0060.0071

6/1/16
0060.0071
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    cố giữ. Nay đương chia quân làm hai cánh, vây đánh”. Lũ Giảng đem việc ấy tâu lên. Vua phê bảo rằng : “Sự cơ đến thế, kíp nên lấy thành giết giặc để lập công to. Nếu công lấy lại được [Phiên An] không ra từ lũ các ngươi, thì chẳng cũng đáng hối hận lắm ru ?”. Vua bèn dụ Nội các rằng : “Cứ như lời tâu về sự việc Thái Công Triều đánh dẹp nghịch Khôi thì tấm lòng trở lại chính nghĩa của Công Triều không đáng ngờ nữa. Vậy, truyền dụ cho Trương Minh Giảng, Hoàng Đăng Thận tức thì sai Nguyễn Hoàng Nhiên về trong quân của Thái Công Triều báo tin để Triều biết, tự cảm khích phấn khởi và tiến mau đánh giặc để chuộc tội trước, lại lập công sau”. Lại truyền dụ cho Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương và Tham tán Nguyễn Xuân : “Bất tất lại phải do cửa biển nhỏ, chuyển sang Định Tường, nhưng có thể gấp đem một đạo thuyền quân thẳng tiến đến Phiên An hội tiễu. Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, Tham tán Nguyễn Văn Trọng và Lê Đăng Doanh cũng nên tiến thẳng đến, bất tất phải chờ đợi cả đoàn thuyền nữa, cốt sao sớm lấy lại được tỉnh thành, bắt chém được nghịch Khôi, thì là công đầu và sẽ được thưởng to nhất”.


    Vua nhân đó bảo thị thần rằng : “Đáng tiếc Phan Văn Thúy bị bệnh về, không kịp chuyến này diệt giặc ; lúc bình nhật, Thúy cười nói sôi nổi, quả có ích gì ! Xưa có người, gượng bệnh, nằm trên xe đi đánh giặc. Thúy năm nay đã hơn 70 tuổi rồi, nếu có chết vì việc nước, cũng không còn hối hận gì nữa. Thế mà chỉ biết yêu quý thân mình, không từng nghĩ rằng người sinh ở đời lẽ nào sống mãi không chết ? Vả lại, giặc ấy tất thua, ta đã liệu trước như thế rồi. Ngay như Thái Công Triều bây giờ mà cũng thắng trận được, thì càng có thể nghiệm biết rằng thế giặc đã quá yếu kém. Vậy mà gần đây Trương Minh Giảng lại nói thế giặc đang hung hăng, rồi trùng trình loanh quanh không chịu tiến. Ôi ! Đại thần như thế, nếu ba quân vì thế mà rời rạc cả, há không phải là đem giặc trút cho vua ư ? Còn may là, lúc ngày thường, ta vẫn sẵn sàng vỗ về nuôi nấng, cho nên lính Kinh hăng hái mới thắng trận được hai lần, không thế thì còn mong gì đánh giặc nữa ?”.


    Lại dụ Binh bộ rằng : “Nay việc bắt giặc ở Nam Kỳ đã dần đi đến thành công. Về việc quan báo, chính là lúc đương khẩn yếu. Vậy truyền dụ cho thự Tuần phủ tỉnh Biên Hòa là Vũ Quýnh, án sát Hoàng Văn Đản tức thì xét xem các trạm sông ở trong hạt đã chia đặt trước, chiêu tập phu trạm, theo lệ chuyển đệ. Lại từ trạm Biên - Long đến tỉnh Biên Hòa, đường bộ trong hạt cũng nên tìm cách đặt thêm 3 sở đồn tấn liệu lượng điều vát quân dân, mỗi sở trên dưới 20 người, ngày đêm thường trực. Phàm có sự việc quan báo, hoặc nên đi đường bộ, hoặc nên đi đường thủy, tùy tiện phát giấy đệ đi để được mau chóng”.


    Cho được tập ấm : con Chưởng cơ Phan Văn Long là Phan Văn Khuê làm Hiệu úy vệ Cẩm y ; con Vệ úy Trần Văn Du là Trần Văn Nhuận làm Thiên hộ vệ Cẩm y.


    Ban lễ tế các tướng sĩ trận vong và tử tiết ở Nam Kỳ.


    Vua bảo Nội các rằng : “Tướng sĩ ở Nam Kỳ, trong có người đi trận bỏ mình, có người mắng giặc, không chịu khuất, nghĩa liệt rõ ràng, lòng ta rất là đau đớn thương tiếc. Nhân nghĩ : nghịch tặc Lê Văn Khôi, trái đạo thường, làm phản, để đến nỗi những bầy tôi trung thành phải chết nơi chiến trường, nên phải lấy tim máu của kẻ thù, đem làm lễ tế yên ủi, cho thỏa hồn người trung thành. Vậy, sai Lễ bộ lập một đàn sở ở ngoài quách phía nam Kinh thành, đặt bài vị lũ Lê Văn Nghĩa, Phan Văn Song, Tôn Thất Gia, Đặng Văn Quyến ở trên, dưới bày bài vị những biền binh chết trận, rồi làm đủ cỗ bàn, lợn, bò, áo mã, tiền giấy, phái Thống chế Tôn Thất Bằng khâm mạng đến làm lễ tế. Lại phái một viên quản vệ, đốc suất quân, voi, đem con của nghịch Khôi hiện đã bắt được là Lê Văn Báo, Lê Văn Hổ, anh là Lê Văn Quýnh và đảng nghịch là Trần Văn Tha cộng 4 tên tội phạm, áp giải đến trước đàn, mổ lấy tim gan, bày tế, để [các tử sĩ được] hả lòng căm giận vì nghĩa khí mà được yên ủi hồn thơm ở nơi u ẩn”.


