0060.0069

5/1/16
0060.0069
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    nghiệp chủ, điền hộ ((1) Nghiệp chủ : là chủ có ruộng đất nhà cửa.


    Điền hộ : là người không có ruộng đất phải đi thuê ruộng đất cày cấy.1) trông coi, thì [các quan] cần phải khuyên bảo nhiều cách khiến họ hết sức chăm việc làm ruộng, trồng dâu ; còn quan điền, quan thổ và tất cả chỗ đất bỏ hoang thì các quan phải chiêu tập những người nghèo túng, sai trồng nhiều các thứ lúa, khoai đậu, củ mài và lúa mạch, nếu người nào không đủ vật lực để trồng cấy, thì cho vay tiền và gạo tới sau khi lúa chín rồi phải trả Nhà nước đúng số đã vay trước, còn thừa thì để cho người làm được ăn, để năm sau vẫn có thể tiếp tục trồng cấy, cho sinh lý được dồi dào.


    "Vậy, đối với các viên phủ, huyện liền lấy việc ấy làm mức khảo công ; ai hay khuyến khích đốc suất có phương pháp để các sản vật đã trồng cấy được thừa nhiều, làm cho giá gạo rẻ mà dân đủ ăn, thì do thượng ty xét thực tâu lên, sẽ chuẩn cho là bậc thượng khảo, sẽ được cất nhắc, không cần phải theo thứ bậc. Thứ đến viên quan nào chăm việc khuyến khích giúp đỡ dân trồng cấy, có thể cứu cơ ; tuy giá gạo không hạ xuống, cũng không đến nỗi cao lên, sẽ chuẩn cho là trung khảo ; sẽ liệu lượng cho lên cấp hoặc kỷ lục. Còn viên quan nào làm không được việc, lơ mơ không nên công hiệu gì, hoặc lại có tình tệ khác, cũng chuẩn cho hặc tâu cách bãi, và trị tội tùy theo nặng hay nhẹ.


    "Lại như các tỉnh Hưng Hóa, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái Nguyên, phàm hạt nào có người Kinh thì gia tâm khuyến khích đốc suất ; còn đối với dân thổ thì bất tất phải gò bó khe khắt, đến nỗi làm cho họ sợ hãi hoang mang chăng".


    Vua lại cho Kinh sư là chỗ tốt đẹp hàng đầu, nên cần khuyến nông để trọng sự sinh sống của dân, bèn sai truyền chỉ rằng : "Đất bỏ không ở nơi phụ quách ((2) Phụ quách : cũng như chỗ ngoại ô hoặc ngoại châu thành.2), trong ngoài Kinh thành, chuẩn cho các quân nhân cấy nhiều thứ lúa và sản vật ăn được, có thiếu vốn thì nhà nước cho vay. Còn chỗ nhà quan, trại quân và ruộng đất bỏ hoang ở ngoại thành, chuẩn cho viên Kinh doãn thuê dân trồng cấy, đợi đến khi gặt hái xong, thì trả lại Nhà nước số vốn đã cấp và giá thuê còn thừa thì để cho ăn dùng. Hoặc giả người nào tự có vật lực không muốn vay vốn cũng được”.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Những lính mộ ở các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, người nào quê quán ở từ Quảng Bình trở vào Nam trước đã chuẩn y lời bàn của bộ, đình chỉ việc cấp áo quần. Song nghĩ lại họ xa nhà, xa quê, lưng sức làm gì được thừa thãi ! Vậy gia ân cho chiểu theo lệ quân lính ở Kinh đi thú, mỗi năm cấp áo quần một lần, kể bắt đầu từ năm nay. Lại, quân lính trong Tượng cơ ((3) Tượng cơ : cơ binh sử dụng voi trận.3), tuy quê quán ở từ Hà Tĩnh trở ra Bắc nhưng cỡi voi chăn voi khó nhọc, không ví như lính khác, vậy chuẩn cho cũng được lệ cấp quần áo".


    Quy định lại thể lệ về ban biền binh trong quân Thần sách ở Nghệ An và Hà Tĩnh (tỉnh Nghệ An trước kia chia 2 ban, nay đổi làm 3 ban ; tỉnh Hà Tĩnh trước kia chi 3 ban, nay đổi làm 2 ban).


    Sai Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Nam Kỳ sắp xếp lại những biền binh do các tỉnh phái đi làm việc bắt giặc ; cơ Định dũng tỉnh Bình Định gọi là vệ Định dũng ; các cơ tỉnh Phú Yên đều dồn lại gọi là vệ Phú dũng ; các cơ tỉnh Khánh Hòa đều dồn lại gọi là vệ Hòa dũng ; các cơ tỉnh Bình Thuận đều dồn lại gọi là vệ Thuận dũng. Tất cả đều trích lấy người bổ làm quản viên, nhận lĩnh đem đi đánh giặc. Sau khi việc đã yên rồi, sẽ cho trở về hàng ngũ với danh hiệu cũ.


