0060.0067

5/1/16
0060.0067
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua nói rằng : "Nguyễn Văn Thuận trước bị giặc cưỡng ép, rồi chính mình lại đem con em ra đầu quân, đua sức làm việc, sau lại đánh nhau với giặc, bị chết trận, thì tâm tích đã rõ ràng. Vậy chuẩn cho thưởng ngay 20 lạng bạc, giao cho người nhà".


    Thự Tuần phủ Biên Hòa là Vũ Quýnh, phái viên Phạm Duy Trinh và Lê Đức Tiệm tâu rằng : "Tuân theo sắc chỉ, bọn thần đã điều tra về đầu mối cuộc nổi loạn ở Phiên An, thì : Lê Văn Khôi là đầu sỏ, thứ đến Nguyễn Văn Bột, lũ Thái Công Triều, Lê Đắc Lực, Nguyễn Văn Chắm, Dương Văn Nhã đều là bè đảng, rồi sau đến lũ cam tâm theo giặc chịu chức của giặc, như : Nguyễn Hàm (con Nguyễn Văn Thành (chết) ngụy xưng là Tòng súy phủ kiêm Ngũ khuông vệ), Mạc Hầu Hy (con Mạc Hầu Dy, ngụy xưng là Thủy quân kiêm lĩnh Ngũ dinh, trước can án chở lậu gạo bị giam ở ngục Phiên An), Vũ Công Tước (ngụy xưng thủy quân) cộng hơn 70 người. Còn người giữ tiết nghĩa cao, không chịu khuất bị giặc giết chết, duy có 2 người là Phó quản cơ cơ Phiên võ Bùi Văn Thuận và Đề lao Nguyễn Như Xuân mà thôi.


    "Và tỉnh Phiên An từ sau khi chia đặt tỉnh chia hạt, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế mỗi tháng ngồi công đường 2 lần, hoặc 10 ngày 1 lần, việc trong tỉnh đều do Bạch Xuân Nguyên quyền tạm chuyên làm. Việc gì cũng hà khắc, và xét nét từng ly từng tí. Từ Lãnh binh đến Suất đội, hơi có việc gì không như ý, thì mắng nhục ngay. Những ván gỗ do cơ binh ở thành đi lấy về, đều thu giữ cả. (Trước đây phát giác vụ án về ván gỗ của lũ nghịch Khôi, phàm ván gỗ do cơ binh ở thành lấy về, sức sai, thu giữ tất cả). Nhà cửa quân và dân ở trong thành đều bắt rỡ bỏ hết đi, người ta đều oán cả. Đến như nết xấu về những vụ tham ô cũng có nhiều. Và vụ án về ván gỗ, thuyền bè mà ngụy Khôi, ngụy Bột đã can phạm, đã có chỉ sai nghiêm xét, mà Nguyễn Chương Đạt không từng xiềng xích giam cấm, lại thường đêm đến thả cho về nhà. Trại quân trong thành mỗi trại có 5, 6 hoặc 10 người canh giữ, quân chính trễ tràng biếng nhác, cho nên lũ kia mới nhân lúc sơ hở nổi lên biến loạn". Sớ ấy sai phi ngựa đệ vào tâu.


    Vua dụ rằng : "Lời dụ trước có câu bảo "phi ngựa vào tâu" là vì lúc đầu việc mới phát, chưa biết hết tình hình giặc, nay thì việc đã rõ ràng, mà ngoài đó ra, lại không dò xét được tình trạng gì khác, thì hà tất phải câu nệ ? Vả, gần đây việc bắt giặc ở Nam Kỳ, ngựa trạm đi lại bận rộn, nhọc mệt, mà không biết liệu tính nặng nhẹ, động việc gì cũng cho chạy ngựa trạm đệ trình không tiếc sức người, sức ngựa. Vậy truyền chỉ ban quở".


    Thự Tuần phủ Thuận - Khánh là Hoàng Quốc Điều, Tả thị lang bộ Hình, Đoàn Khiêm Quang, tâu nói : "Đoàn thuyền của lũ Quản vệ Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn, Nguyễn Hữu Chính, Đỗ Chiêm Phác, Phạm Hữu Tâm, do Kinh phái đi, lần lượt qua tỉnh hạt, đã nhân lúc thuận gió, tiến đến quân thứ Biên Hòa. Duy thuyền quân của Quản vệ Hậu dinh Thần cơ là Nguyễn Văn Niên, Trần Công Điều, mới đến tấn sở Phan Ri. Bọn thần đã sức đem biền binh lên bộ, tiến đi, súng ống đạn dược cũng tiếp tục chuyển vận theo quân, còn thuyền cứ để ở lại địa phận tấn sở".


