0060.0068

5/1/16
0060.0068
  • PDF
    GoogleDocs

    cute_smiley15cute_smiley15cute_smiley15

    đội còn thuộc chức thấp, sau này xét danh sách, bàn công trạng, cũng chỉ liệu cho gia cấp và kỷ lục thôi, sao bằng trước thưởng cho bạc tiền, để họ chi dùng được đầy đủ. Vậy, sai xét các Suất đội ở Kinh và ngoài các tỉnh không kể quan chức cao hay thấp đã thực thụ hay chưa thực thụ, đều thưởng cho mỗi người 10 quan tiền, những lính do Kinh phái đi thì thưởng thêm 2 lạng bạc, những lính thuộc các vệ dinh Thần sách ở các tỉnh thưởng thêm mỗi người 1 lạng bạc".


    Sét đánh núi Ngự Bình, trên núi bốc lửa. Giây lát mưa xuống, lửa liền tắt.


    Vua bảo thị thần rằng : "Ngự Bình chỉ là tên núi, cũng như tên sông gọi là núi Ngự Hà, không phải như ngự mã, ngự tượng là voi, ngựa nhà vua thường dùng. Vả lại, sét đánh hoặc giả để trừ yêu quái, có khi cũng có lý, thì sét đánh ở núi Ngự Bình, biết đâu không phải là lòng trời thương yêu ?".


    Sai quan ở Quốc tử giám kén chọn giám sinh lấy 10 người văn học giỏi giang, giao Lại bộ, Lễ bộ hội lại xét hạch, chia từng hạng, làm danh sách, tâu lên. Hạng "ưu" thì cho chức Hàn lâm Điển bạ, hạng "bình" thì cho chức Hàn lâm Đãi chiếu, hạng "thứ" thì cho theo học tập ở nhà Giám. Trong đó có 2 người hạng "liệt", bị tước bỏ tên trong sổ Giám sinh. Giám thần bị phạt.


    Vua tới coi chầu, hỏi Tham tri bộ Binh là Nguyễn Trung Mậu rằng : "Ngươi làm Tri huyện hơn 10 năm, không được cất nhắc lên, ý hẳn không khéo thù phụng quan trên, nên không có người cất nhắc cho chăng". Mậu thưa rằng : "Nơi thần làm việc, công việc đơn giản, không có công trạng gì khác thường, cho nên chậm thăng đó thôi !".


    Địa phương Trấn Ninh thuộc tỉnh Nghệ An yên lặng. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên. Vua sai rút quân trú phòng ở đấy về.


    Đặt đồn Trấn Man ở tỉnh Thanh Hoa. Vua cho rằng Phố Cát thuộc tỉnh Thanh Hoa là nơi địa đầu xung yếu, lại gần Nguyên miếu ((1) Miếu thờ Nguyễn Kim (Triệu tổ) ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, nay là huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.1), nên sửa sang lập đồn trại để phòng bị cho được nghiêm ngặt, bèn sai Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng và Bố chính Nguyễn Đăng Giai đem đi xem đất, chọn lấy chỗ hình thế đẹp. Rồi họp các thợ khởi công xây đắp ở trang Đông Bình (thuộc huyện Tống Sơn), gọi tên là đồn Trấn Man, phái 200 lính tỉnh đến đóng giữ.


    Thự Bố chính Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố tâu nói : "Trước đây, tỉnh Tuyên Quang có loạn đã phái suất đội 2 cơ Thái Nguyên, Thái hùng thuộc tỉnh là lũ Trần Đình Dự, Dương Đình ất đốc suất 100 lính cơ đóng chặn đầu địa giới châu Bạch Thông. Vả lại chỗ tỉnh hạt tiếp giáp với Tuyên Quang, đều là rừng rậm xa vắng, núi khe hiểm trở, lũ giặc cướp dễ làm sào huyệt, không thể không phòng bị trước. Vậy xin đốc suất lính và voi đến nơi để đốc sức biền binh đã phái đến trước và tổng lý ở châu, đồn sở tại, tuỳ theo địa phận, chia ra canh phòng. Và nhân tiện, thần đi khám xét mỏ vàng Bằng Thành". (Năm ấy, mỏ này theo lệ, đáng phải khám thực, để định thêm ngạch thuế).


