0060.0070

5/1/16
0060.0070
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Nam Định, Hải Dương, Sơn Tây, Bắc Ninh : mỗi tỉnh đều 2 súng đại luân xa bằng đồng, 4 súng tích sơn bằng đồng, 20 súng quá sơn bằng đồng, 24 súng hồng y bằng gang, cộng 50 cỗ.


    Tỉnh Hưng Yên : 2 súng đại luân xa Thảo nghịch tướng quân bằng đồng. Còn các súng khác cũng [như bốn tỉnh trên].


    Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang : mỗi tỉnh đều 2 súng đại luân xa bằng đồng, 4 súng tích sơn bằng đồng, 16 súng hồng y bằng gang, cộng 22 cỗ.


    Tỉnh Hưng Hóa : 2 súng đại luân xa Thảo nghịch tướng quân bằng đồng. Còn các súng khác cũng [như các tỉnh trên].


    Quảng Yên, Cao Bằng : mỗi tỉnh đều 2 súng đại luân xa bằng đồng, 4 súng tích sơn bằng đồng, 12 súng quá sơn bằng đồng, 12 súng hồng y bằng gang, cộng 30 cỗ.


    2. ở các phủ thành Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Bắc Ninh : các phủ thành đều có 4, Sơn Tây có 5, Hưng Yên có 2, duy Lý Nhân có 8 súng quá sơn bằng đồng, 16 súng hồng y, tích sơn bằng gang cộng 24 cỗ, còn các súng khác đều 12 cỗ. Mỗi phủ thành đều có 4 cỗ súng bằng đồng, 8 cỗ súng bằng gang.


    3. ở các huyện thành : Hà Nội, Hải Dương đều có 11, Nam Định có 12, Sơn Tây có 14, Bắc Ninh có 15, Hưng Yên có 6, mỗi huyện thành đều có 4 súng quá sơn bằng đồng, 4 súng hồng y, tích sơn bằng gang).


    Hà Nội có tên giặc trốn, ngụy xưng là Quận công, Nguyễn Công Thự (đồ đảng nghịch phạm Lê Duy Lương) tụ họp bè lũ lén lút nổi nên ở Nam Công trang (thuộc huyện Thanh Liêm). Bố chính Nguyễn Hữu Khuê nhân đi chẩn cấp nạn dân, nghe thấy tin báo, tức thì phái Phó quản cơ ở chuyến đi ấy là Trương Văn Siêu, đem biền binh đến hội với quyền nhiếp Quản phủ phủ Lý Nhân là Mai Văn Phong đi đánh giặc. Siêu khinh suất tiến lên. Gặp quân phục của giặc, Siêu bị thua cùng với Cai đội Nguyễn Văn Tự đều nhảy xuống sông chết. Biền binh nhiều người bị thương và chết. Phong ở sau, trùng trình không đến cứu ngay. Giặc bèn theo sơn phận xã Kiện Khê trốn đi.


    Việc ấy đến tai vua. Vua bảo Binh bộ rằng : "Trận đánh này do biền binh làm hỏng việc, trước bởi Trương Văn Siêu khinh suất vội vàng, sau bởi Mai Văn Phong rụt rè sợ hãi còn chối lỗi vào đâu được ? Trương Văn Siêu đã chết rồi, không bàn đến nữa. Mai Văn Phong tức thì phải cách chức, phát đi quân thứ ra sức làm việc để chuộc tội. Nguyễn Hữu Khuê điều động không đúng, giáng 2 cấp ; Tổng đốc Đoàn Văn Trường phạt lương bổng 6 tháng, nhưng phải phụ trách việc lùng bắt giặc".


    Nguyễn Công Thự liền trốn ở địa hạt Thư Trì ((1) Thư Trì : nay thuộc Thái Bình.1), tỉnh Nam Định. Tri phủ Kiến Xương là Nguyễn Đức Dụng, Tri huyện Nguyễn Đăng Phong đốc suất quân và dân bắt được giết đi. Vua thưởng cho Đức Dụng và Đăng Phong mỗi người kỷ lục quân công đều một thứ.


    Cho Phó lãnh binh tỉnh Nam Định mới thăng Vệ úy, Chánh tam phẩm là Lương Văn Liễu, sung chức Lãnh binh Nam Định kiêm lĩnh Thủy quân ; Vệ úy ở Tiền vệ dinh Tuyển phong quân Thần sách là Đoàn Văn Cải, do chức Vệ úy, Chánh tam phẩm sung Lãnh binh tỉnh Sơn Tây.