    Trước kia, đình thần bàn tâu : “Về việc Trần Văn Tha phản nghịch, xin đem thân thuộc tên phạm ấy khép tội liên can và đều trảm quyết”. Vua nói rằng : “Trần Văn Tha là tòng phạm, xét ra tội có khác với thủ nghịch Lê Văn Khôi, thì con là Trần Văn Đường, anh là Trần Văn Tín, em là Trần Văn Nhân và Trần Văn Đạo đều đổi làm trảm giam hậu ((1) Trảm giam hậu : xử chém nhưng còn cho giam để đợi xét lại.1), mẹ là Phạm Thị Lạm, tuổi già, vốn không biết sự tình gì, thì tha ngay”. Lũ Trần Văn Đường rồi lại được tha, cho làm lính phát đi quân thứ Nam Kỳ để cho đua sức chuộc tội.


    Vua bảo thị thần là Nguyễn Khoa Minh và Phan Huy Thực rằng : “Việc hành hình thân thuộc tên nghịch Khôi không nên trì hoãn, ta sở dĩ cố nén đến bây giờ, là vì đương lúc khí thế nghịch tặc đang hăng, nếu vội giết thân thuộc nó, thì cha mẹ vợ con của các bầy tôi văn võ trong triều đương ở Gia Định tất bị nó báo thù. Vả lại, ta lúc tuổi trẻ, tính nóng, nhiều khi bị khí giận dữ sai khiến, gần đây, thường hay nhẫn nại, không những lúc coi triều làm được như thế, mà cả đến khi ở trong cung, dù đàn bà hoặc kẻ hầu hạ có lỗi nhỏ, ta cũng chưa từng trách móc hà khắc, hoặc giả đức ta được lớn lên theo tuổi mà thế chăng ?”.


    Bộ Lại tâu nói : “Sáu tỉnh Nam Kỳ, lần lượt đã lấy lại được, trong ấy các công việc tiền lương và giấy tờ việc quan chính đương cần người làm lắm. Vậy các nhân viên ở Kinh trước đây được phái đi theo quân thứ của Tướng quân và Tham tán, xin trích lấy từ chủ sự trở xuống, chia đi các tỉnh sai phái, hậu bổ, đợi khi có khuyết chức phủ, huyện và tá lĩnh thì do tỉnh thần tâu lên, sẽ sung bổ”. Vua cho là phải.


    Sai Vệ úy vệ Tả nhị dinhHữu dực quân Vũ lâm là Nguyễn Văn Thận đến Quảng Nam thay chức Lãnh binh mới bổ đi Vĩnh Long là Nguyễn Văn Dụ, quản lĩnh biền binh trước phái đi đóng giữ ở đài Điện Hải và đài An Hải. Lại sai truyền dụ cho thự Vệ úy Ban trực ở Hữu vệ quân Thần sách là Trần Văn Loan đốc suất vệ binh trú phòng ở Bình Thuận về đồn thú cũ Quảng Nam. Khi đến nơi đồn thú rồi thì Nguyễn Văn Thận lập tức đem biền binh nguyên phái quay về hàng ngũ.


    Ra lệnh cho Bố chính Hải Dương, Hộ lý ấn quan phòng Tuần phủ tỉnh Hưng Yên là Trần Văn Tuân về tỉnh cung chức, cho thự Bố chính Nam Định là Trịnh Quang Khanh quyền thự ấn quan phòng Tuần phủ Hưng Yên.