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Cứ như thế thì đại đội biền binh của Thảo nghịch Hữu tướng quân, đường thủy đường bộ đều hội lại, chắc đã có nhiều, còn thuyền quân của Tả tướng đi thẳng đến Long - Tường, chưa tập hợp được đông. Vậy, truyền dụ cho Tham tán Hoàng Đăng Thận cùng Hoàng Quốc Điều và Đoàn Khiêm Quang xét xem 3 vệ Tráng oai, Phấn oai, Thần oai phái đi trước, nếu còn ở tỉnh, thì trích ra 1 vệ, cho đi thuyền hiện để ở đấy, nếu đã đi qua giới hạt rồi, thì đợi 2 vệ Nghiêm oai, Hùng oai phái đi sau, một khi đến tỉnh, thì trích lấy 1 vệ, cho đi thuyền ấy, hễ thấy đoàn thuyền của Tả tướng quân đến, thì lệ thuộc vào theo sai phái".


    Vua lại cho rằng : "Đại đội quan quân đường thủy, đường bộ, hiện đã như mây họp lại, chẳng sớm thì muộn, giặc tất phải thua vỡ, hoặc theo đường biển, hoặc theo đường núi, tìm lối chạy trốn. Vậy truyền dụ các tỉnh từ Quảng Bình đến Quảng Yên sức trước cho các tấn sở và thủ sở ở ven biển đều liệu phái thuyền quân tuần tiễu ở mặt biển và những nơi hoang vắng trên các hòn đảo. Còn các tỉnh từ Bình Thuận đến Nghệ An : Phàm những hạt có đường núi, có thể trông ra xứ Bắc Kỳ, cũng sức cho thổ mục, thổ dân sở tại chiểu theo địa hạt mà ngăn chặn".


    Thự Tuần phủ Hưng Hóa Ngô Huy Tuấn, tâu nói : "Tỉnh hạt có huyện 16 châu, đất rất rộng rãi, huống chi ngoài thì giáp địa giới nhà Thanh, trong thì lũ giặc còn có kẻ ẩn nấp chưa bắt hết được. Vậy xin cho Sơn Tây phái thêm biền binh 2 cơ chia đi đóng giữ. Lại xin cho thổ mục, đặt làm thổ Tri huyện và Lại mục ở huyện Thanh Xuyên và châu Văn Bàn".


    Vua dụ rằng : "Hạt ngươi, địa thế rộng và xa, việc canh phòng vẫn không thể sơ sài được, nhưng phải nên xử trí có phương pháp, thì kẻ gọi người thưa, mới mong được việc, há nên hạn chế trong số 2 cơ được ư ? Nhưng, lính tỉnh có ít, mà Tổng đốc Lê Văn Đức có trách nhiệm kiêm hạt, vậy chuẩn cho kỹ, liệu phái, không nên nhiều, cũng không nên ít, cốt đủ để phòng bị nghiêm cẩn và yên bờ cõi là được. Đến như việc chọn người thổ mục, trước giờ vẫn noi theo thói cũ, hoặc tư vị người thân yêu, hoặc lợi về của đút lót, nên phần nhiều không chọn được người tốt, dần dà đến nỗi gây nên đầu mối tai vạ ! Cái gương về việc Đinh Công Tiến, Hoàng Kim Thịnh hãy còn sờ sờ đấy ! Ngô Huy Tuấn, ngươi cần nên gột rửa thói cũ, một mực chí công, cẩn thận chọn lấy người có thể ủy thác sai khiến được, rồi tâu xin bổ chức". Sau đó, Lê Văn Đức xin phái biền binh cơ Nhất thuộc Hữu quân đến Hưng Hóa đóng giữ, mỗi năm 1 lần đổi, nếu có việc nên phái thêm, xin tùy nghi điều khiển.


    Vua y theo lời tâu.


    Hộ lý Tuần phủ Hưng Yên, Vũ Tuấn, hặc tâu rằng : "Nguyễn Đức Nhuận, nguyên Tuần phủ bị cách, khi đổng lý việc đắp thành, chi lạm tiền công 120.000 quan, mà không biên vào sổ chi, tiêu ; vật hạng đã mua lại phần nhiều không đúng cách thức". Nhuận, trước đây đã được phái đi làm việc bắt giặc ở Ninh Bình, được khai phục làm Viên ngoại lang, có chỉ vời vào Kinh để lựa dùng, thì vừa gặp lời tấu của Vũ Tuấn dâng lên. Nhuận bèn bị cất chức giữ lại, để tra xét.


    Sau đó, Hình bộ cho rằng : Nguyễn Đức Nhuận trước can về tội dung túng người nhà, dọa nạt người để lấy của. án dâng lên nên xử tội đồ, xin đợi án sau sẽ kết nặng.


    Vua sai lập tức cách chức, nghiêm cấm, định nghĩ tâu lên. Đến lúc thành án kể những tang tiền chi lạm của công có đến vài vạn, nên Nguyễn Đức Nhuận cùng với chức Giám tu là Lãnh binh, Trần Văn Tảo đều xử tội trảm giam hậu. Khi ấy, Nhuận đã chết trước rồi, cũng sai làm rõ tội danh để răn kẻ xâm phạm của công và làm lỡ việc.