    Đặt thêm chức Phó lãnh binh quan ở tỉnh Ninh Bình. Tỉnh Ninh Bình trước đây, đặt có một Lãnh binh quan. Vua cho rằng, hạt ấy cũng là nơi xung yếu, công việc hơi nhiều, cho nên đặt thêm, bèn cho nguyên Quản cơ mới thăng vệ úy, Tòng tam phẩm là Nguyễn Văn Tương làm Phó lãnh binh, chuyên coi Hậu cơ tỉnh Ninh Bình và cơ Ninh tượng. Còn Lãnh binh Trần Hữu Lễ chuyên coi ba cơ Tiền, Tả, Hữu tỉnh Ninh Bình.


    Cho nguyên thự Phó vệ úy vệ Tả nhất dinh Tả dực quân Vũ lâm, hưu trí là Nguyễn Gia Quý làm Phó vệ úy ở vệ Ban trực hậu quân Thần sách. Sau đó Nguyễn Gia Quý chết. Vua ban cho một tấm gấm Tống và 100 quan tiền.









    chính biên



    đệ nhị kỷ - Quyển cii



    Thực lục về Thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 8, cho Vệ úy ở vệ Nghĩa võ quân Thần sách là Vũ Văn Huân thử làm thự Lãnh binh tỉnh Thanh Ba [Thanh Hoa]. Trước đây, khuyết chức Lãnh binh, có chỉ giao cho Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng chọn người cử lên, Bằng tâu xin cử Huân.


    Vua phán rằng : “Huân trước kia làm việc bắt giặc, vì nhút nhát, bị lũ Nguyễn Văn Trọng tham hặc, nên phải giáng cấp. Bằng có ý kiến gì lại bảo cử người ấy ? Vậy ra lệnh cho Bằng phải Phước tâu rõ ràng. Lại sai Bố chính Nguyễn Đăng Giai, án sát Lê Đức Ngạn cùng xét xem Huân là người thế nào, rồi hội hàm ((1) Hội hàm : các viên có quan hàm họp lại xét xong rồi làm sớ tâu lên, trong tờ sớ có chua tất cả quan hàm và họ tên các viên hội xét ấy.1) làm thành tập tâu lên”. Đến bấy giờ tâu lên, họ đều nói : “Trước đây, thổ phỉ thế đương hung hăng, Huân vì quân ít nên không đánh, mới bị tham hặc. Từ khi theo quan quân đi hội tiễu, Huân đều có đóng góp công lao trong việc lấy lại được Hoàng Giang, Phố Cát. Vả lại, trong các quản vệ thuộc tỉnh, tìm người khỏe mạnh, trọng hậu, có thể làm nổi chức ấy, không có ai hơn Huân”.


    Vua nói rằng : “Chức Lãnh binh cần được người can đảm có thao lược để làm, còn tính trọng hậu, có lẽ không phải là bản sắc của chức Lãnh binh. Nhưng nay đương lúc cần dùng người, hãy cho thử làm thự Lãnh binh, đợi một năm, nếu quả làm được việc, tâu lên sẽ cho thực thụ”.


    Cải bổ Tả thị lang bộ Lại là Trần Danh Bưu làm Thị lang ở Thương trường.


    Vua bảo viện Đô sát và tòa Nội các rằng : “Năm nay Nam Kỳ, Bắc Kỳ, trộm cướp lén lút xuất hiện, Bắc Kỳ lại có thủy tai, ta xiết bao lo nghĩ, dậy sớm ăn trưa ! Lũ các ngươi phải hội xét xem gần đây việc bắt trộm cướp, việc phòng nước sông, thuật lại từng việc cho đầy đủ. Phàm những việc như khi gặp tai vạ, ta xét mình, kính trời, chăm lo việc dân ra sao và tất cả công việc điều quân, sai tướng thế nào cùng là sau khi yên việc, xử trí thế nào, nhất nhất chép ra, họp lại thành quyển để xem. Đấy không phải là ta muốn khoe khoang, mà chính là để nêu rõ lỗi ta, cho sau này lấy đó làm gương mãi mãi”.


    Vua vời Kinh doãn Trần Tú Dĩnh hỏi rằng : “Gần đây, không mưa, lúa ruộng thế nào ?”. [Tú Dĩnh] thưa rằng : “Ruộng thấp còn khá, ruộng cao thì khô cạn”.