    Hộ bộ bàn tâu, cho rằng : "Lệ trước, phàm các quan văn võ được bổ ra ngoài, hoặc phái đi trú phòng, về tiền và gạo theo lệ lương bổng được chi đến kỳ cứ để cho lĩnh ở địa phương sở tại. Lúc thường, vô sự, như thế thực là phải ; nhưng lúc có việc quân, chuyển vận lương thực rất khó. Vậy, phải nên có một phen châm chước bàn lại để làm thế nào cho thích đáng. Xin từ nay trở đi, phàm được phái đi làm việc bắt giặc, quan Nhất, Nhị phẩm, không cứ văn hay võ, đều lượng cấp cho tiền và gạo 1 tháng. Nhất phẩm, mỗi viên 10 quan, Nhị phẩm, 6 quan ; hàng văn Tam phẩm sung chức Tham tán hoặc Tán tương, mỗi viên 3 quan tiền, 2 phương gạo. Văn : Tứ, Ngũ phẩm ; võ : Chánh Phó lãnh binh, Quản vệ, Quản cơ, mỗi tháng đều 2 quan tiền, 1 phương gạo. Ngoài ra văn từ Lục, Thất phẩm, võ từ Suất đội trở xuống đều 1 quan tiền, 1 phương gạo. Còn thừa ra, xin cho thân nhân ở nhà lĩnh riêng, hoặc khi việc yên rồi, đều do địa phương sở tại lĩnh riêng, hoặc ngày đi việc công về, truy lĩnh, đều được".


    Lời bàn ấy tâu lên, vua đặc cách đổi Lãnh binh mỗi tháng cấp tiền 5 quan, Quản vệ 4 quan, Quản cơ 3 quan, Suất đội 2 quan, hạng lương bổng không tới 2 quan thì mỗi tháng cấp cho 1 quan 5 tiền. Còn ngoài ra, đều cho làm theo như lời bộ đã bàn định, kể bắt đầu từ mồng 1 tháng 8 năm nay.


    Bàn xét về chiến công dẹp thổ phỉ ở Bắc Kỳ.


    Vua dụ Nội các rằng : "Trước kia, đã phái đại binh tiến đánh thổ phỉ ở các đạo Ninh Bình, Thanh Ba (Thanh Hoa), Sơn Tây, Hưng Hóa. Oai của quân đến đâu, như sấm động gió lay : thủ phạm giặc đã bị bắt, công lớn đã thành. Các Tổng đốc, Tham tán đáng được xét công ban thưởng để đền đáp công lao khó nhọc. Tổng đốc quân vụ Tạ Quang cự và Tham tán Hoàng Đăng Thận trước đã xông pha hiểm trở, lấy lại được Chi Nê, rồi tiến đánh tổ giặc ở Sơn Âm, Thạch Bi, săn bắt được đầu sỏ giặc là lũ Lê Duy Lương đem trị tội. Bắt được kẻ cừ khôi, quét sạch được sào huyệt, công lao thật đã rõ ràng. Vậy phong Tạ Quang Cự làm Vũ Lao tử, Hoàng Đăng Thận là An Chí nam và đều thưởng quân công gia 1 cấp ;


    "Tổng thống quân vụ Phạm Văn Lý, Tham tán Lê Văn Đức chia nhau đi chặn giặc ở Thạch Bi, tiến quân đi tiễu Đà Bắc, bắt được yếu phạm là Phạm Doãn Dũng, làm cho chỗ ấy yên ổn phẳng lặng ;


    "Tham tán Phạm Văn Điển trước đã hăng hái tiến lên, đánh giải vây cho Hưng Hóa, lại chia quân đi tiễu ở Thanh Xuyên, bắt và chém được nhiều giặc ;


    "Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn đã chống giữ được cô thành, đánh bại được nhiều giặc, lại đi tiễu ở Văn Bàn, làm cho tên phản nghịch là Hoàng Kim Thịnh, thế cùng phải ra thú ;


    "Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng và Bố chính Nguyễn Đăng Giai đánh phá được đảng giặc, lấy lại được 2 bảo Hoàng Giang, Phố Cát ; (mấy viên trên đây) so với cuộc bắt sống được đầu sỏ giặc ở Ninh Bình tuy còn hơi kém, nhưng công đều đáng ghi chép cả. Vậy Phạm Văn Lý, Lê Văn Đức, Phạm Văn Điển, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Khả Bằng và Ngô Huy Tuấn đều được thưởng quân công, gia một cấp".