    Quân của Bố chính tỉnh Tuyên Quang là Phạm Phổ đóng ở bảo Ninh Biên, châu Vị Xuyên. Nghịch phạm Nông Văn Vân đem đồ đảng lẻn đến Lạp Lĩnh, Chi Lĩnh, Muộn ải (đều thuộc châu Vị Xuyên) mưu toan vây hãm. Phổ nghe thấy, tức thì phái Thành thủ úy là Trương Phước Nguyên, Tuần thành suất đội là Lê Hữu Quy và thổ Tri châu, châu Lục Yên là Lưu Trọng Chương, thổ Lại mục châu Vị Xuyên là Hoàng Kim Quỳ, thổ ty là Hoàng Kim Thuận đem binh dõng chia đường đón chặn. Vừa đến sông Tiểu Miện, lũ giặc xông lại chống đánh, thổ dõng tan vỡ, quân ta có ít, không thể địch được cũng lui về đồn bảo. Quan quân trong đồn bảo chỉ có hơn 400 người, lương thực lại gần hết. Phổ bèn tư ngay cho thự án sát Lê Bỉnh Trung để báo mau cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên, phái thêm biền binh đến cứu. Trung đem việc ấy phi tấu lên và nói : “Người nhà Thanh từ khi nghe thấy nghịch Vân làm loạn, không chở gạo vào đất ta nữa, dẫu có tiền bạc cũng không đong gạo ở đâu được, mà từ tỉnh thành đến đồn Ninh Biên, núi khe hiểm trở, khó vận tải bằng đường bộ. Trước đây, thuyền tải lương thực theo đường thủy, lại vì đường sông khuất khúc, 173 cái ghềnh, nước chảy xói mạnh, ngược dòng mà lên, thế tất hơi chậm, nay mới đến Xảo Khê, còn cách chỗ đóng quân năm, sáu ngày đường. Hiện đương thúc giục khẩn cấp tiến lên”.



    Vua dụ Binh bộ rằng : “Thổ phỉ ở châu Bảo Lạc, chẳng qua là hạng tiểu yêu tanh hôi, Nguyễn Văn Quyền và Trần Hữu án chỉ vài trăm người cũng có thể thắng trận lớn, thế mà Phạm Phổ có số lính dõng dưới quyền cai quản không phải không nhiều, rút lại không làm được công trạng gì thực đáng ghét ! Huống chi, trước đây, làm việc sai lầm, đến nỗi gây hấn ở nơi biên giới, nay lại không biết cố gắng tiến lên, giết giặc, chuộc tội, lại cứ sợ hãi rụt rè, đóng ỳ quân lại, làm phí lương thực, điều độ trái với cơ nghi, không nắm vững gì cả ! Tội của Phạm Phổ tức thì giao cho Hình bộ bàn xử”.


    Vậy dụ sai Tổng đốc Lê Văn Đức phái Phó lãnh binh Sơn Tây là Tống Văn Uyển mang theo 5 thớt voi chiến, súng đạn quá sơn và thần công, đi mau đến đồn Ninh Biên, thay Phạm Phổ quản lĩnh quân đội, lo việc đánh dẹp. Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ phái 200 lính thú ở quân Thần sách đi theo Tống Văn Uyển sai phái. Còn Phạm Phổ chỉ đem vài chục quân lính và lại viên thuộc tỉnh mình, về chỗ đường trung độ, phụ trách chuyển vận quân nhu và lương thực, cần được tiếp tế đầy đủ ; nếu không vậy, tất phải trị tội nặng. Và nay nghịch Vân nghe quan quân đánh đến nơi, giặc dốc hết quân ra chống cự, thì chỗ sào huyệt của giặc tất trống không, chuẩn cho Bố chính, án sát hai tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng đều đốc sức biền binh mà trước đây phải đi ngăn chặn, tức thì do địa phận An Lạc và An Lãng, nhân lúc sơ hở, đánh thẳng vào phố Vân Trung, hội tiễu với hai đạo biền binh ở tỉnh Tuyên Quang. Giặc trông được chỗ nọ bỏ mất chỗ kia, thì ta có thể đánh một trận mà bắt được giặc.


    Thổ ty ở châu Vị Xuyên là Hoàng Kim Thuận lại đánh nhau với giặc ở Lạp Lĩnh : bị giặc bắn chết. Thổ Tri châu là Ma Trọng Đại cáo ốm, không đến cứu, chỉ đem việc ấy báo cho tỉnh biết và nói : “Đất Lạp Lĩnh ở sau đồn bảo Ninh Biên, thế tất giặc sẽ đến bức bách”. Lê Bỉnh Trung đem việc ấy tâu lên. Vua dụ rằng : “Xem lời tâu, thì đạo quân của Phạm Phổ đã bị bức bách gấp rồi ! Nên tư mau cho lũ Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền và Trần Hữu án biết : hoặc nhân lúc sơ hở, đến thẳng sào huyệt của giặc, làm cho nó phải trở về cứu viện để phân tán lực lượng của nó, hoặc đến nhanh hợp với quân với Phạm Phổ, tùy cơ đánh dẹp, để được vạn toàn. Phải nên xem tình thế mà làm, cốt được trúng khớp. Đến như việc vận lương, Lê Bỉnh Trung, ngươi cũng nên hết sức đôn đốc vận tải cho việc tiếp tế được đều đều”.


    Chuyển vận 100.000 hộc thóc ở kho Hà Nội đến chứa ở Sơn Tây.


    Cất nhắc bá hộ Nguyễn Trọng Tính làm Phó vệ úy ở Hậu bảo Nhất vệ. Tính trước vì có lỗi, phải giáng, bị phái đi hải ngoại để đua sức làm việc ; đến đây, công cán xong, trở về, bèn được cất dùng.


    Chia cấp ngân tiền Phi long hạng lớn và hạng nhỏ cho các địa phương để vào kho, phòng khi dùng đến.