    Chuẩn định : Từ nay trở đi, phàm biền binh ở Kinh hay ngoài các tỉnh, sau khi tựu ban, bị bệnh mà vẫn ở hàng ngũ thì cho theo lệ, vẫn cấp lương tháng. Việc này được chép làm lệnh.


    Biền binh Nhất vệ thuộc Hậu bảo từ quân thứ Bắc Kỳ trở về.


    Vua nghĩ rằng : Biền binh ấy đi đánh giặc đã lâu ngày, cho về Bình Định thăm gia đình, nhằm ngày 1 tháng 9, chiểu theo lệ, chia ban, nhập ngũ.


    Lũ giặc Ninh Bình lại lén lút ló ra ở xã An Thị, huyện Phụng Hóa, đốt nhà, cướp của nhân dân. Việc lên đến vua. Vua sai Hộ phủ Lê Nguyên Hy đem quân và voi đi đánh.


    Cho Phó lãnh binh Hải Dương là Đồng Bá Huyên làm Vệ úy, trật Chánh tam phẩm, sung chức Lãnh binh Hải Dương.


    Điều nguyên Bố chính Thanh Hoa là Trịnh Đường làm Hữu thị lang bộ Lễ.


    Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức, tiếp tục báo rằng đê các xã Hương Tảo, Tảo Hạ (đều thuộc huyện Phước Thọ), Bồ Sao, Định Hương (đều thuộc huyện Bạch Hạc) đều vỡ, và nói : "Hiện nay sắc trời quang tạnh, nước đã rút xuống 3 thước 5 tấc".


    Vua dụ rằng : "Ngươi nên nhân lúc nước xuống này, tìm cách khơi thông, ngõ hầu trách khỏi được hại ứ tắc. Rồi thượng khẩn đắp lại những đoạn đê vỡ và tất cả những chỗ đê nguy hiểm, để chống lụt sau này. Còn đối với các viên phủ huyện sở tại, chuẩn cho cách chức cả, nhưng vẫn cho ở lại làm việc để gắng sức chuộc tội".


    Hải Dương và Ninh Bình, vì đê các hạt lân cận bị vỡ, nước lụt tràn sang, cũng bị ngập nhiều ruộng nương. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : "Lần lượt thấy báo, nước sông ở Bắc Kỳ ngày đã rút xuống, chỉ vì dòng sông hạ du nhiều chỗ úng tắc, nên nước ứ ở ruộng không cạn sớm được. Vậy truyền dụ cho các Tổng đốc và Tuần phủ các tỉnh Nam Định, Hưng Yên, Hải Dương đều nên thân đi khám xét, chỗ nào ngoài đê nước thấp mà trong đê nước cao, thì chuẩn cho lập tức liệu xem các đoạn đê ở hạ du, khai ra 5, 7 chỗ để nước ứ trong ruộng chảy ra sông, đợi thế nước trong đê và ngoài đê ngang nhau, thì lấp lại. Và Hộ phủ Ninh Bình là Lê Nguyên Hy hiện đi làm việc bắt giặc, thì sai án sát Nguyễn Bá Thản đốc đồng các viên phủ huyện đi khám ở miền hạ du xem chỗ nào có thể làm cho thế nước thông đi được, thì không cứ đê công hay đê tư, chuẩn cho tức thì tùy thế khai thông, cần cho nước ứ sớm cạn, ấy là việc cốt yếu".


    Lại mở cục đúc tiền ở Hà Nội.


    Vua dụ Nội các rằng : "Đúc tiền theo pháp chế, là để lưu thông của cải và lợi cho việc dân tiêu dùng. Gần đây, vì dân gian có nhiều kẻ đúc trộm, cho nên bãi đi. Nay xứ Bắc Kỳ chợt gặp nạn lụt, hiện nay đã cần phát chẩn, rồi sai khám rõ được thực trạng tai hại, lại phải tha thuế, hoãn thuế, bán thóc ra, hoặc cho vay thóc để giúp dân khỏi khó khăn, tiền của tiêu dùng thế tất không được thừa thãi như trước. Vậy truyền dụ cho Tổng đốc Đoàn Văn Trường hội đồng với 2 ty Bố chính, án sát bàn định, liệu mở ngay lò đúc tiền ở cục Bảo tuyền cũ, hễ hội bàn thỏa hợp thì tâu lên".


    Đoàn Văn Trường tâu xin sửa lập trường sở, kho tàng, lò đúc, thuê dân làm việc. Vua sắc sai chiếu theo công việc : việc nặng thì mỗi người mỗi tháng cấp cho 1 phương gạo, 3 quan tiền, vừa thì 1 phương gạo, 2 quan tiền, việc nhẹ thì 1 phương gạo, 1 quan tiền.