    Rồi đình thần tâu lên bản danh sách ghi công trạng theo thứ bậc đã chia của các viên biền các đạo đi đánh giặc, theo như đình thần đã bàn :


    Hạng ưu : Phó vệ úy ở Tả vệ dinh Tuyển phong là Văn Hữu Xuân, Phó lãnh binh Nam Định là Lương Văn Liễn, đều thăng thụ Vệ úy, Chánh tam phẩm. Vệ úy ở Tiền vệ dinh Hổ oai là Phan Văn Cần và Vệ úy ở Tiền vệ dinh Tuyển phong là Đoàn Văn Cải, đều được bổ ngay làm Lãnh binh. Phó vệ úy vệ Khinh kỵ là Cao Khả Tuyên, Phó vệ úy ở Hữu vệ dinh Long võ là Nguyễn Tiến Lâm, Phó vệ úy ở Trung vệ là Nguyễn Đăng Huyên, Phó vệ úy ở Nhị vệ Tiền bảo là Giáp Văn Tân đều được thăng Vệ úy. Người nào đã có quân công gia cấp rồi, lại gia thêm nghị tự 1 cấp ; người nào chưa có quân công thì thưởng quân công gia 1 cấp. Thự Quản cơ ở Tả cơ Ninh Bình là Nguyễn Văn Tương thăng Vệ úy, Tòng tam phẩm.


    Hạng bình : Quản cơ ở cơ Trung định là Vũ Tiến Mâu, Quản cơ ở cơ Hậu hùng là Hoàng Văn Hậu, đều thưởng gia hàm Vệ úy ; thự Phó vệ úy ở vệ Uy võ là Trần Nhữ Đoan, thự Phó vệ úy ở Hữu vệ dinh Hổ oai là Vũ Đình Quang, thí sai Quản cơ ở cơ Hữu hùng là Lâm Uy, đều cho thực thụ ngay ; Phó quản cơ ở cơ Hữu chấn là Đỗ Văn Quyền thăng thụ Quản cơ ; Phó vệ úy ở vệ Tráng võ là Tống Phước Minh, Phó vệ úy ở Trung vệ dinh Hổ oai là Trần Đình Uẩn, đều thưởng thêm kỷ lục 2 thứ.


    Hạng thứ : Bọn Quản cơ ở cơ Tả tiệp là Phan Tất Tín 4 người đều thưởng kỷ lục 2 thứ ; bọn Phó vệ úy các quân là Nguyễn Văn Quyền 4 người đều thưởng kỷ lục 1 thứ.


    Nguyên án sát Định Tường là Ngô Bá Tuấn, lấy lại được tỉnh thành.


    Trước đây, tỉnh Định Tường thất thủ. Bá Tuấn ẩn nấp ở dân gian, mật sai thí sai Chánh đội trưởng Suất đội cơ Định oai là Thái Văn Nhiên và Lý trưởng Long Điền là Ngô Văn Hiền mật họp quân nghĩa dũng, mưu toan việc thu phục. Đến bấy giờ bè đảng của giặc rút về Phiên An, chỉ để ngụy Trấn phủ là Lê Viết Chương, ngụy Tuyên phủ là Bùi Văn Thuận, ngụy Tham phủ là Hoàng Công Bá và vài mươi người trước ở đội Hồi lương, Bắc thuận chiếm giữ tỉnh lỵ. Thái Văn Nhiên và Ngô Văn Hiền bèn hẹn với thư lại ty Niết((1) Niết ty : ty án sát. 1) ở An Giang là Lê Quang Ngạn và Nguyễn Đăng Phong, thư lại ty Phiên ((2) Phiên ty : ty Bố chính.2) ở Định Tường là Bùi Tiến Tước, củ hợp dân phu ứng nghĩa hơn 200 người, nhân ban đêm, đánh úp bắt được ngụy Thuận, ngụy Bá và 6 tên tội phạm, trong đội Hồi lương. Ngụy Chương chạy thoát được, nhưng rồi cũng bị dân bắt được giải nộp.


    Ngô Bá Tuấn ở thôn Thạch Hồ (thuộc huyện Kiến Hòa) nghe tin báo, ngày hôm ấy lập tức đốc suất nghĩa dân về tỉnh, trước hết sai chém và đem bêu bọn ngụy Chương và lũ tội phạm Hồi lương, luôn với bọn ngụy Huyện doãn ở huyện Kiến An là Hồ Chu (trước là Cửu phẩm thư lại tào Thanh bình), ngụy Đốc phủ ở Kiến An là Nguyễn Văn Trí (ngụy xưng là Cai cơ vệ Hữu khuông, ngụy Huyện úy huyện Bảo An (thuộc tỉnh Vĩnh Long) là Nguyễn Văn Ân mà sau đó đã lục tục bắt được. Còn ngụy Thuận, ngụy Bá đóng gông khóa giam cầm nghiêm ngặt.


    Vừa gặp ngụy Trung quân là Thái Công Triều từ Vĩnh Long đến, nói rằng : "Trước bị nghịch Khôi cưỡng ép, nay xin tự đốc suất thuyền quân nghĩa dũng tiến đến Phiên An giết giặc, dặn Tuấn thu họp quân dân để tiếp ứng. Tuấn đem cả mọi việc ấy tâu lên vua, và tư đến quân thứ Biên - Long xin quân tiếp viện.