    13 tỉnh : Quảng Nam, Bình Định, Gia Định, Vĩnh Long, An Giang, Quảng Bình, Nghệ An, Thanh Ba (Thanh Hoa), Hà Nội, Nam Định, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, mỗi tỉnh 1.000 đồng tiền hạng lớn và 200 đồng tiền hạng nhỏ. 17 tỉnh : Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Biên Hòa, Định Tường, Hà Tiên, Quảng Trị, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Hưng Yên, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Quảng Yên, Lạng Sơn, Cao Bằng, mỗi tỉnh 500 đồng tiền hạng lớn và 100 đồng tiền hạng nhỏ.


    Tỉnh Bình Định, gạo kém. Nhân dân chạy ăn khó khăn. Vua sai bán thóc kho ra hơn 20.000 hộc.


    Giặc biển Đồ Bà lại từ hải phận Khánh Hòa, nhân lúc sơ hở lên bờ đốt phá cướp bóc. Tỉnh phái Thành thủ úy là Nguyễn Văn Đa họp tập quân dân, đón đánh, bắn chết 2 tên, giặc chạy về phía đông. [Quan quân] tước được 4 thuyền và lấy lại được hơn 60 người dân Kinh đã bị cướp bắt. Việc tâu lên, vua sai thưởng 300 quan tiền.


    Tuần phủ Nam - Ngãi là Đỗ Khắc Thư, thấy Bình Thuận và Quảng Ngãi có sơn man Đồ Bà lan tràn quấy rối ; xin phái Kinh binh đến phòng giữ. Vua cho là sợ hãi nhút nhát, truyền chỉ ban quở.


    Quy định thể lệ số bạc thường chứa ở kho Nghệ An và Hà Tĩnh (Nghệ An 6.000 lạng, Hà Tĩnh 2.000 lạng).


    Lệ trước tỉnh Nghệ An thường trữ 8.000 lạng, Hộ bộ cho rằng tỉnh hạt đã chia làm hai, bàn xin quy định lại. Vua nghe theo lời xin.


    Quan tỉnh Thanh Ba (Thanh Hoa) tâu nói : “Dân hạt có hơn 120 xã thôn, trước đây bị giặc quấy rối cướp bóc, xin cứu giúp cho”. Vua chuẩn cho xét xem xã thôn nào bị thiệt hại nặng thì tha cho thuế khóa, tiền thóc về mùa hạ ; nhẹ thì triển hoãn cho.


    Cho tế các tướng sĩ ở Kinh phái đi bắt giặc ở Bắc Kỳ, bị chết trận, hay bị bệnh chết.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây phái Kinh binh ra chia đánh thổ phỉ ở các đạo Thanh Hoa, Ninh Bình, Sơn Tây và Hưng Hóa, lần lượt bắt được tên đầu sỏ giặc đã thành công lớn, thu quân, hát bài khải hoàn. Nhân nghĩ : quân mạnh đến đâu, như gió lay sấm động, không ai dám chống lại. Những người đi trận bỏ mình thì trăm người mới có một, hai người, duy có nhiều người xông pha lam chướng, cảm nhiễm đến nỗi ốm chết. Vả lại, các tướng sĩ đều trổ sức vì triều đình, xung phong, lặn lội hiểm trở, lập được công lớn ấy. Ta nay nghĩ tới, rất đỗi bùi ngùi, không sao cầm lòng được. Vậy sai bộ Lễ lập một đàn sở ở ngoài quách phía bắc Kinh thành, trên đặt bài vị tướng biền đã chết, dưới bày bài vị các binh lính, sắm đủ cỗ bàn, dê, lợn, bò, áo mũ, giấy tiền, phái viên Thống chế Nguyễn Tăng Minh khâm mạng vua, đến ban cho 3 trầu rượu. Lại sai đương thứ Tổng đốc quân vụ là Tạ Quang Cự đứng làm chủ nhân để đón tiếp viên khâm mạng tới trước đàn làm lễ tế”.


    án sát tỉnh Biên Hòa là Hoàng Văn Đản, tâu nói : “Quan quân đường thủy là lũ Mai Công Ngôn và Phạm Hữu Tâm tiến gần đến đồn bảo Giao Khẩu. Thuyền quân của Tham tán Nguyễn Xuân và Tán tương Trương Phước Đĩnh đã qua sông Ngã Bảy, lục tục kế đến. Đoàn thuyền của Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương cũng đã tiến vào cửa biển Cần Giờ”.


    Vua dụ rằng : “Quan quân đường bộ, gần đấy, nghe nói đã đến đồn Bình Đồng rồi, tới nay đã gần hết 10 ngày, còn chưa nghe thấy tin báo. Vả lại, về tin tức trong quân, đã có chỉ dụ 3 ngày một lần báo, cớ sao lâu nay ắng tắp, để ta trông ngóng mãi ! Hoàng Văn Đản, ngươi hễ khi chỉ dụ đến, nếu Tướng quân và Tham tán đã đem tin tức bộ binh tâu rồi thì thôi, không thì ngươi đem dụ văn đệ mau đến quân thứ, truyền chỉ cho bọn Tướng quân, Tham tán về sự thể đại binh đi qua Biên Hòa thế nào và cớ chậm không báo, lập tức tâu lại minh bạch”.