    Vua y theo lời xin.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển ci



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 8, thự Bố chính tỉnh Tuyên Quang là Phạm Phổ thân lĩnh hơn 600 biền binh trong Thần sách Hữu quân từ Vị Xuyên tiến đến đánh giặc ở châu Bảo Lạc. Trước kia, nghịch Vân đã mưu làm phản, tự xưng là Tiết chế thượng tướng quân, chiêu tập bè đảng, đặt ra các ngụy chức, đưa thư dụ thổ ty giữ đồn Ninh Biên là Hoàng Kim Thuận, hẹn cùng cử sự, Thuận không theo, sai người chạy đi báo tỉnh. Phạm Phổ cùng thự án sát Lưu Bỉnh Trung đem việc ấy tâu lên, và tự xin đi đánh giặc. Lại nói : "Từ tỉnh thành đến châu Bảo Lạc, phải đi hàng 15, 16 ngày đường : núi khe xa cách, đường đi khó nhọc ; xin xét những biền binh nào xa quê quán, đều cấp cho mỗi tháng tiền 1 quan, gạo 1 phương".


    Vua sai thưởng trước cho quan quân dự cuộc đi đánh giặc này tiền lương bổng 1 tháng và chuẩn cấp lương ăn theo khẩu phần cho các thổ binh ở gần cũng như ở xa. Và dụ rằng : "Gần đây, nghe nói người nhà Thanh có vận tải nhiều gạo vào đất ta, nếu thật đúng như lời ấy thì khi đi hành quân có thể đem theo nhiều bạc lạng, tùy tiện mua để sung cấp càng tốt, nhưng việc ấy khó tin hẳn được ; cốt ở lũ các ngươi khéo trù tính, hoặc tải đi, hoặc mua sẵn, cần được tiếp tế luôn luôn không thiếu là hơn".


    Tổng đốc Định - Yên Đặng Văn Thiêm, tâu báo : "Đê điều huyện Mỹ Lộc tỉnh hạt bị sạt nứt và đê ở xã Phú An, huyện Bình Lục thuộc tỉnh hạt Hà Nội ở đầu dòng bị vỡ, thế nước chảy mạnh lắm, hiện đương hộ, trị".


    Vua dụ rằng : "Hiện nay việc hộ đê và việc chẩn cấp đều trọng yếu cả. Ngươi nên ra sức làm, cho đến được ổn và tốt, mới không phụ trọng trách đã giao cho chuyên giữ một trấn ở ngoài".


    Vua dụ Nội các rằng : "Đê điều các tỉnh Bắc Kỳ, nhiều nơi tràn vỡ, lại có hạt không có đê, như những tỉnh Hải Dương, Nam Định và Ninh Bình, chỉ vì nước lụt ở hạt lân cận tràn đến, cũng bị thiệt hại. Ta bận lòng, trông ra Bắc, càng thêm sớm trưa lo âu. Vậy, truyền chỉ cho các chức Tổng đốc, Tuần phủ, lập tức phải xét xem hiện nay mực nước rút xuống thế nào, lúa mạ đồng ruộng đã cấy giặm chưa, việc phát chẩn đã khắp chưa, và dân gian có khỏi đói rét không. Mọi việc đều cứ thực tâu lên 3 ngày 1 lần, đến tiết Thu phân tháng 8 thì thôi".