    Vua dụ rằng : "Ngô Bá Tuấn, trước kia, bỏ thành thất thủ, có chỉ cách chức, bắt làm lính ; nay biết chiêu tập quân nghĩa dũng, nhân chỗ sơ hở, đánh giết được bè đảng giặc, lấy lại được thành trì. Công ấy thực không phải nhỏ. Vậy, lập tức tha cho tội trước, lại gia ơn cất lên làm Bố chính sứ. Bọn Thái Văn Nhiên, Lê Quang Ngạn, Nguyễn Đăng Phong và Bùi Tiến Tước hợp sức với nhau, đương đêm đánh úp, có công đầu khởi xướng việc nghĩa, đều cho làm Cai đội, Chánh ngũ phẩm, chuẩn cho theo tỉnh sai phái, gặp có chỗ khuyết sẽ sung bổ. Ngô Văn Hiền tuy có đồng mưu, nhưng thuyền quân ứng ở ngoài, không ở trong cuộc, có khác với lũ Thái Văn Nhiên. Vậy, gia ơn cho làm Đội trưởng theo tỉnh sai phái. Lại thưởng cho 1.000 quan tiền, chia nhau, để tỏ khuyến khích. Còn các dân phu ứng nghĩa trong trận đánh ấy, mỗi người đều được thưởng tiền 1 quan. Người bắt được tên đầu sỏ Lê Viết Chương thì thưởng cho 200 quan tiền. Mấy tên tội phạm bị giam là Bùi Văn Thuận và Hoàng Công Bá tức thì xử tử bằng tội lăng trì. Tử thi tên Lê Viết Chương, kẻ tội phạm đã bị chết chém, phải đem chặt ra từng tấc, vứt bỏ đi, cho hả lòng người.


    "Vả lại, nay quan quân đại đội, thủy bộ cùng tiến, có thể định ngày lấy lại Phiên An, còn đợi cầu viện làm gì ? Duy có điều là nghe đồn trong tỉnh hạt có lũ càn bậy, cướp bóc lẫn nhau. Ngô Bá Tuấn, ngươi cần nên hòa hợp với nhân dân, để cho được yên ổn ở chỗ như cũ, lại gia tâm đốc sức binh, dõng, củng cố đồn ải cho hoàn toàn vững chắc, để giữ không xảy điều gì lo ngại".


    Nguyên thự Tuần phủ Tô Trân nghe thấy đã lấy lại được tỉnh thành, cũng từ Hậu Giang trở về.


    Vua dụ rằng : "Tô Trân trước đã bỏ thành chạy trốn, lại không hay chiêu tập hương dõng, đứng đầu phất cờ nghĩa ; đến khi nghĩa dân lấy lại được tỉnh thành, đã qua 5 ngày, mới ló đầu ra. Như thế thì không có một tý công nào, lấy gì đủ chuộc được tội trước ? Tô Trân trước đã bị cách chức, xuống làm lính, nay phái đến làm việc ở chỗ Ngô Bá Tuấn, nếu biết cố gắng trổ sức, không ngại khó nhọc vất vả, hoặc giả có thể chuộc lại lỗi trước được một phần nào. Đợi khi việc yên rồi, sẽ lại xuống chỉ để định đoạt".


    Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu nói, việc phòng đê, xây thành ở Nam Định đã chia ra ủy người xếp đặt xong rồi, tức thì đã thân đến tỉnh Hưng Yên hội nhau làm việc.


    Vua dụ rằng : "Hưng Yên là tỉnh kiêm hạt của ngươi, nên ra sức làm thế nào để cho việc gì cũng ổn thỏa mới được".


    Hà Nội và Sơn Tây tâu báo : "Nước sông đã rút xuống, những chỗ đê vỡ ở Phương Độ và Đồng Lư cũng đã đắp lại xong".


    Vua dụ rằng : "Nhờ trời, nước lụt xuống mạnh, đã là may cho dân ta lắm ; đến như các chỗ đê vỡ, đã ra sức hàn đắp lại được thì quan lại ở địa phương sở tại cũng dự có công lao. Vậy, gia ơn cho các viên tỉnh, phủ, huyện trước đây bị giáng cách, nay đều được khai phục".


    Thự Bố chính tỉnh Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố tâu nói : "Trước đây, nhân nước lên to quá, tư đê ở Bình Tuyền thuộc tỉnh hạt bị tràn vỡ, đồng ruộng lúa má tổn hại nhiều, nhà cửa nhân dân 3 xã Nam Viêm, Hiển Lễ và Đức Cung bị ngập hơn 270 hộ". Vua dụ chuẩn cấp cho mỗi hộ tiền 1 quan, gạo 1 phương.