    Vua nói : “Lúa đương trỗ mà hạn hán, ta rất lo, nay gần mùa mưa, lại sợ mưa dầm thành lụt càng hại cho dân”. Lại nói : “Trước đây, ta thấy gạo kém, đã dụ bảo tìm nhiều cách khuyên người giàu đem thóc ra bán cho dân nghèo. Vậy, đã có bán ra hay không ?”. Thưa : “Chưa, thần mới sức đi rồi”.


    Vua nói : “Kinh sư là chỗ tốt đẹp hàng đầu. Người biết ưa làm điều nghĩa, thì bốn phương trông mà bắt chước. Duy phần nhiều kẻ giàu thường thích lợi dụng lúc tai họa, một khi gặp dịp gạo kém, thì đóng cửa vựa thóc lại, bắt bí lấy giá cao. Vậy, ngươi làm tiêu biểu cho dân, phải khéo dẫn bảo mới được, dùng giấy tờ sức làm gì?”. Rồi các người giàu vui lòng đem thóc ra bán, giá gạo do đấy hạ xuống. Tú Dĩnh đem việc đó tâu vua biết.


    Vua nói rằng : “Nhân dân Kinh kỳ thấm nhuần phong hóa đã lâu, xem một việc này, tin rằng lòng người ta thực có thể làm cho chuyển theo việc nghĩa được. Lũ các ngươi, có chức trách là tuyên dương đức hóa, nếu hay tùy việc mở bảo dẫn dụ cho dân, thì thói dân trở thành trung hậu, tưởng không phải chỉ có việc này”. Bèn sai họp hết các chủ bán thóc đến phủ đường, cho ăn yến và úy lạo, để khuyến khích những dân biết làm việc nghĩa.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Biền binh trong quân Thần sách thuộc các tỉnh, vốn có tiếng là mạnh mẽ hăng hái, sai phái được việc, gần được như Kinh binh. Nhưng gián hoặc có một vài người, lúc ra trận hãy còn dùng dằng, chưa được nhất trí là chỉ vì cớ tướng, biền cai quản họ, lúc bình nhật, không biết rèn luyện, lại bởi cớ có những thứ binh khí mới cấp, còn xa lạ đối với họ. Vậy ra lệnh cho lũ Nguyễn Khả Bằng ở tỉnh Thanh Hoa, Nguyễn Đình Tân ở Nghệ An và Lê Dục Đức ở Hà Tĩnh đều xét biền binh đương tại ban trong quân Thần sách ở hạt mình, từ ngày mồng 1 tháng này đến cuối tháng 9, sức cho các quản viên phải chính mình huấn luyện : phàm phép hành quân, trận pháp, phép bắn súng điểu sang, phép dùng giáo trường, hằng ngày diễn tập thêm, để cho quân ngũ, lúc đi, lúc đánh thảy đều chỉnh tề, tinh nhuệ”.


    Nguyễn Đình Tân tâu nói : “Thuộc hạt có quân Thần sách, theo lệ chia làm 3 phần, thế mà kỳ hạn thao diễn chỉ có 2 tháng, thì ban thứ 3 không được dự”. Vua lại sai thao diễn thêm 1 tháng nữa cho khắp lượt 3 ban.


    Lại cho Tôn Thất Chiếu làm Phó vệ úy quân Thần sách, lĩnh Từ tế sứ ty Từ tế, lại lĩnh Quản phủ phủ Hà Trung kiêm quản các chi công tính ((1) Công tính : họ nhà vua.1).


    Trước đây, được phái đi giữ Nguyên miếu((2) Nguyên miếu : miếu thờ Triệu tổ Tĩnh hoàng đế Nguyễn Kim ở làng Gia Miêu, huyện Tống Sơn, Thanh Hóa.2), Chiếu cáo bệnh không đi, bị cách chức. Đến bấy giờ vua nghĩ rằng : “Chiếu bị bệnh thật, không phải giả vờ, gia ơn cho đổi làm cách lưu, cho cung chức như cũ. Và triệu tiếp biện thự Vệ úy Tôn Thất Tường vào Kinh”.