    án sát tỉnh An Giang là Bùi Văn Lý lấy lại được hai tỉnh An Giang, Hà Tiên.


    Trước đây, Tổng đốc Lê Đại Cương đánh nhau với giặc bị thua, rút về tỉnh lỵ (tức là đồn bảo Châu Đốc), quân đều tan tác cả, bèn thương lượng giao cho Bố chính Nguyễn Văn Bỉnh cùng với Lý vẫn cứ ở lại phòng hộ, còn mình thì đi Nam Vang, điều động lính Phiên đến cứu. Thuyền quân giặc thừa thắng lại kế tiếp đến. Quan quân phòng hộ có ít và yếu thế thấy oai phong giặc sợ hãi tan vỡ. Cương mới chạy đến Chế Lăng (đất của Chân Lạp). Tỉnh lỵ thất thủ, Bỉnh bị giặc bắt được. Lý tự gieo mình xuống sông, được thủ hạ vớt lên, thoát chết. Giặc đến thẳng tỉnh Hà Tiên. Thự Tuần phủ Phạm Xuân Bích và án sát Trần Văn Quán đã bị quân Hồi lương, Biên lương thuộc tỉnh giết ngay trước. Giặc bèn đặt Trấn thủ hưu trí cũ là Mạc Công Du làm ngụy Trấn phủ, bè đảng của giặc là Trần Hiệu Trung làm ngụy Tuyên phủ, em của Du là Mạc Công Tài, con của Mạc Hầu Diệu đều làm ngụy Thống lãnh để cho cùng với hơn 10 người Hồi lương, Bắc thuận chiếm giữ (khi nghịch Khôi mới làm phản, con Du là Mạc Hầu Hy theo giặc, Phạm Xuân Bích mật bắt Du và Mạc Công Tài lên tỉnh giam lại). Rồi đó bọn ngụy Tả quân Dương Văn Nhã về Phiên An trước. Một mình Thái Công Triều còn ở An Giang, mưu toan việc quy thuận : đặt Thành thủ úy An Giang trước là Nguyễn Đăng Luận làm ngụy Trấn phủ, Cai đội hưu trí là Lương Văn Tiến làm ngụy Phó trấn phủ, nguyên Thông phán An Giang là Lê Văn Nhiếp (người họ nghịch Khôi) làm ngụy Tuyên phủ, dặn giữ tỉnh lỵ, trấn tĩnh lòng người. Rồi Công Triều đốc suất lính, dõng tiến đến Phiên An đánh dẹp. Lại mật thư báo cho Lê Đại Cương chóng đem quân về tiếp ứng Bùi Văn Lý ẩn ở đồn Vĩnh Hùng, cùng Thủ ngự là Nguyễn Văn Bút và Giáo dưỡng Suất đội là Hoàng Văn Nhâm chiêu tập quân nghĩa dũng. Phó quản cơ ở Thủy cơ tỉnh An Giang là Hoàng Tiến Lợi cũng họp quân đi theo. Tất cả được hơn 1.000 quân. [Lý] bèn kéo quân về tỉnh. Nguyễn Đăng Luận và Lương Văn Tiến cùng bắt Lê Văn Nhiếp, mở thành dâng nộp.


    Lý lại được tin dò thám báo rằng : nghịch Khôi đã sai sứ sang Xiêm La, đi theo đường sông Vĩnh Tế, nhân bắt được người do Mạc Công Du sai phái là Nguyễn Văn Mân (Mân là Cửu phẩm thư lại cũ ở An Giang, là người thuộc hạ thân tín của Du, Du nhân nghịch Khôi trát sức chọn người am hiểu tiếng Xiêm đến Phiên An đợi lệnh bèn sai Mân đi) sai đem tờ mật thư, lấy nghĩa lý trách bảo Du, sai trước hết bắt chém lũ tội phạm Hồi lương, Biên lương và Bắc thuận và theo bắt thuyền và người ngụy sứ. Lại ủy cho viên Quản cơ ở Thủy cơ tỉnh An Giang là Nguyễn Văn Mai và viên tử là Nguyễn Văn Cửu (con Thống chế Nguyễn Văn Tuyên) đem quân, dân tiến theo, bèn lấy lại được tỉnh lỵ Hà Tiên.


    Dụ sai Mạc Công Tài, Mạc Hầu Diệu hội với Thành thủ úy Phú Quốc là Nguyễn Văn Sương, Suất đội Thanh Châu là Nguyễn Văn Thụy bắt được ngụy Chánh sứ là Nguyễn Thụy, Phó sứ là Nguyễn Văn Quý và 21 người tòng đảng luôn với các thư từ của ngụy, trong lũ ấy có 6 người Hồi lương, lập tức chém giết ngay tại chỗ. Còn người theo đạo Tây dương cùng ngụy Tuyên phủ ở tỉnh là Trần Hiệu Trung đều đưa hết về tỉnh An Giang, xích và giam lại.