    Hộ lý Tuần phủ tỉnh Hưng Yên là Vũ Tuấn tâu nói : "Gần đây, công đê ở Sài Quất, Sài Thị và Nhuế Dương vỡ 4 đoạn, nước sông chảy xói dữ lắm, thuyền không dám đến gần, đã gia công đắp lấp trước 11 đoạn chỗ đê đã bỏ ở lần ngoài thuộc địa phận ba xã Kinh Khê, Cốc Đăng và Nghi xuyên ; còn các chỗ vỡ ở công đê, xin đợi khi nước rút xuống, sẽ tiếp tục làm".


    Vua nói : "Chỗ tư đê vỡ, công việc làm cũng dễ, chuẩn cho tức thì đắp lấp cho vững bền, để phòng nước lụt sau này. Còn công đê, đợi sau sẽ có chỉ dụ chớ nên đắp vội, phí mất nhân công".


    Vũ Tuấn lại nói : "Nay thần chuyên làm việc đắp đê, còn án sát Nguyễn Nhược Sơn chuyên làm việc chẩn cấp cho nạn dân. Thần rất lo nghĩ về các hạng của cải chứa ở kho Xích Đằng về nhà giam lại tỉnh lỵ, và về hai chỗ chứa tài liệu ở ngoài thành rất quan trọng !".


    Vua dụ : "Việc quan ở tỉnh và công việc đắp đê, cả hai đều trọng yếu và khẩn cấp cả. Vũ Tuấn làm một mình, tất không khỏi có vẻ kiệt quệ. Vậy, cho Bố chính tỉnh Hải Dương là Trần Văn Tuân tới chỗ gần để đến hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ tỉnh Hưng Yên. Nguyên Hộ lý Vũ Tuấn, tác vi Bố chính tỉnh Hưng Yên, chuẩn cho vẫn cứ chuyên làm việc đê. Phàm việc hàn đắp chỗ vỡ, chẩn cấp nạn dân đều được cùng với Nguyễn Nhược Sơn chia nhau mà làm. Còn công khố ở tỉnh thành và các việc dân sự thì để cả cho Trần Văn Tuân. Đến như Nguyễn Nhược Sơn, có bổn phận về công việc hình án cũng phải nên trông nom lấy, chớ nhất khái trút cả cho Trần Văn Tuân để đến nỗi xảy ra chậm trễ lầm lỡ".


    Sai Viên ngoại lang Nguyễn Hữu Gia đi đường trạm đến tỉnh Hưng Yên theo phái viên là Phan Bá Đạt, tỉnh thần là Vũ Tuấn và Nguyễn Nhược Sơn, ra sức làm việc. Khi việc xong, chuẩn cho về Kinh để chọn dùng. Nguyễn Hữu Gia trước từng làm đê, đã quen công việc, cho nên sai đi.


    Vua nghe biết dân gian các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Ba (Thanh Hoa), đồng tiền tiêu dùng chưa được đầy đủ, thừa thãi bèn sai truyền chỉ cho tỉnh thần : mỗi tỉnh đều chiểu theo số vật hạng mà bộ Hộ và bộ Công đã tư đến, theo thời giá cao hạ, lựa tính đặt tiền mua, để cho dân được tiện lợi.


    Thự Tuần phủ Hưng Hóa, Ngô Huy Tuấn, tâu nói : "Dân huyện Tam Nông thuộc tỉnh hạt, trước bị thổ phỉ quấy rối làm hại. Vậy người nào bị hại nặng, xin tha cho thuế mùa hạ ; người nào bị hại nhẹ, xin hoãn việc thu thuế". Vua theo như lời xin.


    Thuyền giặc Đồ Bà hơn 20 chiếc lén lút xuất hiện ở đảo Thuận Tĩnh tỉnh Bình Thuận. Dân sở tại đánh nhau với giặc, bị thương chết hơn 100 người. Tỉnh phái Phó lãnh binh là Phạm Văn Huyền và Phó quản cơ cơ Thuận tráng là Dương Văn Khoa, quản lĩnh thuyền quân đi dò bắt, đến đảo Mao Dữ đánh và đoạt được 1 chiếc thuyền của giặc, bắt được 3 tên, bắn giết rất nhiều. Việc ấy đến tai nhà vua, vua thưởng cho lũ Phạm Văn Huyền mỗi người 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; quân, dân 300 quan tiền. Người bị thương, chết, được cấp tiền có thứ bậc.


    Giặc lại đón cướp thuyền buôn và lên bờ đốt phá nhà dân hơn 10 chỗ tại các hải phận Cam Linh, Nha Phu, Vân Phong, Cầu Huân thuộc tỉnh Khánh Hòa.