    Ngạch giản binh từ tỉnh Hà Tĩnh trở ra Bắc phần nhiều còn thiếu. Vua nghe biết, dụ Nội các rằng : “Trước đây, đi đánh thổ phỉ ở Ninh Bình, Sơn Tây và Hưng Hóa, quan quân ở các tỉnh lân cận được điều động đến, phần nhiều bị bệnh vì lam chướng, gián hoặc có người bị chết. Lại nghĩ, các hạt ở Bắc Kỳ, ngẫu nhiên gặp thủy tai, mà các tỉnh Hà Tĩnh, Thanh [Hoa], Nghệ [An], mưa nắng cũng không được thuận hòa, nếu nghiêm nhặt vội bắt điền vào ngạch thiếu, thì dân ta không khỏi gieo neo. Vậy, truyền dụ cho các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Ba (Thanh Hoa), Ninh Bình đến các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định và Hưng Yên, phàm ngạch giản binh có khuyết, hãy chuẩn cho hoãn đến tháng 10 sẽ bắt điền đủ như lệ.


    Đổi tỉnh Phiên An làm tỉnh Gia Định.


    Vua dụ Nội các rằng : “Nguyên sáu tỉnh Nam Kỳ, đều gọi chung là Gia Định. Đó là do Hoàng khảo Thế tổ Cao hoàng đế ta, đặc ơn ban cho tên tốt ấy. Từ khi nổi lên ở miền đông thổ đến giờ, nhân dân sở tại từ lâu được yên trong cảnh vô sự. Năm ngoái, chia đặt tỉnh hạt, nhân đó đổi trấn Phiên An làm tỉnh Phiên An. Gần đây, nghịch Khôi giữ thành làm phản, dần đã dẹp yên, nên đổi là Gia Định để lấy lại cái tên tốt ấy, khiến cho nhân dân thuộc tỉnh từ đây về sau, đều được hưởng Phước thái bình lâu dài”.


    Đổi cấp quan phòng, ấn, triện của Đốc, Phủ, Bố, án, Lãnh binh và phủ, huyện ở các tỉnh thuộc Nam Kỳ.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây nhân Nam Kỳ có giặc, phàm quân phòng, ấn, triện do nhà nước cấp cho, phần nhiều không biết thất lạc vào đâu. Bây giờ giặc loạn sắp yên, sáu tỉnh sẽ lần lượt lấy lại được, phải nên một phen cấp lại, để tỏ ra đổi mới. Vậy sai hữu ty ((1) Hữu ty : người phụ trách làm việc gì.1) theo y cách thức đúc ấn quan phòng của Tổng đốc Định - Biên, của Tuần phủ và của Chánh, Phó lãnh binh Gia Định ; ấn triện của Bố chính và án sát Gia Định. Và đúc lại ấn quan phòng cho Tổng đốc Long - Tường, của Tuần phủ và Lãnh binh Biên Hòa, Định Tường và Hà Tiên ; của Chánh, Phó lãnh binh Vĩnh Long, An Giang ; ấn triện của Bố chính Biên Hòa, Định Tường và Vĩnh Long, của Bố chính, án sát An Giang, Hà Tiên luôn với dấu kiềm mỗi thứ một cái cùng với ấn triện của các phủ huyện trong sáu tỉnh, chữ viết hơi khác một chút, phát giao cho dùng làm việc để tỏ có phân biệt. Duy ấn quan phòng Tổng đốc An - Hà, ấn triện tỉnh Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường hãy còn, thì không thay đổi”.


    Lại sai đổi cấp ấn Giám sát Ngự sử đạo Định - Biên, còn ấn cũ của Giám sát Ngự sử đạo An - Biên do bộ thu tiêu.


    Vua lại cho rằng, sáu tỉnh Nam Kỳ trước đã thất thủ, giấy tờ do việc quan bị giặc đốt cháy, vậy sai các nha thuộc bộ và viện, chiểu thể lệ phải làm và sổ sách tiền, thóc của quân, dân, việc gì khẩn yếu thì trước theo thứ tự, sao lục đưa cho ; đợi khi việc yên, tư rõ số mục bị mất, lục giao tuân theo.


