm phát 1.000 hộc thóc kho xay ra gạo, để phát chẩn rồi".


    Vua dụ rằng : "Đê điều hạt ngươi nhiều chỗ nguy hiểm, xem tờ tâu, ta càng thêm lo nghĩ. Phải nên tìm cách sang hộ thế nào cho được cẩn thận để khỏi phải lo ngại. Đến như việc phát chẩn nên thể theo lòng ta khiến cho dân bị thủy tai đều được nhuần thấm ơn huệ thực sự".


    Trong Kinh kỳ mưa.


    Vua vời Kinh doãn là Trần Tú Dĩnh hỏi rằng : "Lúa ruộng thế nào ?". Tú Dĩnh thưa rằng : "Hơi được thấm nhuần". Vua nói : "Khoảng tháng 8 nếu không lụt, thì có thể mong được mùa. Chỉ đáng lo là mùa hạ bị hạn đã lâu, mùa thu tất có lụt mà thôi !".


    Điều Nguyễn Công Tú, thự Hữu thị lang bộ Lễ, làm thự Hữu thị lang bộ Binh.


    Tổng đốc Bình - Phú Vũ Xuân Cẩn, tâu nói : "Lính tỉnh được chia phái đi làm việc bắt giặc, chỉ còn lại hơn 60 người, thì có vẻ đơn chiếc yếu ớt".


    Vua liền sai rút 100 biền binh trú phòng ở Phú Yên về tỉnh đóng giữ. Lại dụ tỉnh Quảng Nam chọn 8 thớt voi mạnh cùng đi với biền binh giỏi cỡi voi, tỉnh Quảng Ngãi phái 200 lính tỉnh, đều đi đến Bình - Phú để đóng giữ.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Nhiều lần ở Kinh đã phái thuyền quân của bọn Đỗ Chiêm Phác, Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn, Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hữu Chính, Nguyễn Văn Niên, Trần Công Điều đến Nam Kỳ làm việc bắt giặc. Trước đây, đã có chỉ cho đoàn thuyền của lũ Đỗ Chiêm Phác, Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn, Trần Công Điều nếu đến Bình Thuận thì theo quyền điều khiển của Thảo nghịch Hữu tướng quân ; đoàn thuyền của lũ Phạm Hữu Tâm, Nguyễn Hữu Chính tức thì đến các cửa biển Long - Tường, tuỳ cơ đánh dẹp. Vừa rồi nghe nói thuyền quân các đạo lục tục có đạo đã đến Bình Thuận, và gần đây, mưa gió thuận tiện, chưa biết đã nhất luật đến đủ cả chưa. Vậy truyền dụ cho Hoàng Quốc Điều, Đoàn Khiêm Quang ở Bình Thuận : một viên nên đến nơi, thăm dò đoàn thuyền ấy nếu đã đến đủ hoặc đã đi qua mũi Diên được quá nửa rồi, thì bảo đậu ngay lại ở cửa biển hoặc bờ biển thuộc các trạm Thuận Phương, Biên - Long, rồi gấp báo cho Thảo nghịch Hữu tướng quân điều khiển. Nếu do cửa biển Phước Thắng đến thẳng Biên - Long, hội đại binh, tiến đánh, thủy bộ cùng giúp nhau thì vẫn tốt. Nếu tình thế có chỗ chưa tiện, thì lập tức nên liên kết thành đoàn thuyền đợi thuyền quân của Thảo nghịch Tả tướng quân tiến đến, thì cùng đi mau đến các cửa biển Long - Tường để chịu lệnh sai phái đánh dẹp giặc cho được vạn toàn. Đã không nên đi riêng rẽ và tiến cách khinh suất, cũng không được mang lòng sợ hãi rụt rè, thấy có thể tiến được mà không tiến. Cần nên xem cơ hội mà làm, cốt cho đúng khớp, thì thế quân ta được kết hợp mà sức quân giặc bị phân tán, tự có thể đánh một trận bắt được giặc, mà công to hoàn thành".


    Thuyền quân của lũ Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, Tham tán Lê Đăng Doanh, Tán tương Trần Chấn đến cửa biển Thị Nại thuộc Bình Định, lấy cớ rằng thuyền quân của Tham tán Nguyễn Văn Trọng chưa đến tâu xin tiến đến cửa Cù Huân, thuộc Khánh Hòa để đợi.


    Vua dụ rằng : "Thuyền hiệu của Nguyễn Văn Trọng lớn và nặng, đi chậm hơn, trước đây vài ngày còn ở đảo Đại Chiêm. Ta đã chuẩn cho do đường trạm, đi đến Bình Thuận trước. Biền binh cũng đổi sang thuyền khác, tiếp tục đi rồi. Nay gió thuận buồm xuôi, các ngươi nên tức thì tiến thẳng đến Bình Thuận để gặp nhau, bất tất phải đậu lại ở cửa Cù Huân để đợi nữa".