    Vua nghe biết dụ rằng : "Giặc ấy chẳng qua là lũ tiểu yêu hôi tanh. Thuyền quân do tỉnh phái đi làm công trạng gì, mà để cho lũ giặc kia có thể nhân kẽ hở, lén lút xuất hiện như vào chỗ không có người ? Vậy, bộ biền Lãnh binh là Trương Văn Thận, Phó quản cơ cơ Hòa tráng là Dương Văn Phong cùng các Suất đội ở chuyến đi ấy và các thủ ngự ở các đồn tấn đều trước phải cách chức, nhưng cho ở lại làm việc. Các tỉnh thần là Nguyễn Văn Điển và Hỗ Hữu Thẩm cũng đều bị giáng 4 cấp, nhưng vẫn phải có một người chính mình đem quân đi tuần tiễu nghiêm sức cho lũ bộ biền, và tấn thủ phải ra sức bủa vây lùng bắt, cần bắt cho được cả đoàn thuyền của giặc ấy, đưa đến trị tội.


    Lại sai các tỉnh Phú Yên, Bình Thuận, Quảng Ngãi đều phái thuyền quân đến hội tiễu.


    Vua dụ bộ Binh rằng : "Mỗi khi giao tiết hạ thu, giặc biển Đồ Bà nhân sơ hở, lén lút xuất hiện, đón cướp thuyền buôn và đậu thuyền vào chỗ thôn xóm vắng vẻ hẻo lánh ở bờ biển để cướp bóc. Nhân dân ven biển phần nhiều khổ sở vì chúng ! Vậy, 3 tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều xét xem dân cư ven biển thuộc địa hạt mình, chỗ nào bọn giặc có thể đến đậu thuyền để xâm lấn cướp bóc được, thì liệu lượng cấp cho mỗi xã thôn 3 hay 5 cây súng điểu sang, mỗi cây súng được 30 phát đạn ; lại phát cho 20 hay 30 cây giáo trường để dùng vào việc phòng bị chống giữ. Đến tháng 9, gặp tiết gió Bắc, bọn giặc ấy khó lòng ở biển được, tức thì phải nộp lại đúng số. Nếu có chi dùng quá thuốc đạn, thì đề vào là đã tiêu hao đi rồi. Hằng năm, cứ làm theo lệ này".


    Quy định lại về thể lệ đường quan thi hành lời vua phê.


    Vua dụ đình thần rằng : "Chiếu chỉ ban ra có quan hệ đến chính thể. Trước đã xuống dụ bảo các nha ở bộ hay ở Nội các phàm có chỉ dụ, đều do tay ấn quan viết ra, điều đó đã ghi làm lệnh rồi, nhưng ta nghĩ : công việc ngày một nhiều, ở trong đó cũng có việc thường, việc quan trọng khác nhau, nếu ấn quan cứ nhất nhất cầm bút làm cả, thì cũng bận rộn. Nay chuẩn cho quy định lại : Phàm bản chính về những việc quan trọng, ở Lục bộ thì do đường quan, ở Nội các thì do viên sung biện, đều chiểu theo nguyên phiếu, chính tay phải viết ; còn bản sao, chuẩn cho viên tá lĩnh làm thay. Nếu là việc thường hoặc là loại sổ sách các nha tiêu giữ thì bản chính chuẩn cho viên tá lĩnh ; bản sao chuẩn cho ty viên thực thụ phụng làm. [Việc này thi hành] bắt đầu từ mồng 1 tháng 8 năm nay.


    Ra mệnh lệnh cho trong Kinh và ngoài các tỉnh phải xét xử dứt khoát mọi việc hình ngục.


    Vua dụ bộ Hình rằng : "Các tỉnh Bắc Kỳ thình lình bị nước lụt, ta chợt nghĩ đến tai biến ấy, liền xuống chỉ dụ chia người đi phát chẩn, lại bớt món ăn, bỏ ca nhạc, sợ hãi tu tỉnh, mong để đón được hòa khí của trời. Lại nghĩ : một việc hình ngục, quan hệ đến mạng người. Trong đó có những người bị kiện hoặc bị cung xưng, nếu là án nặng, cố nhiên phải giam cấm nghiêm ngặt để tra xét ; còn những người liên can và làm chứng cũng nhất khái giam lâu ở nhà tù, thì không khỏi quá lạm tới người vô tội. Vì thế, phải nên xét xử cho dứt khoát. Vậy, truyền dụ cho các tỉnh từ Hà Tĩnh trở ra Bắc, các nha môn xét hỏi về việc hình lớn hay nhỏ, phàm án kiện đương tra xét, về người chứng, nếu đã có chính phạm đến hầu tòa rồi thì lập tức nên lấy cung rồi buông thả ngay. Gián hoặc chính phạm còn trốn, mà người chứng còn phải giam thì giao dân bảo quản, đợi bắt được tên phạm trốn, sẽ xét. Còn những việc kiện nhỏ tầm thường, người bị kiện ấy tình lý xem ra nhẹ, mà người chứng nại ra chưa đòi được, thì người bị kiện ấy cũng giao cho dân bảo quản, đợi người chứng kiến, tra xét rồi, sẽ nghị xử. Đấy là chỉ nói về các án nhẹ. Nếu là án nặng, người yếu chứng cần giam giữ thì chuẩn cho vẫn phải tra xét để làm như cũ".