    Vua bảo thị thần là Nguyễn Khoa Minh rằng : "Gần đây, tai biến thường xảy ra, ta ngày đêm nóng ruột, nhọc lòng rất lo đến sinh linh. Bình tâm mà nghĩ, cái cớ sở dĩ đến thế, thực lỗi tại ta". Nguyễn Khoa Minh thưa rằng : "Thiên tai lưu hành, là bởi khí hóa xui nên đó thôi !". Vua nói : "Hạn, lụt, đời nào chẳng có ? Xưa, đời Đường Nghiêu cũng có thủy tai nhưng có thánh đức như Đường, Nghiêu, cuối cùng không tổn hại gì. Nay ta đức không ví được với Đường Nghiêu, thì thường phải tự xét lại mình, chứ không thể đổ cả cho khí hóa được".


    Ngày Giáp thân, vua ngự điện Văn Minh, bảo thị thần rằng : "Bắc Kỳ có nạn lụt, nhân dân bị khổ trong vòng tối tăm đắm đuối, ta là cha mẹ dân, nỡ nào cứ hưởng yên vui cho đành ? Vậy, bắt đầu từ ngày nay, những món ăn ngự thiện do viện Thượng thiện dâng tiến thì giảm đi một nửa. Nhất thiết ca nhạc đều bãi bỏ. Các vật châu ngọc quý báu ở trong cung cũng đều giảm bớt đi. Chim muông ở vườn thượng uyển, đều thả ra hết. Lại sắc cho nội cung : Phàm người có danh vị thì chiểu theo phẩm trật mà ăn mặc, không được xa xỉ quá. Các nữ tì không được tiếm dùng đồ gấm vóc, ăn uống nên có tiết độ, không được vượt quá mức".


    Vua lại bảo rằng : "Ta trước hết coi trọng sự ăn của dân, hằng năm chính ta đi cày [ruộng tịch điền] để khuyến khích thiên hạ. Điều đó, các ngươi đều biết cả đấy. Há nên hao phí càn bậy được ru ? Phàm các điều răn dạy này, phải nên cẩn thận nhớ lấy. Sách Đại học có nói : "Nhà sửa rồi sau nước mới trị, nước trị rồi sau thiên hạ mới bình". Lời đó, há nên coi thường ?".


    Thả 3 đội Nhất, Nhị, Tam ở thự Thanh bình về, tùy tiện sinh lý, không phải ứng trực. Đợi đến kỳ tế hưởng mùa đông sẽ tập hợp cả lại, để làm lễ.


    Vua dụ Nội các rằng : "Xứ Bắc Kỳ gặp phải nạn lụt, đã nhiều lần xuống dụ sai phát chẩn, để giúp sự sinh sống cho dân. Lại nghĩ dân ta có tai nạn ấy, lòng ta buồn rầu, ngày đêm chỉ nghĩ mưu chước, tìm cách thiện hậu. Gần đây, cứ các địa phương tâu lên, thì nước sông xuống mạnh, cần nên sớm để tâm đến việc dân, khiến dân hết sức về việc làm ruộng, thì mùa đông mới có thể tiếp tế được. Ví như người, nguyên khí bị tổn thương, phải cần được nhiều phương thuốc để điều trị, mới mau có khí sắc tỉnh táo lên được, nếu để bệnh trầm trọng, người gầy giơ xương ra, lúc ấy tuy chữa bằng thuốc hay, chẳng cũng muộn rồi. Vậy truyền dụ cho các Đốc, Phủ, Bố, án các tỉnh : Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương : hiện nay, nước lụt đã rút, nhưng địa thế có chỗ cao, chỗ thấp, nước ứ cũng có chỗ sâu, chỗ nông. Vậy nơi nào ở gần chỗ cao, nên sức bảo ngay cấy các thứ lúa và trồng khoai, củ, đậu, ngô, để có thể giúp qua khi đói, chớ để một ly đất nào bỏ không. Lại nên gieo nhiều mạ, để sẽ cấy giặm vào những khu trũng thấp, sau khi nước xuống. Nếu ai không đủ vốn để cấy được, thì Nhà nước cấp cho thóc và cho vay tiền cốt cho đủ chi dùng vào việc trồng cấy.


    "Đến như dân gian cũng nên : chỗ có, chỗ không, trao đổi lẫn nhau, người giàu, người nghèo giúp đỡ lẫn nhau, hoặc giúp bằng của cải, hoặc cho mượn vườn ruộng để người khác trồng cấy nhờ. Trong 1 ấp 10 nhà, tất có người trung tín, huống chi trong 1 tổng 1 làng há lại không có người giàu, hào nghĩa, mắt thấy dân nghèo ở gần đáng giúp đỡ, mà lại làm lơ đi sao ?