    Cho Bố chính Định Tường là Ngô Bá Tuấn, hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ Định Tường. Cải bổ : thự Thị lang bộ Công là Trương Văn Hòa làm án sát Định Tường ; Thị lang bộ Hình là Đoàn Khiêm Quang làm Bố chính Vĩnh Long ; Thị lang Thương trường là Đặng Văn Bằng làm Bố chính An Giang ; Thị lang bộ Lễ là Trịnh Đường làm Bố chính Hà Tiên, hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ ; Lang trung bộ Lại là Đặng Văn Nguyên làm án sát Hà Tiên ; thự Vệ úy vệ Trung nhị quân Vũ lâm là Nguyễn Văn Dụ bổ làm Vệ úy, Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh tỉnh Vĩnh Long ; Phó vệ úy Khinh kỵ là Cao Khả Tuyên làm Vệ úy, Chánh tam phẩm, sung chức Lãnh binh Định Tường ; Phó Vệ úy Trung vệ dinh Long võ là Nguyễn Đăng Huyên cho làm Vệ úy, Chánh tam phẩm, sung Lãnh binh An Giang ; Phó vệ úy ở Nhất vệ dinh Hậu bảo là Bùi Công Lai làm Vệ úy, Tòng tam phẩm, sung chức Lãnh binh tỉnh Hà Tiên.


    Sai truyền dụ cho Tướng quân và Tham tán các đạo, khi tiếp các viên mới đến Gia Định, tức thì liệu vát thuyền quân hộ tống trước từ Định Tường, thứ đến Vĩnh Long, An Giang rồi tới Hà Tiên, khi việc xong, thuyền quân lại về chỗ quân thứ.


    Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức tâu nói : “Nước ứ tiêu dần, lúa ruộng đã có thể cấy lại được, duy ngoài chỗ vỡ đê Phương Độ có làm đê mới khác, dài hơn 120 trượng, đã bắt dân trong hạt hơn 4.000 người góp sức để đắp công trình có phần nặng”. Vua ra chỉ dụ truyền phát 2.000 quan tiền để thưởng cho họ.


    Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu nói : “Tỉnh hạt có 3 huyện là Thiên Bản, Phong Doanh và ý Yên bị tai họa nước lụt, trước đã một lần phát chẩn cho tiền và gạo, nay nước chưa rút hết, dân còn khó khăn về sự ăn, vậy xin lại chi cho 600, 700 quan tiền và 600, 700 phương gạo để tiếp tục phát chẩn cho”.


    Vua nói : “Đấy tuy là tai họa nhỏ, nhưng tình cũng gieo neo. Có thể đem tiền và gạo vài nghìn chẩn cấp cho, khiến dân có cái nhờ để nuôi cha mẹ vợ con, thì nguyên khí sẽ sớm được hồi lại. Ta coi dân như con, há có lẽ nào trong lúc dân đương oe oe đợi bú mớm, mà mình còn so kè nhiều ư ?”.


    Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ tâu nói : “Nước lụt đã rút, chỗ đê vỡ Đông Xá đắp vá đã xong, duy chỗ vỡ ở Phương Trạch bị khoét sâu, nên phải quyền tạm đắp một đoạn đê quai vạc ở ngoài để phòng nước lụt sau này. Vậy, khẩn thiết xin đợi đầu mùa đông khô cạn, hoặc nên đắp vá chỗ vỡ, hoặc nên đắp đê mới khác, sẽ làm thành tập tiếp tục tâu lên”.


    Vua phê bảo rằng : “Ngươi nên thượng khẩn khơi thông nước ứ, khuyên dân cấy giặm thêm, may ra chuyển mất mùa làm được mùa, thì tất thưởng to nhất”. Vua bèn ban chỉ dụ chuẩn do tỉnh thần và phủ, huyện bị giáng, cách, đều được khai phục.


    Thự Tổng đốc Hải - An là Nguyễn Công Trứ tâu nói : “Các hạt trong tỉnh bị thủy tai, dân tuy đã được chẩn cấp, nhưng thế nước lên to gấp hai, nhà cửa không còn một tí gì cả. Vậy xin phát chẩn thêm cho một lần nữa. Vả lại, dân xiêu giạt nhiều người phải đổ đi kiếm ăn. Vậy, xin cứ cách 3 ngày 1 lần chẩn cấp cho tiền và gạo”. Vua ưng cho như lời đã xin. Vua lại cho rằng tỉnh có nhiều việc, sai rút một nửa biền binh do tỉnh phát đi hộ đê ở Bắc Ninh và Hưng Yên ; sau đó mươi ngày, đê điều đã giữ được vững rồi, thì rút về hết”.


    Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường, tâu nói : “Các huyện Thanh Liêm, Bình Lục, Kim Bảng và Duy Tiên thuộc trong tỉnh hạt đã được chẩn cấp khắp cả rồi, huyện Hoài An tuy không có tình trạng ngặt nghèo lắm, nhưng hiện nay phí tổn về trồng cấy, liệu lý có phần khó, vậy xin cấp cho mỗi người được 1 quan tiền, để làm vốn. Vua ưng cho”.