    Bấy giờ Lê Đại Cương cũng từ Chế Lăng quay về, trước hết đem chém Trần Hiệu Trung và các tên phạm là đầu mục giặc mà sau đó tiếp tục bắt được. Rồi quyền phái Binh bộ Chủ sự thừa biện Nam Vang thành biên vụ là Hồ Công Chỉ và Phó quản cơ cơ An Giang là Nguyễn Văn Tây đến tỉnh Hà Tiên làm công việc ở tỉnh. Lại cho rằng Mạc Công Du vốn được nhân dân xứ ấy mến phục, bèn tạm quyền lưu lại ở tỉnh lỵ để trấn tĩnh [nhân tâm].


    Việc ấy tâu lên, vua dụ bộ Binh rằng : “Nghịch Khôi dấy loạn, làm hại nhân dân, nay lại ngấm ngầm liên kết với tả đạo Gia tô và cầu nước Xiêm La cứu viện, mưu đồ rông rỡ làm to để tàn hại dân chúng, thực là hiểm ác quá lắm. Bùi Văn Lý bắt hợp tập quân dân, lấy lại được hai tỉnh An Giang, Hà Tiên, đuổi bắt được thuyền và người ngụy sứ. Thiết tha để chí giết kẻ thù như thế, thực đáng khen thưởng. Chuẩn cho khoan tha tội trước, vẫn cho làm chức án sát cũ. Những quân dân dự vào việc lấy lại hai tỉnh ấy được thưởng chung 500 quan tiền. Trong ấy có việc theo bắt thuyền và người ngụy sứ, không để cho chạy sót một tên nào, công ấy lại càng lớn hơn. Vậy, người thám báo và người đuổi bắt được, thưởng tiền 1.000 quan. Duy có Mạc Công Du, Mạc Công Tài, Mạc Hầu Diệu và Nguyễn Văn Mân công và lỗi chỉ đủ bù lại cho nhau không nên dự thưởng. Hai tên phạm, chánh phó sứ, hiện đang bị giam, tội ác cực lớn, tức thì xử tử bằng tội lăng trì. Tòng đảng là 15 tên theo đạo ở Tây dương đều bị chém ngang lưng rồi cắt lấy đầu, treo lên cái cần cao, bêu cho dân chúng biết. Các thư từ ngụy đã bắt được đều đốt đi”.


    Đến như Lê Đại Cương là một quan to, có nhiệm vụ giữ bờ cõi, trước đây, trận đánh ở Lật Giang, không tức thì đến cứu, lại dẫn quân về trước, đã là nhút nhát rồi. Đến khi quân giặc tới nơi, lại không cố chết giữ lấy thành trì, chỉ lo trốn xa, đến lúc nghe thấy người ta lấy lại được tỉnh lỵ, bấy giờ mới ló đầu ra ! Xét dấu vết của hắn đã làm rất là ươn hèn đớn kém ! Chuẩn cho lập tức cách chức, bắt làm lính ở nơi quân ngũ đua sức làm việc để chuộc tội ; đợi khi việc yên rồi, sẽ xuống chỉ dụ quyết định. Còn ấn quan phòng Tổng đốc An Giang, Hà Tiên giao cho Bố chính Đặng Văn Bằng, án sát Bùi Văn Lý và Lãnh binh Nguyễn Đăng Huyên hợp đồng hộ lý làm việc.


    Lại như ngụy Trấn phủ Nguyễn Đăng Luận, Phó Trấn phủ Lương Văn Tiến đều do Thái Công Triều bày mưu đặt ra để giúp việc trấn tĩnh, vậy hãy cho giam lại, rồi tra xét rõ xem trước kia họ đã nhận ngụy quan chức hay chưa. Họ từ Phiên An đến hay là do Thái Công Triều ngầm mưu đặt ra ? Tâm tích họ cần phải được rõ rệt xác thực, tâu lên đợi chỉ.


    Duy có ngụy Tuyên phủ Lê Văn Nhiếp là người họ nghịch Khôi, tội không thể tha được, tức thì xử tử bằng tội lăng trì.


    Bùi Văn Lý liền tâu lên : “Xét ra Nguyễn Đăng Luận và Lương Văn Tiến không từng chịu ngụy chức gì cả”. Vua bèn gia ơn tha tội trước, nhưng cách chức để cho đua sức làm việc.


    Vua dụ Nội các rằng : “Nay quan quân đông như mây họp, tiến đánh nghịch tặc ở thành Phiên An cũ, thế đã cùng quẫn, chẳng bao ngày nữa sẽ dẹp yên được. Vậy, truyền dụ cho sáu tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên phàm biền binh trước tản lạc, nên tức thì trở về hàng ngũ cũ để giúp việc đánh dẹp, nhân dân sở tại nên gióng giả lại về để sớm được an cư lạc nghiệp như cũ.