    Ra lệnh cho trong Kinh và các tỉnh ngoài điều trần về phương sách trị hà. Dụ rằng : "Ta từ khi lên ngôi đến giờ, siêng năng tìm kiếm đạo lý chính trị, chăm lo mong được trị bình, không dám lười biếng hoang toàng. Điều đó, trong Kinh thành, ngoài các tỉnh, đều tai nghe mắt thấy cả. Về việc trị hà đã từng nhiều lần trù tính nghĩ tìm chước hay ; lại nghiêm sức cho quan lại sở tại để ý sửa sang phòng giữ, khốn nỗi trong các quan địa phương người hết lòng làm việc thì ít, kẻ thờ ơ hờ hững thì nhiều, chỉ một niềm lần lữa dựa dẫm không thi thố phát triển được một chút nào. Năm nay thủy tai luôn xảy, lúa ruộng, người và súc vật không khỏi tổn hại. Xem tờ tâu, ta xiết bao đau lòng, gạt nước mắt. Ta nghĩ : thẹn mình nhỏ mọn ở trên muôn dân, biết sửa đức để được khí hòa của trời đưa lại cho, thực là lỗi ở một mình ta, mà các bầy tôi giữ đất nước, không biết dự phòng trước khi xảy việc, thì cũng khó từ chối được lỗi. Vả lại, gần đây, tai hoạn về nước sông đều bởi các chỗ cửa biển, như cửa Liêu, cửa Lác ở Nam Định, ngày một bồi nông lên. Nhiều lần ta ra sắc lệnh bảo phải khơi sâu, ngày càng làm nghẽn lấp thêm, đến nỗi thành lụt ! Một khi nước [lũ] thình lình trút xuống, dù sông lớn cũng không thể chảy thông đi được, liền tràn ngập đê điều, thành ra vỡ đê, lụt nước. Như vậy há có thể đổ cả cho nước sông gây nên tai vạ được ru ? Ta đương trách mình, nghĩ lỗi, sợ hãi, tu tỉnh, mong để kéo lại ý trời, chóng đón được điều lành. Còn đối với những khu vực bị tai nạn, thì cứu tế ưu hậu, hết sức giúp đỡ, cốt sao cho không một người nào phải mất chỗ sinh sống làm ăn để mong nguyên khí trong nước sớm được hồi lại.


    "Duy, lỗi trước đã qua, nay nên sớm tính kế hay về sau, cần làm cho chỉ khó nhọc một lần, mà nhàn rỗi được lâu mãi mãi mừng được sống yên sống lặng. Đó là chỗ ta khổ tâm vì dân và là việc rất cần kíp trước hết.


    "Nay cần phải hiểu dụ rõ cho các bầy tôi trong Kinh và ngoài các tỉnh : Nếu ai có phương sách trị hà, để cho sông chảy thuận lối, đê điều vững bền, giữ nước được lâu mãi không làm hại dân, chuẩn cho đem hết sở kiến làm thành từng tập điều trần tâu lên, ta sẽ chọn điều nào đáng lấy thì lấy, để mong được có công hiệu thực sự.


    "Đến như quan địa phương sở tại thì nên gia tâm trù liệu : những chỗ cửa biển đã bị bồi nông, nên tìm cách để đào sâu, những sông nhỏ và cống nước đã bị nghẽn lấp, nên tùy thế mà khai đào. Đến cả sông vừa, sông nhỏ đều có thể chia xẻ được sức nước ở sông lớn, như sông Nguyệt Đức, thì nên nhân đường cũ, mà khơi thêm rộng, hoặc đào thêm chi nhánh khác, để giảm bớt thế nước chảy xiết, xô mạnh của miền thượng du. Đấy là điều ta vẫn lo nghĩ tới. Nay bèn truyền dụ cho biết, để mọi người đều xét nghiệm lại tình hình, tính nghĩ việc làm, kiến nghị tâu lên. Ngoài ra, nếu có kế hay khác, chuẩn cho cứ thực trình bày, ta cũng chước lượng thu lượm để làm, mong sao cho đê vững, sóng yên, nhân dân yên ở, để đền bù lỗi trước, đem lại yên vui cho nghìn muôn năm sau. Phen này ta đã tha thiết đinh ninh, sẵn lòng hỏi han, các bầy tôi trong, ngoài có lòng trung thành vì nước, nên thể tất ý này, nói thẳng, không giấu. Đấy là các ngươi hết lòng trung để báo đền, ta thực mong chờ nhiều lắm".


    Tỉnh Bình Định, giá gạo cao vọt. Vua cho hoãn thóc tô chính cung năm nay, đến năm [Minh Mệnh] thứ 15, thứ 16 mới thu.


    Vua dụ Nội các rằng : "Trước đây đã chuẩn y lời bàn của bộ, phàm bia chí của các nhà có đề khắc hoặc trong tặng hàm văn võ có viết những chữ tước công, hầu, bá, tử, nam, đều nên xóa bỏ đi. Song nghĩ rằng việc trải lâu ngày, đã ghi vào lụa, khắc vào gỗ, đá nếu nhất khái bắt đổi bỏ đi, không khỏi bận rộn. Vậy gia ân cho : Phàm từ trước trót đã đem tước hiệu của ông, cha viết vào thần chủ, bia chí và các bia chí đã đề khắc ở đền, chùa, quán, vũ cho đến cả tặng hàm văn, võ, đều chuẩn cho vẫn để như cũ ; duy về văn tế và tất cả giấy tờ đều không được xưng hô theo thói cũ, để chính danh phận. Vậy đem lời dụ này thông dụ cho mọi người biết".