    Rồi lại vì Nam Kỳ cũng bị hạn hán, giá gạo lên cao, vua bèn dụ cho từ tỉnh Quảng Nam trở vào, các nha môn xét hỏi về hình ngục, cũng chiểu theo như thế mà làm.


    Thảo nghịch Hữu tướng quân Phan Văn Thúy ốm nặng, dâng sớ tâu xin đem ấn, triện, cờ, bài giao cho Tham tán Trương Minh Giảng, Hoàng Đăng Thận phụng giữ làm việc, còn Thúy thì mang con là Phan Văn Thụy cùng tiêu thuộc về Kinh để điều dưỡng.


    Trương Minh Giảng, Hoàng Đăng Thận cũng tâu nói : "Việc quân ở Phiên An và Biên Hòa đương gấp, xin đưa binh lính và voi ở các cơ, các vệ hơn 4.000 do đường bộ tiến lên, phái ủy Vệ úy ở Hữu vệ dinh Thần cơ là Trần Văn Trí đốc suất 15 chiếc thuyền quân vệ Hùng uy và vệ Nghiêm uy hợp với đoàn thuyền của lũ Nguyễn Văn Hòa, Mai Công Ngôn, Phạm Hữu Tâm và Đỗ Chiêm Phác do đường thuỷ tiến lên, đều đến hội tiễu, để kịp cơ hội nên làm, nhưng liệu lượng để 600 binh, dõng, 11 con voi theo án sát Biên Hòa là Hoàng Văn Đản đóng giữ Biên - Long để phòng hộ đường vận lương".


    Vua dụ Nội các rằng : "Phan Văn Thúy tuổi già, bệnh chưa bớt, chuẩn y cho về Kinh điều trị. Hiện nay có dịp tốt, chính nên nhân đà sắc bén tiến lên. Vậy, truyền dụ cho Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận rằng : Nếu Trần Văn Năng hoặc Nguyễn Văn Trọng hiện đến quân thứ rồi, thì cho thay lĩnh ấn, triện, cờ, bài, hợp lại cùng tiến lên, càng tốt ; nếu chưa đến, thì quyết không có lý đợi mãi, chuẩn cho tức thì đem quân, voi, thuyền bè chia đường tiến đánh. Mỗi người đều mang lương ăn 10 ngày. Khi đến Phiên An, thì dân hạt ấy vẫn có lòng trung nghĩa, tất có giành cơm bầu nước để đón quân nhà vua, lo gì đường vận lương không thể tiếp được ?


    "Và hiện tại, thủy quân đã được 50, 60 chiếc thuyền, biền binh hơn 2.000 người, chắc cũng đã nhiều. Nếu đoàn thuyền của Thảo nghịch Tả tướng quân kịp đến hội đồng, quản lĩnh tiến lên, thì đành rằng tốt rồi, nhưng nếu chưa đến, thì chuẩn cho Trần Văn Trí tức thì đốc suất thủy quân hiện có, tiến đi đánh dẹp. Một khi bộ binh đã đến đồn Bình Đồng, mà thủy quân cũng đến để giúp đại binh thì càng hay. Nếu thủy quân chưa có thể cùng đến được, mà thuyền giặc đón chặn ở đầu bến đò, thì bộ binh đã có các súng đại luân xa, quá sơn pháo và thần công có thể bắn vào chỗ thành bền và nơi xa được, tức thì nên bày súng trên bờ, sai người tài bắn ngắm hướng nhằm đích mà bắn vào giặc, thì thuyền giặc không thể chống nổi, tất phải rút lui, quân ta có thể sang qua đò được. Nếu chỗ ấy, sông rộng, nước sâu, khó lòng sang qua được, thì chi bằng ven theo sông ấy, lên mạn thượng du, xem chỗ nào nông, hẹp có thể sang qua được, tìm cách dùng nhiều thuyền nhỏ, bè gỗ để chở quân sang. Hễ quân ta sang sông được rồi thì đi trên đất bằng, như giẫm trên chiếu, có thể thẳng đến Phiên An đánh diệt nghịch giặc".


    Lại truyền dụ cho Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng và Tham tán Nguyễn Văn Trọng theo đường trạm kíp đến quân thứ Biên - Long. Nếu quan quân hai đạo thủy, bộ còn lưu lại ở đấy, thì lập tức tuân theo lời dụ trước, chước lượng với nhau : một người thống lĩnh bộ binh, một người thống lĩnh thủy quân, đều tiến lên đánh giặc. Nếu quan quân đường bộ trót đã đi trước, mà thủy quân chưa đến mau được, thì một người trích ngay lấy 300 biền binh và 6 thớt voi chiến hiện đóng ở Biên - Long tiến đến quân thứ ; thay lĩnh cờ, bài, ấn triện của Thảo nghịch Hữu tướng quân, điều khiển việc đánh giặc, một người cứ ở lại, đợi khi thuyền quân đến, tức thì cai quản tất cả đoàn thuyển thẳng từ cửa biển Cần Giờ, mau chóng đi tới.