    “Vả lại, nhân dân hạt này, từ sau khi đại định ((1) ý nói từ khi chiến thắng triều Tây Sơn.1), yên ổn làm ăn, ung dung nghỉ ngơi đã trải nhiều năm rồi. Gần đây, vì nghịch Khôi làm loạn, bỗng mắc vào vòng binh lửa ! Nay tuy đã dần được yên, nhưng e rằng muộn kỳ làm ruộng, có lẽ lại gặp đói kém ! Nghĩ đến nông nỗi âm thầm của dân, lòng ta lo âu, ăn ngủ không ngon, rất thương cho dân một phương ấy ! Nay trước hết phải khuyên bảo hiểu dụ cho người biết : ai nấy đều nên bảo nhau, thề rằng lúc nào cũng tôn kính vua, thân yêu người trên, yên phận, giữ phép, chăm việc cấy cày. Các chức phủ huyện gần gũi dân, nên gia tâm khuyên bảo để dân đều hết sức làm ruộng trồng dâu, nếu thời tiết đã muộn, thì nên kíp cấy thêm, làm cho chóng được phong đăng thừa thãi để ta yên lòng.


    “Lại dụ Tướng quân, Tham tán các đạo và quan địa phương các tỉnh ở xứ Nam Kỳ rằng : “Khoảng tháng 6, tháng 7, chính là mùa làm ruộng, nhân dân Nam Kỳ đã bị lũ giặc quấy rối cướp bóc, tưởng không được yên bề sinh sống, thế mà lại biết cảm khích việc nghĩa, căm giận tặc đồ, gióng giả nhau theo đi đánh dẹp, tuy tấm lòng tôn kính vua, thân yêu người trên, vốn do thiên lương mà ra, nhưng bỏ mất nghề nghiệp, hại việc làm ruộng, thực là điều lòng ta không nỡ. Vậy thì các Tướng quân, các Tham tán và các quan địa phương đều nên hiểu dụ nhân dân sở tại nên xét trong số những người từ trước đã hưởng ứng việc nghĩa theo đi đánh giặc, xem ai là người xưa nay không phải quản lý sản nghiệp, tình nguyện trổ sức để tiếp tục làm trọn công cuộc mình đang theo đuổi thì cũng cho làm. Còn những dân có nghề nghiệp làm ăn và mới tham dự vào việc đi đánh giặc, thì đều cho giải tán, về làm ruộng, khiến họ được cùng nhau yên vui trong xóm làng đồng ruộng, để đáp lại ý ta yêu thương nhân dân, chăm lo nông nghiệp”.


    Bộ binh của Nam Kỳ Thảo nghịch Hữu đạo Tham tán là Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận lấy lại được tỉnh lỵ Biên Hòa.


    Quân ta, trước kia từ trạm Biên - Long thẳng tiến đi đến đâu không ai dám chống cự cả ; kịp khi đến tỉnh, thì ngụy Tuyên phủ là Hồ Văn Hãn, ngụy Phó tuyên phủ là Hoàng Kim Lượng (ngụy Trấn phủ là Nguyễn Văn Bột bị bệnh, về Phiên An trước) và ngụy Đô quản lĩnh là Lương Tiến Dũng, Quách Ngọc Khuyến cùng bè lũ hơn 200 người đều tự ý bỏ giáo, đến cửa quân, xin đầu hàng. Lũ Giảng mới liệu để một số lính và voi ở lại, theo Thự phủ Vũ Quýnh đóng giữ. Lại chia quân giao cho Lãnh binh Lê Sách, Vệ úy Nguyễn Văn Đoài đốc suất lính, dõng hai đồn Hữu, Hậu 1.400 người, từ thượng du sông Phước Long tiến đến Bình Dương, đánh phía sau lưng giặc rồi liền đem lính, dõng 3 đồn Trung, Tiền, Tả hơn 2.000 người, 48 thớt voi chiến, dồn quân chúng mới đầu hàng làm 4 đội Tự tân, sung làm quân tiền khu, thẳng tiến đến bến đò Bình Đồng ở bờ phía bắc sông Phước Long, lập đồn đóng lại.


    Bọn giặc ở trong bụi rậm bờ bên nam sông, bắn súng lớn để chống cự. Quân ta cũng ở cách sông bắn sang. Giặc phải lui nấp. Giặc lại ở giữa sông, chụm 7 chiếc thuyền lại, nhân nước triều tiến lên, lia lịa bắn súng lớn. Quân ta cứ giữ nghiêm mặt trận, không động. Giặc lại lui đậu ở mạn hạ lưu.


    Quân đường thủy của lũ Vệ úy Trần Văn Trí và Phạm Hữu Tâm đánh nhau với giặc ở sông Lão Tố : bắn chìm 1 chiếc thuyền giặc, chém hơn 20 tên, thu được rất nhiều thuyền bè, súng ống. Tin báo đến chỗ quân thứ ở Bình Đồng, lũ Giảng đem hết tình trạng tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Đại đội đoàn thuyền của Tướng quân và Tham tán chưa nhất tề tập hợp đầy đủ, mà lũ Trần Văn Trí đem toán quân thuộc một bộ phận mình đến trước, thu được thắng lợi to lớn, rất đáng khen thưởng. Người đốc chiến là Trần Văn Trí và Phạm Hữu Tâm ; những người cố đánh là Vệ úy Nguyễn Văn Hòa, Phó quản cơ Lê Văn Hợp và Cai đội Nguyễn Tiến Hán đều được thưởng 1 đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, 5 đồng ngân tiền hạng lớn và hạng nhỏ. Còn các người dự chuyến đi đánh ấy như Vệ úy Mai Công Ngôn, Phó vệ úy Nguyễn Hữu Chính và Nguyễn Hữu Huấn, Phó quản cơ Trần Đắc Quách đều được thưởng 5 đồng ngân tiền hạng lớn và hạng nhỏ ; thị vệ Tôn Thất Bật và lũ suất đội, mỗi người được thưởng 3 đồng ngân tiền hạng lớn ; các biền binh được thưởng 1.000 quan tiền.