    Thự Tuần phủ Biên Hòa là Vũ Quýnh và Lãnh binh Nguyễn Văn Thị, Phó vệ úy vệ Cẩm y Đoàn Dũ, Lãnh binh Phiên An là Lê Sách, phái viên Lê Đức Tiệm, Phạm Duy Trinh và biền binh các đạo từ tỉnh Biên Hòa lui đến trạm Biên - Long, hội với đại binh.


    Vua sai truyền dụ cho Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng rằng : "Khi ấy quan quân các đạo ở Biên Hòa có hơn một nghìn mà thuyền giặc chỉ có 19 chiếc, chẳng qua trên dưới dăm bảy trăm tên thôi, như thế thì số quan quân đã gấp hai giặc rồi, huống chi vừa mới nổ súng, đã bắn trúng 2 chiếc thuyền giặc, giết chết nhiều người trong bọn giặc. Thế là quân ta thắng thế rồi, sao lại đến nỗi bị thua ? Trong đó tất có kẻ nhát sợ, chạy trước, làm kinh động lòng quân, thành ra hỏng việc. Các ngươi phải lập tức xét rõ, đương lúc ấy, ai là một, hai người chùn lại, chạy trước, thì không cứ là tướng, biền hay binh, dõng, cũng chuẩn cho lập tức đem chém để rao ở trước quân. Và nay quan quân và voi chiến do các tỉnh đều đến, đều lệ thuộc Tướng quân và Tham tán điều khiển. Phải nên lựa tính chia đặt, để cho đều có hệ thống, thì kẻ gọi người thưa mới nhạy bén được. Từ nay trở đi, có sai phái gì, nên truyền bảo trước rằng : Phàm ra trận, gặp giặc, ai nấy đều nên có tiến, không lui, nếu còn dám nhút nhát chùn lại như trước, chuẩn cho lập tức chém ngay không phải tâu lại nữa, để trong quân đều biết kỷ luật nghiêm minh, mọi người đều có tinh thần sắc bén, hăng hái gấp trăm phần, đua sức mạnh tiến lên, tất có thể hẹn ngày thành công được".


    Phái viên là Kiểm thảo Nguyễn Song Thanh từ Nam Kỳ về tâu rằng : "Dò thám được tin các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên, tháng trước, đều đã thất thủ, lại nghe nói Thủ ngự đồn Cần Thơ là Nguyễn Văn Thuận bị giặc bắt hiếp phải theo, đã từng đến thủ sở Phước Thắng đầu thú, nhưng bị nguyên án sát Biên Hòa là Lê Văn Lễ bắt giam, rồi lũ giặc chợt đến, Văn Lễ lại để cho Văn Thuận đi".


    Vua bảo Nội các rằng : " Nguyễn Văn Thuận nguyên có quan chức, trước đây theo giặc, là vì bức bách dữ lắm, chắc không phải quả là bản tâm. Lê Văn Lễ đoán là dối trá, vội bắt giữ Thuận, nếu nó quả là trá hàng, há có nhẽ nào một mình tự sừng sững đến ? Nếu còn chưa rõ tâm sự nó thì chi bằng cứ để cho đi lại, hỏi hết được tình trạng bên giặc, và sai hướng dẫn thuyền ra vào, há không phải là một cơ hội tốt ư ? Vậy mà nhân lúc nó đến thì bắt giam rồi lại giao cho giặc như thế có phải là làm tuyệt tấm lòng đầu thú của nó và khiến nó quyết chí theo giặc đó không? Việc này tuy đã qua, nhưng cũng nên hỏi rõ nguyên ủy. Nay án sát mới Biên Hòa là Hoàng Văn Đản hiện đóng ở Biên - Long, nên dụ sai mật hỏi Lê Văn Lễ xem việc ấy có đích thực là do cầu công mà vu hãm hay không, tức thì cứ thực tâu lên để đợi chỉ. Còn đối với Nguyễn Văn Thuận, nếu biết tông tích nó đâu thì chiêu dụ trở về, không thì từ từ hỏi rõ nhân tiện tiếp tục tâu lên". Sau đó, Hoàng Văn Đản tâu nói : "Dò được rằng Nguyễn Văn Thuận cùng con và gia thuộc hơn 10 người, nhân viên thủ ngự Phước Thắng là Phạm Văn Thụy dẫn đến quân thứ Lê Văn Lễ xin đua sức làm việc để chuộc tội, lệ thuộc để sai phái, đến khi giặc đánh Biên - Long, Thuận đánh nhau với giặc, bị giặc giết chết".
  • Chia sẻ trang này