    Ra lệnh cho các tỉnh từ Quảng Trị trở ra Bắc, đều đặt trường bắn bia, hằng năm cứ đến tháng 9, tháng 10, tháng 11, phàm biền binh đương ban và biền binh đến thú ở trong hạt, từ Quản vệ trở xuống sẽ được liệu lượng cấp cho thuốc súng để thao diễn súng điểu sang (từ Quản vệ đến Suất đội đều 24 phát, lính 12 phát ; đạn chì chỉ cấp cho 1 lần). Hạt nào có thuốc đạn cũ dùng vào 2 hạng súng lớn và súng vừa, cũng chuẩn cấp cho lính pháo thủ, tập bắn súng quá sơn (mỗi người đều 6 phát, dùng đạn bằng đất). Cuối năm tâu số đạn hết ; còn đạn cũ sắp hết thì làm thành tập tâu xin cấp thêm đạn mới, để trữ sẵn mà dùng.


    Bắt đầu quy định số ngạch thuyền chiến cho hai tỉnh Sơn Tây, Hưng Hóa. Hai tỉnh này theo lệ, không có Chu sư ((1) Chu sư : binh chủng sử dụng thuyền trong khi chiến đấu hoặc tuần phòng.1). Tổng đốc Lê Văn Đức tâu xin, vua mới chuẩn y lời bàn của bộ Công, cho tỉnh Sơn Tây : thuyền ô, thuyền lê mỗi thứ 4 chiếc ; tỉnh Hưng Hóa : mỗi thứ 2 chiếc ; sai tỉnh Nghệ An đóng thuyền để cấp cho. Lại lượng trích biền binh cho sung làm thủy quân để giữ thuyền.


    Đốc công sở Nội tạo là lũ Lê Trường Danh chế tạo các vật hạng phẩm nhiều hay quá hạn, chưa xong, mà không xin triển hạn. Viên nội giám xét ra, đem tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Gần đây Bắc Kỳ có thủy tai, ta chăm lo đến những nỗi đau khổ của dân, ăn nằm không yên, ngay đến những vật gấm vóc và châu ngọc còn bỏ không dùng, nỡ nào vì việc không cần kíp ấy mà bắt tội lũ kia ? Nhưng tính công định việc đều phải có người phụ trách không thể nhất vị khinh thường được. Lũ Lê Trường Danh hãy cho xử nhẹ, phạt lương 3 tháng. Còn các hạng vật xét ra chưa xong, nếu cái gì công việc còn phải cần làm hằng tuần, hằng tháng mới xong, thì bãi bỏ ngay để cho chúng biết rằng ta trách phạt chúng chỉ để răn về tội uể oải coi thường, chứ không phải vì việc không quan hệ khẩn yếu ấy mà khép tội chúng”.


    Tướng giặc ở tỉnh Hưng Yên là Đoàn Danh Lại và Hoàng Đức Thiềm nhân đê vỡ, nước lụt ngập tràn, bèn họp đồ đảng quấy rối cướp bóc các nhà nhân dân. Quản cơ cơ Hậu tiệp do tỉnh sai phái là Hoàng Văn Nho đem thuyền quân nã bắt, cùng giặc đánh nhau ở chỗ sông thuộc xã Khê Than (thuộc huyện Thiên Thi) : giặc xô vào làm đắm một chiếc thuyền rồi đi, biền binh có người chết đuối. Việc ấy đến tai vua. Vua bảo Binh bộ rằng : “Đấy chẳng qua là giặc nhỏ lặt vặt, nhân khi nước lụt, quần tụ nhau, lén lút nổi lên để tạm bợ kiếm ăn thôi, thế mà Quản cơ đi bắt là Hoàng Văn Nho lại bị chúng đánh thua ! Việc đi bắt giặc như thế thực là bất lực. Chuẩn cho trước hết Nho phải giáng 2 cấp. Bố chính Vũ Tuấn có trách nhiệm trông coi địa phương trước đây, tỉnh bên có giặc, liền tự xin đi đánh, nay trong hạt mình có giặc lén lút xuất hiện như thế, chính là việc phận sự mình, thì lại không thi thố được một chút kế hoạch gì, thế là chẳng những có thẹn với lời nói trước, mà lại không làm tròn nhiệm vụ giữ đất nữa ! Vậy [truyền cho Vũ Tuấn] kíp nên hợp đồng với Trần Văn Tuân bàn tính kế hoạch, lập tức sớm dập tắt đi, chớ để lan thêm ra. Nếu chỉ thích nói khoác, xét ra không có thực dụng gì, thì phép nước quyết khó khoan thứ”. Rồi Hoàng Văn Nho bắt được Hoàng Đức Thiềm và 6 tên tòng đảng, giết đi. Lại được khai phục tất cả những cấp đã bị giáng.