    “Đến như đại binh đường bộ hiện đóng ở đồn Bình Đồng, phái riêng lũ Lê Sách lĩnh một cánh quân đi từ thượng lưu sông đánh úp sau giặc và lũ Lê Sách đã sang sông rồi, sao không sai men bờ bên nam mà đi xuống, để đánh giết hết lũ quân giặc phục ở đấy đi, tiếp ứng đại binh sang sông, thì giản dị biết chừng nào ! Lại chỉ sai đạo quân thuộc một bộ phận đi sâu vào mà đại binh vẫn đóng ở Bình Đồng để cầm cự với giặc. Thế là rất thất sách. Vậy, Trương Minh Giảng, Hoàng Đăng Thận nay nên làm thế nào để đốc sức quan quân đánh lui thuyền giặc, tìm cách mau chóng sang sông, sai đạo quân của Lê Sách đến thẳng chỗ sào huyệt của giặc, đánh dẹp được bọn giặc, chớ nên bỏ phí ngày giờ chờ đợi quân thủy.


    “Lại truyền dụ cho bọn Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng, Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương và các Tham tán đều nên đốc suất quân thuyền mau mau tiến đánh, không được hoãn lại một khắc”.


    Phó quản cơ ở cơ Thuận tráng tỉnh Bình Thuận là Dương Văn Khoa đuổi đánh hải phỉ Đồ Bà đến tận hải phận biển Cam Ranh tỉnh Khánh Hòa, đánh phá được thuyền giặc, bắt được hàng chục tên phỉ, cứu được dân nạn. Việc ấy tâu lên, nhà vua rất khen. Khoa, trước bị giáng cấp liền được khai phục, lại thưởng cho 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn, các biền binh được thưởng tiền 300 quan.


    Quân ở đồn Phước Thắng tỉnh Biên Hòa cũng nã bắt được 1 tên giặc Đồ Bà, được thưởng 3 lạng bạc.


    Lãnh binh tỉnh Khánh Hòa là Trương Văn Thận có tội bị mất chức. Cho Thành thủ úy là Nguyễn Văn Đa thăng thự Lãnh binh tỉnh Khánh Hòa.


    Thận, trước kia đem thuyền quân đi lùng bắt hải phỉ Đồ Bà. Phỉ xuất hiện đến hơn 10 chỗ, thế mà Thận không hề gặp giặc một lần nào. Do đó, Thận đã phải giáng chức nhưng được lưu lại làm việc. Đến đây, bộ biền tỉnh Bình Thuận tiễu phỉ ở Cam Ranh. Thận ở Cầu Huân, cũng không thân đến tiếp ứng ! Vua chán ghét Thận nhút nhát, ươn hèn, tức thì cách chức giải về Kinh, giao xuống bộ Hình nghị tội. Đáng khép tội đồ, nhưng đặc ơn chuẩn cho chỉ phải cách chức, phát vãng đi quân thứ Bắc Kỳ, đua sức làm việc để chuộc tội.


    Vua dụ Binh bộ rằng : “Hải phỉ Đồ Bà đã nhiều lần bị thuyền quân tuần hộ của Bình Thuận, Khánh Hòa đánh dẹp ; nay gió Bắc thường thổi, quân giặc thế tất tìm đường trốn về đảo cũ. Vả lại, giặc kia lúc ở cuối hạ đầu thu, thường quen đóng ở biển, để lén lút xuất hiện. Nếu không một phen đánh dẹp rất dữ, để cho nó sợ sệt mãi mãi, thì không khỏi có một ngày kia chúng quen thói cũ, sẽ trở lại. Vậy truyền dụ cho hai tỉnh Bình Thuận, Khánh Hòa nghiêm ngặt đốc suất bộ biền phái đi từ trước và thuyền quân hội tiễu của các tỉnh Phú Yên, Bình Định và Quảng Ngãi, nhân lúc thắng thế này, hết sức đuổi bắt cần bắt chém, trị tội hết cả đoàn thuyền giặc ấy, chớ để lọt một tên nào”.


    Rồi đó sai tỉnh Bình Thuận và tỉnh Khánh Hòa phái giải 2 đàn ông và 1 đàn bà trong bọn phỉ ấy đưa giao cho bộ Hình, 2 tên đàn ông thì đều chặt 1 tay lại thích
  • Chia sẻ trang này