    Lại truyền dụ cho Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương cũng mau mau đốc suất thuyền quân tiến đi hội tiễu.


    Quyền lĩnh ấn triện viện Đô sát là Hà Duy Phiên hặc tâu : "Tướng quân Phan Văn Thúy vâng mệnh đi đánh giặc, chưa nên công gì, đã vội cho rằng ở trong quân khó dưỡng bệnh được, không đợi chỉ, vội về trước, như vậy e không phải lễ làm bầy tôi. Xin giao cho bộ nghị tội".


    Vua nói rằng : "Lời đàn hặc rất phải nhưng hãy đợi đến ngày Phan Văn Thúy tới Kinh, sẽ lại xuống chỉ để thi hành".


    Trong Kinh kỳ, gạo kém. Chuẩn cho ty lại và Kinh binh, về kỳ lương tháng 8, phát cho một nửa bằng thóc.


    Vua lại cho rằng Kinh binh sai phái còn nhiều. Vậy, dụ cho các hạng biền binh cứ lưu lại ở hàng ngũ trong Kinh đô.


    Tỉnh Hải Dương, vụ lúa chiêm thu hoạch kém. Tỉnh thần tâu xin hoãn thu thóc tô. Vua chuẩn y cho. Lại cho rằng trong tỉnh hạt ấy, ruộng mùa nhiều, ruộng chiêm ít. Theo lệ trước, mùa hạ, mùa đông 2 kỳ chiết nửa thu nộp. Như vậy, chưa tiện cho dân. Nay bèn quy định : Bắt đầu từ năm Minh Mệnh thứ 15 [1834], ruộng chiêm, thì mùa hạ nộp 7 phần thóc, 3 phần tiền, mùa đông nộp 3 phần thóc, 7 phần tiền; ruộng mùa thì mùa hạ nộp 3 phần thóc, 7 phần tiền, mùa đông nộp 7 phần thóc, 3 phần tiền.


    Chuẩn định chia đặt súng lớn ở các tỉnh thành, các phủ thành, các huyện thành ở Bắc Kỳ.


    Trước đây, nghị định phủ thành và huyện thành nên đặt súng hồng y bằng gang hạng lớn, hạng vừa, hạng nhỏ, phủ thì mỗi thứ súng ấy, 12 khẩu, huyện thì mỗi thứ 8 khẩu. Đến bấy giờ lại sắc cho các tỉnh thành mỗi sở đặt 2 súng đại luân xa bằng đồng ; lại đặt xen vào súng quá sơn bằng đồng, súng tích sơn bằng đồng, súng hồng y bằng gang. Phủ thành đổi đặt 8 súng hồng y bằng gang, 4 súng quá sơn bằng đồng. Huyện thành đổi đặt 4 súng hồng y bằng gang, 4 súng quá sơn bằng đồng.


    Binh bộ bàn tâu, cho rằng Bắc Kỳ có 12 tỉnh thành, 23 phủ thành, 69 huyện thành tựu trung lớn nhỏ có khác nhau, thí dụ như Hà Nội nguyên là Bắc Thành, Lý Nhân nguyên là Sơn Nam, quy chế ((1) Quy chế : đây có nghĩa như khu vũ.1) so với tỉnh khác thì rộng hơn. Còn bộ phận ((2) Bộ phận : đây có nghĩa như vị trí.2) năm tỉnh Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh và Hưng Yên thì quan trọng hơn sáu tỉnh Hưng Hóa, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Yên và Cao Bằng. Vậy cần nên lựa tính đặt súng lớn mới thích hợp. Xin trước hãy căn cứ vào những nơi đã xây đắp thành rồi : tỉnh thành có 12, phủ thành có 22, huyện thành có 6, nên đặt các hạng súng 916 cỗ, cỗ nào cũng có 100 viên đạn. Đem 241 cỗ hiện trữ ở các tỉnh và chuyển vận 675 cỗ ở Kinh thành ra chia theo số ngạch mà đặt. Còn 1 phủ thành và 63 huyện thành chưa xây đắp thì nên đặt các hạng súng 560 cỗ, đợi sau sẽ chiếu theo nghị định tiếp tục làm. Còn các súng bằng gang, bằng sắt nguyên trước đặt ở các phủ thành, huyện thành đều nhỏ quá thì đem về tỉnh để dùng.


    Vua chuẩn y lời bàn [của bộ Binh] và cho thi hành.


    (1. ở tỉnh thành Hà Nội : 2 súng đại luân xa bằng đồng, 20 súng quá sơn bằng đồng, 7 súng tướng quân bằng gang, 65 súng hồng y bằng gang, 5 súng xung tiêu bằng gang, 61 súng tích sơn bằng gang, cộng 150 cỗ.