    Chuẩn định điển lễ tế miếu vua nước Chiêm Thành, hằng năm hai lần tế về mùa xuân và mùa thu (lễ phẩm dùng 1 trâu, 1 lợn, 1 mâm xôi). ở Kinh thì quan văn Tam phẩm, ở các tỉnh thì Bố chính sứ, khâm mạng làm lễ. Phu để phục dịch ở miếu đều lấy dân sở tại 10 người để canh giữ hộ vệ, miễn cho đi lính và dao dịch.


    Cho Nguyễn Văn Chân, cháu Vọng Các công thần ((1) Vọng Các công thần : bầy tôi có công theo Nguyễn Phước ánh sang Kinh thành Vọng Các ở nước Xiêm La (tức là Kinh thành Băng Cốc nước Thái Lan ngày nay).1), Thái bảo Nguyễn Văn Nhân được tập ấm, làm Kỵ đô úy.



    Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy ở quân thứ Biên - Long bị bệnh dâng sớ xin cử người thay lĩnh việc quân, để tiện về Bình Thuận điều dưỡng.


    Vua dụ Nội các rằng : "Công việc trong quân đương khẩn cấp, không thể để chậm được. Phải có một đại viên để điều khiển, mới ổn thỏa nên việc được. Vậy truyền dụ cho Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, hiện nay đã đến Bình Thuận, hoặc nơi quân thứ ở Biên Hòa thì càng tốt, nếu còn đi ở đường biển, thì hễ ngày chỉ dụ đến, lập tức phải lên bộ, đi theo đường trạm hễ gặp Tham tán Nguyễn Văn Trọng cũng bảo phải theo đường trạm, đi gấp đến quân thứ, lựa tính tình hình. Nếu Trần Văn Năng tự lĩnh bộ binh tiến lên trước, thì rất được việc, chuẩn cho thay Phan Văn Thúy, sung làm Thảo nghịch Hữu tướng quân, lĩnh ấn, triện, cờ, bài, cai quản quan quân đường bộ. Lập tức cho Nguyễn Văn Trọng thay Trần Văn Năng lĩnh ấn, triện, cờ, bài Bình khấu Tướng quân, cai quản quân đường thủy, hiệp đồng với Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương tiến lên đánh giặc. Cũng chuẩn cho Trần Văn Năng điều khiển cả Nguyễn Văn Trọng. Nếu Trần Văn Năng cho đường thủy là rất trọng yếu, phải tự quản lĩnh lấy, thì chuẩn cho vẫn sung Bình khấu Tướng quân quản lĩnh đường thủy. Tức thì dùng Nguyễn Văn Trọng thay Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy, lĩnh ấn, triện, cờ, bài, thống lĩnh bộ binh, hội tiễu. Đấy là cơ nghi việc quân, không thể ở xa mà đoán phỏng được. Trần Văn Năng là đại thần có công lao cũ, việc trận mạc vốn đã quen thạo, cần nên suy tính kỹ hơn, liệu cho ổn thỏa, làm thế nào có thể tự mình coi cả quân thủy, quân bộ, rồi tức thì hội đồng với các tham tán, sớm nhân cơ hội, định ngày hợp tiễu, mong sao sớm báo tin thắng trận, lập được kỳ công, để đón lấy phần thưởng bề trên ban cho. Lại dụ cho Phan Văn Thúy hễ thấy Trần Văn Năng hoặc Nguyễn Văn Trọng đến quân thứ, lập tức giao ấn, triện, cờ, bài, chuẩn cho đi theo đường trạm, về Bình Thuận, yên tâm điều dưỡng".


    Thị vệ Lê Kim Trợ từ Nam Kỳ về, tâu nói : "Trung quân ngụy là Thái Công Triều đã từng khiến đồ đảng nó là Hoàng Văn Quang mang đệ sớ văn đến chỗ quân thứ, xin làm nội ứng, giết giặc, dâng thành để chuộc tội. Tướng quân và Tham tán [ở quân thứ] cho rằng tâm tích [Công Triều] chưa rõ rệt, còn giữ Quang ở trong quân".