    "Vậy quan địa phương nên đi khắp các nơi để khuyên dụ, bất cứ quan quân hay dân chúng, hễ ai tự nguyện bỏ của nhà ra giúp những người nghèo túng, thì nên phân biệt số nhiều, ít tâu lên, đợi chỉ khen thưởng : quan thì cho thêm chức, hàm, gia cấp và kỷ lục ; dân thì trao cho chức trong dân và mũ áo, hoặc cấp cho tấm biển để biểu dương, ai không tự nguyện cũng chớ ép. Các ngươi, Đốc, Phủ, Bố, án và các phủ huyện đều là bầy tôi chăn dân giữ đất, nên thể theo ý ta mà hết sức làm. Nếu ai khuyên bảo có phương pháp, khiến cho dân hạt, mọi người biết giúp đỡ nhau, việc trồng cấy được siêng năng, mùa đông tới này không đến nỗi thiếu thốn, thế là biết vì ta mà chăn nuôi dân, đáng nên khen ngợi và tuyên dương. Phàm những người trước đây can án về đê điều đã phải giáng, phạt, nay chỗ đê vỡ tuy chưa lấp được, cũng chuẩn cho khai phục, nếu ai không can án đê điều, thì lập tức được cất nhắc vượt bậc để nêu rõ người hiền tài. Nếu coi lời ta nói là bài văn suông, ngồi nhìn cho dân mắc phải đói rét, thế là rất phụ khổ tâm của ta thương yêu dân. Sau này xét tình, định tội, thì không những khép vào tội không làm nổi việc, và lại khép vào tội bỏ liều dân nữa, sợ các ngươi không chịu nổi lỗi nặng ấy đâu !


    "Lại có kẻ nào tâm địa không tốt, nhân đấy thêm việc ra, làm nhiễu dân, một khi phát giác, không những là phép nước không tha, mà kẻ mất hết lương tâm không đáng kể là người ấy, còn đứng sao được ở khoảng trời đất được nữa ?


    "Vậy đem lời dụ này thông cáo cho các quan lại lớn nhỏ và dân chúng 5 tỉnh đều biết".


    Thuyền quân của Tham tán Nguyễn Xuân, Tán tương Trương Phước Đĩnh, 14 chiếc, đến tấn sở Phan Ri, tỉnh Bình Thuận, tâu nói : "Việc đánh giặc ở Phiên An đương khẩn cấp, nếu theo như trước phải do cửa biển Long - Tường tiến đánh, thì không khỏi cách trở chậm chạp. Bọn thần đã tiến thẳng đến địa phương Phước An, đợi thuyền quân của Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương đến, hội bàn rồi tiếp tục tâu lên, nếu chưa đến, thì xin hội đồng với Hữu Tướng quân và Tham tán để trù tính cơ nghi đánh dẹp".


    Vua bảo bộ Binh rằng : "Trước đây, nghe nói thuyền quân của Tống Phước Lương đã qua tấn sở Cù Huân, hiện nay chắc cũng đến Bình Thuận rồi. Đoàn thuyền hội lại khá nhiều phải nên lựa tính cơ nghi cốt làm sao cho đúng khớp. Vả, trước đây, đoàn thuyền của lũ Phạm Hữu Tâm, Đỗ Chiêm Phác hiện đã tiến đến Biên - Long, nay những thuyền mà lũ Tống Phước Lương đi đó, phần nhiều là hạng lớn, mà chỗ ấy, đường thủy quanh co, nông, hẹp, nhà binh vẫn kiêng kỵ. Vậy, truyền dụ cho Tống Phước Lương, Nguyễn Xuân và Trương Phước Đĩnh triệu tập đoàn thuyền của lũ Phạm Hữu Tâm đều hội lại, kết thành đại đội, do sông lớn tiến đi, chặn giữ các cửa biển có thể thông đến trạm Biên - Long, thì thuyền giặc quyết không dám tiến đến trạm Biên - Long để ngăn chặn.


    "Vả lại, thuyền quân do sông lớn tiến đi, vẫn là việc chính, nhưng nếu đã từ đường thủy Biên - Long tiến đi rồi, thì nên cẩn thận phòng giặc từ miền thượng du phóng lửa xuống, cần giữ cho muôn phần được toàn vẹn cả. Nhưng trong quân, tình hình thay đổi từng ngày, từng bước, ta ở xa, khó mà ức đạc được, cốt ở Tướng quân và Tham tán khéo lo toan đấy.