    Quân của Lãnh binh tỉnh Tuyên Quang là Nguyễn Văn Quyền và Trần Hữu án đóng ở bảo Phước Nghi, châu Đại Man, truyền hịch vời thổ ty, thổ dõng, chúng đều không hưởng ứng. Bỗng thấy đầu mục thổ phỉ là Ma Sĩ Huỳnh (nguyên là thổ lại mục châu Bảo Lạc, trước cùng với Nông Văn Vân vì lười biếng khinh nhờn, bị tỉnh tâu hặc cách chức) đốc suất bè đảng hơn 1.000 người, đi đường thủy đường bộ tiến đến, bốn mặt bao vây. Quân ta chỉ có hơn 200 người hết sức xông đánh, lũ giặc nhiều tên bị chết và bị thương, bèn tan vỡ cả. [Quan quân] thu được thuyền bè và khí giới. Thự án sát Lê Bỉnh Trung được tin báo, đem việc ấy tâu lên.


    Vua khen và dụ rằng : “Nông Văn Vân phản nghịch chẳng qua chỉ nương tựa vào núi khe hiểm trở và lấy làm đắc sách rằng lén đặt quân phục để đón đường chặn đánh. Nay quân ta vừa tới bờ cõi, thế mà lấy số ít địch được số nhiều. Mũi nhọn của quân ta lần đầu đã như thế, chắc lũ giặc đã chột dạ mà mất hết tinh thần rồi. Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền và Trần Hữu án mỗi người được thưởng 10 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn ; những người dự chuyến đi ấy, Phó quản cơ cơ Trung hùng là Nguyễn Văn Long được thưởng 5 đồng ; Suất đội đều 2 đồng ; biền binh được thưởng chung 500 quan tiền”.


    Lại sai Tổng đốc Lê Văn Đức lượng phái thú binh ở quân Thần sách 200, 300 người tiếp tục đi hội tiễu.


    Thự án sát tỉnh Vĩnh Long là Doãn Uẩn lấy lại được tỉnh thành.


    Trước đây, trận thua ở Cầu úc, Tổng đốc Lê Phước Bảo một mình chạy về, súng ống, khí giới thuyền bè, bị giặc lấy hết. ở tỉnh chỉ còn hơn 100 lính, 4 chiếc thuyền và vài trăm dân phu.


    Giặc đã lấy được Định Tường, đốc suất thuyền quân tiến đến đậu ở sông Đồi Giang (thuộc tỉnh Vĩnh Long, giáp đầu địa giới An Giang), Tổng đốc Lê Đại Cương đánh nhau, bị thua, lui về An Giang, Phó lãnh binh Vũ Văn Thường, mình bị nhiều vết thương, bị giặc bắt được, giặc mới thuận dòng xuôi thẳng Long Hồ. Doãn Uẩn cùng Phó quản cơ Thủy cơ tỉnh Vĩnh Long là Trương Phước Thùy ở ngoài thành, thân đốc quân dân chống giữ. Giặc nhân gió phóng hỏa, Phước Bảo cùng Bố chính Phạm Phước Thiệu bỏ thành chạy trước. Doãn Uẩn sức không chống nổi cũng chạy. Giặc mới chiếm cứ tỉnh thành, đặt bè lũ của nó là Hoàng Văn Thông (nguyên thuộc Kiến An công phủ Chánh đội trưởng, Suất đội Hữu võ nhất ngụy xưng là Hữu quân Hữu đồn) làm ngụy Trấn phủ, Trần Khắc Doãn (nguyên Cai đội An - Thuận) làm phó ; Nguyễn Văn Nghi (nguyên Hộ tào Tư vụ ngụy xưng là Hộ bộ Thiếu khanh) làm ngụy Tuyên phủ ; Đào Duy Phước (ngụy xưng là Binh bộ Thiêm sự) làm phó. Phạm Phước Thiệu, sau đó bị lũ dân thôn Long Hồ bức bách, phải đầu hàng giặc. Lê Phước Bảo cũng bị thủ ngự ở An Thái là Hoàng Văn Sương bắt được nộp cho bọn giặc, đưa đến thành Phiên An (sau quan quân vây thành, bắn súng, Phước Bảo trúng đạn, bị chết).