    Vua bảo Nội các rằng : "Kẻ kia đến lần này, bất luận trong lòng nó thật hay giả, nhưng đó cũng là một cơ hội tốt, có thể nhân đấy mà làm được. Vậy nên mật dụ cho lũ Trần Văn Năng, Nguyễn Văn Trọng : một mặt đem ngay tờ sớ của Công Triều đệ vào tâu lên ; một mặt yên ủi dụ bảo Hoàng Văn Quang, thưởng cho hắn 5 lạng hoặc 10 lạng bạc, rồi làm hịch văn sai đem về giao cho Thái Công Triều. Hịch văn đại lược nói : "Thái Công Triều nguyên là quan chức của triều đình, trước đây bị giặc bức bách, tạm theo nghịch phỉ, nay đã biết sớm quay đầu lại, tự xin giết giặc, dâng thành để chuộc tội trước. Triều đình đã soi xét, biết rõ lòng rồi. Nếu quả có thể bắt hay chém được nghịch phạm Lê Văn Khôi và những kẻ danh mục trong bọn nó, lại dâng luôn cả thành Phiên An, thì chẳng những rộng tha tội trước, mà lại tất có thưởng hậu nữa". Như vậy để cho kẻ kia cảm khích, tự cố sức làm, để sớm lập công".


    Kim Trợ lại tâu : "Nghịch Khôi trộm giữ Phiên An, trong thành có voi không ăn mà chết".


    Vua phán : "Voi là vật vô tri, còn biết như thế, huống chi tôi đối với vua, được nhờ ân đãi ngộ đã lâu, há lại không nghĩ để báo đáp hay sao ? Thế mà trong khi sáu tỉnh bị chìm đắm, không từng có lấy một ai chịu chết theo thành ! Thậm chí lại có kẻ cam tâm theo giặc, để giặc nuôi nấng ! Thật đáng khinh bỉ cho hạng người ấy, không bằng con voi này xa lắm !".


    Đoàn thuyền của Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương qua mom dài biển thuộc tỉnh Bình Thuận, nhân gió Nam to, chuyển hướng sang đậu ở vụng Phan Rang. Thuyền quân tiền đạo của Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng cũng thả neo ở chỗ ấy. Đoàn thuyền của Tham tán Nguyễn Xuân và Tán tương Trương Phước Đĩnh qua đến mom nhỏ cũng bị gió cản lại, phải quay về tấn Phan Ri. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên. Nhà vua sai đến đền thiêng cầu đảo, rồi gió đông bắc nổi to, thuyền quân các đạo lần lượt tiến lên, bèn sắm đủ lễ vật để lễ tạ. Vua lại nghe nói tỉnh phái chuyên chở các đồ quân nhu rất nhanh, bèn xuống dụ ban khen.


    Đoàn Khiêm Quang, Hoàng Quốc Điều, Phan Phu, trước bị giáng cấp nay cho khai phục. Lại xuống dụ cho nâng thêm giá thuê mướn, chớ tiếc tiền.


    Sai thị vệ mang giao cho các Tướng quân và Tham tán ở ba đạo quân : mỗi đạo 30 cái hào bao gấm, 20 cái áo và 20 cái quần. Phàm tướng, biền, quân lính hễ ai hăng hái tiến lên, đắc lực hơn hết thì chuẩn cho lấy những cái ấy thưởng cấp trước.


    Vua dụ Binh bộ rằng : "Biền binh các tỉnh theo đi bắt giặc ở Nam Kỳ, gián hoặc có biền binh ở Khánh Hòa, thì quân giặc đến đánh Biên – Long, tự rút lui chạy trước, tỏ ra sợ hãi rụt rè ; biền binh ở Phú Yên giao chiến với giặc ở Biên Hòa không hăng hái tiến lên, cũng là hèn nhát. Đó đều bởi chức Lãnh binh và quan tỉnh hạt ấy, lúc ngày thường không rèn luyện [quân lính] cho quen, không dạy bảo cho nghiêm túc mới đến nỗi thế. Vậy, Lãnh binh tỉnh Khánh Hòa là Trương Văn Trí phải giáng 4 cấp, thự Bố chính Nguyễn Văn Điển, án sát Hồ Hữu Thẩm đều phải giáng 2 cấp ; Lãnh binh tỉnh Phú Yên là Nguyễn Hữu Vĩ phải giáng 3 cấp ; thự Tuần phủ Nguyễn Công Liêu và án sát Phùng Huy Giảng đều phải giáng 1 cấp".