    "Và, thủy sư nay đã họp đông, thì bộ binh của Phan Văn Thúy và Trương Minh Giảng nên đóng một đồn ở Biên - Long, chia quân ra 4, 5 trăm hoặc 7, 8 trăm, cốt có thể bảo vệ lương thướng để thông đường vận tải. Tức thì đốc suất đại đội quân và voi đến thẳng Biên Hòa, đặt một đồn để phòng thủ cẩn mật, rồi từ miền thượng du đến thẳng Phiên An, thì giặc thế tất hội lại ở Bình Đồng để chống cự. Chỗ ấy, ở đầu dòng nông hẹp, nếu có thể sang được, thì nên sang ngay để tiến đánh ; một mặt tư đi hội với Tống Phước Lương đốc thúc thủy quân đều tiến lên đánh giáp vào. Lũ giặc nếu chỉ chuyên chống với bộ binh, thì thủy quân đều tiến lên, phá chỗ trống, đánh chỗ kém, lại càng dễ được. Lũ giặc nếu chỉ chuyên chống với thủy quân, thì bộ binh nhân thế, đến thẳng Phiên An, như vào chỗ đất không người. Nếu giặc chia quân ra chống cự, thì quân ta 2 đường đồng thời cùng chụm vào đánh, tất giặc thế phải phân tán, sức phải yếu đi, trông được chỗ nọ bỏ mất chỗ kia, quân ta tự có thể định ngày bắt được giặc. Còn như đoàn thuyền của Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, khi chỉ dụ này đến, nếu đã nhất tề gặp nhau, thì kết hợp ngay thành 1 đoàn thuyền lớn, đều do sông lớn tiến thẳng lên, lại càng hay lắm".


    Lại dụ Nội các rằng : "Nguyên thành Gia Định là đất dấy lên nghiệp vương, nhân dân trong xứ vốn có tiếng là trung nghĩa. Mới đây, nghịch Khôi làm loạn, phàm ai là người có tâm huyết, chí khí, thảy đều coi nó là kẻ thù chung. Nay đại đội quan quân thủy bộ như mây họp ở Biên - Long, thẳng đến Phiên An, thì sớm hay muộn đầu giặc tất phải treo lên cột cờ. Vậy truyền dụ cho quan quân dân chúng sở tại nên rủ nhau hướng theo đại nghĩa, nếu ai hay nhân chỗ sơ hở, giết được lũ giặc, đánh úp lấy thành trì, lập được công to, tất có hậu thưởng".


    Lại sai Kiểm thảo Nội các là Nguyễn Song Thanh mang dụ chỉ đến các địa phương ở Long - Tường, thông báo tin tức, để cho nhân dân sở tại ai cũng đều biết.


    Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng đóng ở trạm Biên - Long, tâu rằng : "Dò thám được tin rằng nghịch Khôi từ khi nghe biết đại binh tiến đến, thì chỉ để lại một hai bọn trong bè lũ giặc lần trước đã đi lấn cướp Định Tường, Vĩnh Long, còn thì rút hết về Phiên An, góp sức để đóng giữ và chiếm cứ những chỗ xung yếu trên đường thủy và đường bộ ở Biên Hòa, lại ráo riết nom dòm huyện hạt Phước An thông đến Bình Thuận là con đường có thể tải lương cả thủy lẫn bộ. Nay nếu đem quân, voi và thuyền hiện tại tiến thẳng đến Biên Hòa, chắc hẳn đánh một trận có thể lấy lại được, nhưng tỉnh lỵ ấy đã không còn lương chứa và cách trạm Biên - Long đến 2 ngày đường, đường thủy lại có nhiều ngả, giặc thế tất nhân sơ hở đến đánh úp trạm Biên - Long, thì đường chuyển vận lương ở Bình Thuận, lỡ có chỗ trở ngại, sợ lại vất vả thêm. Vậy nghĩ nếu hẵng đợi lương thướng tiếp tế đâu đấy rồi vừa gặp thủy quân các đạo đều đến, bấy giờ thủy bộ cùng tiến đến tỉnh thành Phiên An, thì mới là chước vạn toàn".


    Vua dụ rằng : "Những lời tâu đó cũng phải. Về việc lương thướng, đã có chỉ dụ cho quan tỉnh Bình Thuận đốc thúc chuyển vận, chắc đã tiếp tế rồi, nay thủy quân các đạo đều đến quân thứ, chính là lúc thủy bộ nên cùng tiến, thì đánh một trận sẽ thành công được".


    Nghịch Khôi lại ủy cho đảng nó là ngụy Tiền quân Nguyễn Văn Chắm đốc suất 40 chiếc thuyền quân ngụy, chiếm giữ các giang phận Phước An, có khi hướng về bên sông chỗ quân thứ ta mà đánh trống, hò reo, có khi lên bờ bắn đại bác, 1 ngày, đêm, đến 3, 4 lần. Tướng quân Phan Văn Thúy, Tham tán Trương Minh Giảng chia phái biền binh ngăn chặn những đường xung yếu. Giặc bèn chia làm 3 đường kéo đến, quân ta cùng giặc đánh nhau rất dữ, từ giờ Ngọ đến giờ Dậu, giặc bị thương và chết nhiều, bèn theo lối rừng rậm chạy trốn. Quan quân bắt sống và chém được hơn 20 tên, thu được súng và khí giới rất nhiều.