    Doãn Uẩn một mình ẩn nấp ở dân gian, bí mật tập hợp các tổng lý và quân dân, để thừa cơ mưu việc khôi phục. Đến bấy giờ nghe thấy ngụy Trung quân là Thái Công Triều đã biết quay về với chính nghĩa, liền tập hợp quân dân hơn 300 người, đến thẳng tỉnh thành, ngụy Thông ở trên thành thú tội xin hàng phục. Uẩn bèn dẫn quân tiến vào thành nã bắt ngụy Doãn, ngụy Phước và hơn 20 tên phạm trước ở đội Thanh thuận, đội An thuận, đội Hồi lương ; tức thì đem ngụy Thông, ngụy Doãn, ngụy Phước xích lại tống giam. Còn các tên khác chém hết cả (ngụy Nghi theo Thái Công Triều đến chỗ quân thứ, rồi cũng tư giải, giết đi). Rồi đem các việc ấy tâu lên.


    [Doãn Uẩn] lại nói : “Tỉnh hạt, sau cơn giặc cướp, có nhiều công việc, mà không có người để cùng lo liệu. Vậy xin sớm phái thêm người đến làm công việc của tỉnh”.


    Vua dụ rằng : “Trước đây tỉnh Vĩnh Long thất thủ, xét ra bởi tại Lê Phước Bảo, nhút nhát ươn hèn không có tài năng để đến nỗi một trận thua mất sạch cả. Doãn Uẩn là một văn quan mới bổ, tuy đương lúc ấy, không chịu cố chết giữ lấy thành trì, khép theo tội có trách nhiệm phải giữ bờ cõi, thì thực có tội. Nay lại ở sau khi đã tan vỡ quyết liệt, chiêu tập được quân nghĩa dũng, bắt giết bọn giặc, lấy lại tỉnh thành, thì công và lỗi cùng đủ bù lẫn cho nhau. Vậy, tức thì khoan tha tội trước, vẫn cho làm chức án sát như cũ. Thưởng chung cho nghĩa dân 500 quan tiền, trong có người đầu mục, cũng chuẩn cho liệu lượng thưởng thêm. Những tên đầu sỏ giặc là Hoàng Văn Thông, Trần Khắc Doãn, Đào Duy Phước đều tức thì xử tử bằng tội lăng trì”.


    Đến như các viên ở ty Phiên, ty Niết và các viên phủ huyện thì ở Kinh đã lựa tính phái đi, chẳng mấy ngày nữa sẽ đến cung chức, đủ giúp làm việc.


    Vua lại cho rằng, hai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, phần nhiều tổng lý, hào mục biết cảm kích vì việc nghĩa, căm giận [kẻ phản nghịch] nên đã họp tập đốc suất dân phu cùng làm công việc. Vậy dụ cho Ngô Bá Tuấn và Doãn Uẩn xét các người đầu mục ứng nghĩa, quyền cấp cho văn bằng, đặt dưới quyền tỉnh sai phái ; sau khi việc yên rồi, chuẩn cho tâu lên, sẽ tùy tài bổ thụ.


    Nam Kỳ Thảo nghịch Hữu đạo Tham tán là Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận đem quân và voi, chia làm năm đồn, từ Biên - Long tiến ra. Chợt có viên tử do Thái Công Triều sai phái là Nguyễn Hoàng Nhiên (con Tiền quân Nguyễn Hoàng Đức) từ đường rừng Biên Hòa đệ bẩm văn đến, nói : “Thái Công Triều đánh giặc ở rạch Chanh ((1) Hán văn chép là Chanh Giang .1) (thuộc tỉnh Định Tường) và chợ Chiếu ((2) Hán văn chép là Đàm Thị .2) (thuộc tỉnh Gia Định) thắng trận luôn mấy ngày, chém được nguỵ Tả quân Dương Văn Nhã và hơn 300 đồ đảng nó, lấy hết được thuyền chiến tiến thẳng đến Sài Gòn. Giặc phải rút vào thành,
  • Chia sẻ trang này