    Tham tán Hoàng Đăng Thận tiến đến quân thứ Biên - Long, hội bàn việc quân với Phan Văn Thúy và Trương Minh Giảng. Thúy bệnh thế hơi bớt, mới dâng sớ xin cứ ở lại trong quân, gượng bệnh làm việc. Thúy lại nói gân đây dò thám nghe thấy : thuyền giặc tụ nhiều ở Cần Giờ, Cẩm Phái và trạm sông Biên Lễ. Chúng lại cướp bóc các chỗ tấn thủ Phước Thắng, Long Hưng ; còn tỉnh lỵ Biên Hòa và các xứ Đồng Môn thì giặc sai bè đảng chiếm giữ, đặt quân phục. Lại sửa đắp đồn bảo Giao Khẩu (trước gọi là Thảo Câu Giốc Ngư) ở hai bên tả hữu sông lớn thuộc Phiên An, trên đồn bảo đặt súng đại bác, ngang sông buộc xích sắt. Chúng lại chuẩn bị nhiều bè chở củi, các đồ dẫn hỏa, gọi là "thảo long đồ", để làm chước chống cự. Tiền và gạo để ở kho hai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, đương lúc dân phu lục tục chuyển vận về Phiên An. Vả lại, lũ giặc tuy đã hai lần bị thua, nhưng bọn đầu sỏ giặc từ thủ phạm đến thứ phạm vẫn chưa bị bắt, nên vẫn còn hung hăng rông rỡ, mà tỉnh hạt Phiên An, nhiều lối đường thủy, đoàn thuyền của lũ Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn đang chạy đều là hạng nhỏ, nên chỉ đem bộ binh đi trước, thì lũ giặc còn có quân thủy quân bộ nương tựa lẫn nhau. Vậy xin đợi các đạo quân thủy đều đến, sẽ cùng hội tiễu.


    Vua dụ rằng : "Việc sai tướng chuyên cầm quyền đánh dẹp là việc quan trọng của Nhà nước, người chịu trọng trách ấy phải nên kính cẩn thêm lên, động làm việc gì cũng phải hợp với cơ nghi, để xứng đáng chức trách đã được giao phó.


    "Trước kia, Phan Văn Thúy tâu nói bệnh nặng, xin phái người thay, nay lại tâu rằng bệnh hơi đỡ, xin cứ ở lại làm việc, như thế là trước sau mỗi lúc một khác ! Trước đây, bệnh tình nếu chưa đến nỗi mười phần trầm trọng, thì không nên vội xin cử tướng khác đến nay ; nếu đã tâu xin rồi, sao lại vội vàng xin ở lại. Và đại binh hai lần đánh giặc, thanh thế quân mình đã lừng lẫy to, ai cũng đều mong giết giặc để lập công, lại trùng trình kéo dài, làm nhụt mũi sắc bén của quân mình để cho giặc có thì giờ rỗi, làm được nhiều cách phòng bị, đã là thất sách. Lại không biết chia cơ binh theo đường bộ, đánh phá quân bộ của giặc, phái vát binh thuyền, đi theo đường thủy, đánh lấy thuyền giặc, cho nên giặc được nhởn nhơ trên sông, tự do đi lại. Và quan quân lần sau đã thắng trận to, sao không đuổi đến cùng, để giặc nhân đêm, lẩn trốn được. Không thế, thì giặc đã sợ hãi tan vỡ, quân ta xuyên qua rừng, tầm nã, giặc không được chạy, tất nhiên bắt chém được nhiều, và thu phục được hết thuyền bè, súng ống, khí giới của giặc. Vả lại, đại binh đóng đồn ở Biên - Long, sao không lập thành lũy để giúp việc chống giữ ? Và, cứ tình hình gần đây, thì giặc đã bị quân chúng làm phản, thân thích chia lìa, lắm người đã có ý làm nội ứng, vậy mà lại tâu rằng thế giặc còn hung hăng, há không phải là làm ngăn trở lòng mạnh dạn tiến lên của quan quân ? Như thế đều là không đúng.