    Tin thắng trận tâu lên. Vua dụ rằng : "Lũ giặc quèn ngu xuẩn kia, hơi sức được bao nhiêu, chẳng qua chúng cho rằng quân ta đi xa, từ nghìn dặm đến, lại chưa tập hợp đủ cả, nên muốn đem hết những quân liều chết nấp ở chỗ rậm, chẹn lấy chỗ hiểm để cầu may được thắng một trận đó thôi ! Duy tướng biền binh, sĩ của ta đều mang lòng căm giận, hăng hái tiến lên, trước đã một phen đánh giết lũ giặc, lấy lại được huyện Phước An, nay lại thu được chiến công to lớn, thế mà quân ta không tổn thương một người nào. Tướng quân và Tham tán điều khiển được việc như thế, thực đáng khen thưởng. Vậy đều thưởng quân công gia một cấp. Cùng đi ở trận ấy từ Quản vệ đến Suất đội ai có công trạng đều thưởng quân công kỷ lục một thứ. Biền binh 3 đạo đều thưởng tiền 500 quan.


    "Vả, nay bọn giặc hai lần bị thua, đã sợ mất vía mà tinh thần quân ta đang hăng hái gấp trăm lần, hiện nay thủy quân lại đã đều tập họp cả, vậy các ngươi cần nên nhân cái uy thế được luôn này, tuỳ cơ tiến đánh, một mặt tư hội với Thảo nghịch tướng quân, thủy bộ đều tiến, tả hữu giáp công, thì có thể định ngày lấy lại Phiên An mà đầu sỏ giặc là Lê Văn Khôi và bè lũ nó có thể bị bắt ngay được".


    Lại cho rằng : "Việc dùng binh, chi phí rất nhiều, nếu chỉ trách cứ vào tỉnh Bình Thuận chuyển vận để tiếp tế, thì e có khi không đầy đủ. Vậy truyền dụ cho tỉnh Bình Định thuê thuyền, tải 10.000 phương gạo đến địa giới Bình Thuận, chỗ gần các cửa biển Biên Hòa. Tỉnh Phú Yên cũng vận tải 10.000 phương gạo, đều do tỉnh thần Bình Thuận lựa tính, hoặc chở thẳng đến quân thứ, hoặc đưa lên đường bộ, tải đi, để giúp việc cần dùng".


    Sai Binh bộ phái 5 chiếc thuyền lớn các hiệu của thủy quân lĩnh ở kho Kinh, gạo 20.000 phương, tiền 10.000 quan, muối 200 phương, chở thẳng đến quân thứ Biên Hòa, giao cho Tướng quân và Tham tán ba đạo binh nhận lấy, cấp phát. Còn binh thuyền ấy vẫn lưu lại ở đấy để dùng vào việc quân. Lại trích lấy trong các nha thuộc Lục bộ, Thái thường tự, Quang lộc tự, Hàn lâm viện và Tào chính, từ Viên ngoại lang đến Vị nhập lưu thư lại, và ban Giám sinh ở Quốc tử giám, cộng 30 người, dùng một viên ngoại và một Chủ sự để coi quản, cho ngồi cả thuyền quân ấy mà đi. Khi đến quân thứ, chuẩn cho theo Tướng quân và Tham tán làm việc chi phái tiền lương trong quân.


    Vua dụ Nội các rằng : "Lần lượt chọn sai các Tướng quân và Tham tán đại thần tiến đi đánh giặc, chắc đã cùng nhau hội lại cả rồi. Vậy, truyền dụ cho Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương tập hợp đại đội 2 lộ quân và chu sư các đoàn thuyền, ra sức đánh giết thật mạnh một trận thủy chiến để phô trương cái thắng thế của ta. Lũ Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy lĩnh ngay trong bộ binh và voi chiến, do Biên Hòa đến thẳng Phiên An, Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng đem ngay thủy quân hợp sức đánh dẹp, cần sớm bắt chém nghịch tặc, lấy lại tỉnh thành. Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương, thì đưa ngay đoàn thuyền trước vẫn quản lĩnh, cùng với đoàn thuyền vệ Ban trực tả nhất do Phạm Hữu Tâm đem đi, đi riêng từ đường cảng tiến vào, lấy lại 4 tỉnh Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Một mặt chiêu tập nhân dân về ở yên như cũ, một mặt tuyên bảo cho vua và dân nước Chân Lạp biết để họ đều yên tâm. Như thế thì công lao của quan quân đạo này cũng ngang với công lấy lại Phiên An. Ta hằng ngày mong tin báo thắng trận, sẽ ban hậu thưởng để đáp công lao. Các ngươi đều là đại thần của nước, vẫn thường đi trận, vốn đã biết kỹ cơ nghi việc quân, tưởng không phải đợi ta chỉ bảo, động làm việc gì cũng đã trúng khớp cả. Chỉ cần một lòng hòa thuận, nghĩ đến nước, muôn vàn chớ có để lòng thắc mắc, kỳ thị lẫn nhau. Không một giây lát nào được quên lời ta dụ bảo các ngươi ở tận trước mặt, phải giúp đỡ lẫn nhau mà làm nên việc, ấy là điều rất thiết yếu, không thể làm trái được".


    Lại dụ Phan Văn Thúy và Trương Minh Giảng rằng : "Các hạng súng đại luân xa, quá sơn và thần công, dùng để đánh bộ là thứ võ khí rất trội. Ta muốn các tướng quân mỗi trận đánh là thắng trận, nên đã lần lượt nghiêm giục vận tải đến nhiều. Nếu đại binh tiến đánh thì 2 hạng súng lớn quá sơn và thần công, tất phải vận theo đến quân thứ mỗi hạng 30, 40 cỗ, thuốc đạn đều 100, 200 phát, duy súng đại luân xa, thể chất hơi nặng, vậy hoặc để lại hoặc vận đem đi cho cứ tùy tiện, lựa tính. Các hạng súng lớn, khi chuyển vận đi, nên trích lấy voi ở hàng ngũ chở đi, hoặc giao cho những kẻ tòng chinh không được việc lắm, như quân và dân phu ở Phú Yên, cũng được. Khi đến trận, bắc súng hướng vào giặc, sai người bắn giỏi nhằm chỗ ngôi sao làm đích mà bắn, thì không phát nào là không trúng, hễ trúng thì diệt được ngay, giặc tất thua mà quan quân ta có thể toàn thắng được. Đến như tất cả các đồ quân nhu và lương thướng trong quân, cũng nên lấy voi và binh lính ấy ra sức đài đệ, để cho những quân tinh nhuệ được nhẹ nhàng mau chóng đi nhanh thì có thể thu được toàn lực, một trận đánh sẽ thành công được".


    Tỉnh Bình Thuận gạo kém ! Lại vì Nam Kỳ có việc, chuyển vận thóc gạo vất vả khó khăn. Vậy đặc cách gia ơn cho thuế thân năm nay được giảm 3/10, thóc tô hoãn đến năm [Minh Mệnh] thứ 15, thứ 16 mới thu.


    Tổng đốc quân vụ Tạ Quang Cự từ Ninh Bình về Kinh vào yết kiến.


    Vua yên ủi rằng : "Ngươi xông pha lam chướng, may được mạnh khỏe, ta rất mừng, nhưng còn lo rằng thủy thổ bất phục, hoặc trở thành căn bệnh. Kể ra, người bầy tôi muốn yêu vua, nên yêu thân mình trước. Từ ngươi trở xuống, đều nên khéo tự điều dưỡng lấy mình, để làm người cần dùng cho nhà nước, còn như dược phẩm, đã có của kho, ta không tiếc gì đâu".


    Biền binh do Kinh phái đi làm việc bắt giặc ở Bắc Kỳ đã về đến hàng ngũ ở Kinh.


    Vua sai viện Thái y các y ty chia đi các quân xá, để chữa cho những người bị bệnh. Lại sai thự Hữu thị lang bộ Binh là Nguyễn Công Tú, thự Tả thị lang bộ Hộ sung làm việc Nội các là Trần Văn Quyền tuyên chiếu chỉ yên ủi và thăm hỏi. Có người bệnh binh đạo Ninh Bình nói : "Ngày quân về, đợi lĩnh lương đi đường, Hộ phủ Lê Nguyên Hy cho rằng đã có ân thưởng, không cấp tiền lộ phí nữa, nên lúc đi đường có thiếu tiêu". Lũ Nguyễn Công Tú đem việc ấy tâu lên.


    Vua nói rằng : "Tiền ân thưởng là ta thể tất đến quân lính đi đánh giặc, nên đặc cách ban cho ưu hậu thêm, chứ chưa từng có giấy tờ nào nói rõ là lấy tiền thưởng ấy chiết trừ vào lương đi đường ? Huống chi quân đi tất phải có lương ăn, từ trước đến giờ đã có lệ định, nay lại làm việc sơ suất như thế, không phải là ý ta vẫn yêu nuôi quân lính". Bèn giáng chức Nguyên Hy xuống một cấp.


    Vua lại nghĩ rằng : "Những bệnh binh còn ở lại các tỉnh, quê hương xa xôi, không người nuôi nấng đầy đủ, bèn sai truyền chỉ cho Nguyễn Khả Bằng và Nguyễn Đăng Giai ở Thanh Hoa, Lê Nguyên Hy ở Ninh Bình, Lê Văn Đức ở Sơn Tây đều chính mình thân hành xem xét, phàm thuốc thang, chè, cơm, cá, muối đều do Nhà nước cung cấp, cần được đầy đủ tất cả, và liệu vát lính tỉnh đi nuôi dưỡng săn sóc cho họ".


    Vua dụ Nội các rằng : "Trước đây, đi đánh thổ phỉ Bắc Kỳ, công lớn đã xong, quân sĩ đã hát khúc khải hoàn. Đối với những tướng, biền, binh, dõng, đi tòng chinh, ta đã xuống dụ cho ăn yến, yên ủi, khen thưởng. Nhưng lại nghĩ : các suất
  • Chia sẻ trang này