    Vậy truyền chỉ nghiêm sức : Bây giờ Phan Văn Thúy nên tự lượng sức, nếu bệnh còn hơi nặng thì chuẩn cho theo chỉ dụ trước, về tỉnh Bình Thuận điều dưỡng ; nếu đã hơi khá, thì sau khi ốm nặng, cũng khó làm việc một mình được, tức thì xét xem lần này, nếu Trần Văn Năng tự lĩnh thủy quân, Nguyễn Văn Trọng thay lĩnh bộ binh thì chuẩn cho Phan Văn Thúy hiệp đồng với Nguyễn Văn Trọng bàn làm công việc bộ binh ; nếu Trần Văn Năng thay lĩnh bộ binh, Nguyễn Văn Trọng thay lĩnh thủy quân, thì cũng chuẩn cho Phan Văn Thúy hiệp đồng với Nguyễn Văn Trọng, bàn làm công việc thủy quân, để cho có thể điều dưỡng ở trong quân được. Còn cờ, bài, ấn, triện thì giao cho Trần Văn Năng hoặc Nguyễn Văn Trọng lĩnh giữ.


    "Và, nay các đạo quân chắc đã tập hợp đông nhiều, nên lập tức tuân theo chỉ dụ trước, đặt một đồn bảo ở Biên - Long, chia đặt súng lớn, hoặc súng quá sơn 30 cỗ, lượng vát 1 Quản vệ, 1 Quản cơ, 600 hay 700 biền binh, 8 thớt voi để bảo vệ đường vận lương, và đốc thúc quan quân các đạo thẳng tiến, hợp sức nhau cùng đánh giặc".


    Lại dụ lũ Trần Văn Năng, Tống Phước Lương, Lê Đăng Doanh và Nguyễn Xuân rằng : "Nghe nói giặc kết bè khóa liền lại, muốn dùng đồ dẫn lửa, để chống thủy quân [của quan quân], ta vốn biết các sông ở hạt này đã lớn lại sâu, nước triều sớm hôm lại chảy kíp, giặc kia phỏng muốn đánh hỏa công cũng khó lấy gì che kín sông mà xuống được, nếu giặc lấy vài chục cái bè, buộc liền làm một, thì nước sông chảy xoáy mạnh, thế tất vướng víu quấn lấy nhau, không đi được, hoặc trôi đi, giạt vào bờ. Nếu thả lung tung, chỗ có, chỗ không, chung quy cũng không làm gì được. Nhưng chủ chốt trong việc hành binh là phải đề phòng trước, tuy bất tất phải lo xa quá, nhưng cũng không nên gặp việc, lại khinh thường, hờ hững. Lũ các ngươi thống lĩnh thủy quân, khi tiến vào cửa biển, nên chọn chỗ mà đậu thuyền, trước hết ra hiệu lệnh, để trong quân đều biết. Lúc tiến đánh, nếu giặc [thả bè] phóng lửa cho trôi xuống, thì quân ta nên tiến hay dừng, phải nên kỹ càng tính trước cơ nghi, khỏi đến nỗi lâm sự bối rối. Nếu giặc phóng bè lửa rải rác, không dây buộc liền lại, thì có thể lựa theo chỗ hở mà tiến lên ; nếu có khóa liền lại thì nên đi theo hai bên, hoặc dùng búa lớn, dao sắc để chặt đứt dây buộc, hoặc dùng đinh ba có cán dài để gạt bè lửa của nó hoặc do đường tắt, quấy rối phía sau giặc, thì thế nào cũng thắng được. Đấy là nói về khi giặc nhân lúc chiều gió thuận, dòng nước xuôi, lại đánh quân ta, bất đắc dĩ phải đối phó, thì các ngươi nên xem xét đại ý nói trên mà dùng cho khéo. Còn đứng về phía ta mà nói, nên đợi tới kỳ đầu con nước, hoặc đại binh theo sau mà đến, hoặc thủy triều đến mà không có gió, hoặc gió to mà chưa có nước triều, nên xét nghiệm kỹ : nếu gió to hơn nước triều, có thể ngược dòng mà lên được thì lựa theo gió ; hoặc nước triều lên gấp hơn gió, có thể nhân nước triều mà lên được thì lựa theo nước triều ; hoặc vì mùa thu mưa dầm ẩm ướt quá, giặc khó phóng lửa được, thì nhân ưu thế ấy, tiến mau mà đánh, tất đánh thắng được giặc. Việc này, do ta nghĩ tới, nên dụ cho lũ các ngươi biết. Ngoài ra, còn nhiều mưu chước hơn, cần phải bàn hỏi cho rộng, gặp việc, biết lo lắng ; khéo mưu tính cho thành công, nhưng nắm đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa, không để lỡ mất ba món ấy, thì có thể tất thắng được".


    Vua lại bảo thị thần rằng : "Quan quân đi tiễu, đã thắng nhiều lần, nếu nhân cơ hội ấy, đánh dấn một trận có thể thành công được. Phan Văn Thúy là người lão thành, há không nghĩ tới điều ấy, mà lại cho dừng quân lâu, như thế là thất sách lắm! Chẳng qua hắn muốn đợi sau khi thủy quân đã thắng rồi, mới nhân đà ấy đem bộ binh đánh, nhờ người làm sẵn để cho công việc mình được dễ dàng đó thôi".


    Vua dụ Nội các rằng : "Trước kia, tỉnh Biên Hòa thất thủ, tướng sĩ nhiều người chết trận, tình rất đáng thương. Vậy truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán ngày nào lấy lại được tỉnh lỵ sức ngay cho quan địa phương xét những người chết trận ấy, từ suất đội trở lên đều thu nhặt lấy hài cốt đưa quàn ở tỉnh Bình Thuận, rồi làm thành tập tâu lên để đợi chỉ. Khi việc yên rồi, sẽ tra rõ quê hương, lục dụng con cháu các người ấy. Lại lập một đàn sở ở chỗ đất rộng giữa đặt bài vị bọn Lê Văn Nghĩa, Phan Văn Song và Đặng Văn Quyến, dưới bày bàn thờ biền binh chết trận, sắm đủ dê, lợn, bò và các lễ phẩm, đưa bọn giặc phạm pháp đã bị bắt đến trước đàn, mổ lấy tim gan đem tế để hả lòng căm giận [cho các tử sĩ]. Lại tìm đất lập miếu, mỗi năm tế một tuần để họ được hưởng ân điển lâu dài".


    Vua cho Quảng Nam là tỉnh lớn gần Kinh kỳ, phái 4 suất đội, 200 biền binh trong quân Vũ lâm đi theo viên thự Tuần phủ Đỗ Khắc Thư coi giữ tỉnh thành.


    Tổng đốc Định - Yên Đặng Văn Thiêm tâu nói : "Thuộc hạt có huyện Thiên Bản ((1) Sau đổi là Vụ Bản thuộc Nam Định.1), huyện ý Yên và huyện Phong Doanh, địa thế thấp trũng, bị nước lụt tràn ứ, dân gian có vẻ kém đói. Vậy đã tạm chi tiền và gạo để phát chẩn".


    Vua dụ bảo nên xét kỹ tình hình, nếu còn ngặt nghèo cần thiết thì lấy thêm gạo kho để chẩn cấp cho. Nhân đó vua bảo thị thần rằng : "Tháng chạp năm ngoái ta xem lịch năm Minh Mệnh thứ 14 [1833] thấy hai tiết Lập xuân và Vũ thủy đều đã qua rồi, không ở vào tháng giêng năm ấy, cho rằng tất có tai biến, nay quả thế".


    Ra mệnh lệnh rằng : Để khảo công các phủ huyện địa phương từ tỉnh Quảng Trị trở ra Bắc, là căn cứ vào việc khuyên dân giúp dân làm ruộng, trồng dâu, xét xem ai siêng, ai lười, định việc thăng, giáng.


    Vua dụ Nội các rằng : "Năm nay Bắc Kỳ vỡ đê, nước lụt tràn tới, nhiều chỗ bị hại. Ngay những tỉnh ở nơi biên viễn như Tuyên Quang, Lạng Sơn, giá gạo cũng nhân đó cao vọt. Ta bèn nghĩ đến chính sách cứu đói, không gì bằng trồng nhiều thức ăn được, để cho thừa thãi thì giá gạo không đến nỗi ngày càng cao lên, dân tình không đến nỗi quẫn bách. Đấy là việc cốt yếu. Đối với năm tỉnh Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Dương, đã có chỉ để dạy bảo rồi. Vậy, truyền chỉ cho các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các tỉnh Quảng Trị, Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Ba ((2) Thanh Ba : tức Thanh Hoa.2), Nam Định, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng và Quảng Yên đều nên tận tâm về việc dân. Phàm ruộng đất có
  • Chia sẻ trang này