0060.0072

6/1/16
0060.0072
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    chữ ở trên mặt (Đại ý nói bọn phỉ rông rỡ đi cướp bóc, tội ác rất nặng, đã bị quan quân trị tội theo phép luật. Còn 3 tên tội phạm đàn ông và đàn bà này tha cho về để chúng chuyển lời báo cho nhau, mà biết răn chừa. Nếu còn dám lại đến quấy rối cướp bóc nữa, tất phải đánh giết rất dữ, không để sót một tên nào. Nếu trên mặt thích không hết, thì chia ra thích ở trên lưng nữa) đợi thuyền nhà nước phái đi Hạ Châu ((1) Hạ Châu : tức Xinhgapo.1), tức thì cho chở đi, thả về nước. Còn các tên phỉ khác đều chém ngang lưng, chặt đầu bêu ở hải đảo.


    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển ciii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 8.


    Vua cho rằng năm tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên, Biên Hoà đã lấy lại được rồi, lũ giặc ở Phiên An khó lòng lại do đường biển trốn thoát, bèn ra lệnh rút về những quân đi tuần ngoài biển từ Quảng Bình trở ra Bắc đến Quảng Yên. Lại ra lệnh cho các tỉnh Bình Thuận, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng Trị, Nghệ An thả về cho yên nghiệp làm ăn những thổ dân miền sơn cước trước đây đã được điều đi canh phòng.


    Ra lệnh cho án sát tỉnh Biên Hoà là Hoàng Văn Đản về tỉnh cung chức. Liệu tính để tiền và gạo dự trữ ở Biên - Long, theo mức thường, giao cho 100 biền binh đóng giữ, còn thừa đều vận chuyển về hết.


    Tuần phủ tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng Hoàng Văn Quyền vì thấy Nam Kỳ có việc, bèn dâng sớ phong kín, nói : “Thế giặc đương hăng, mà thành Gia Định vững bền đem quân đến đánh chưa dễ phá ngay được. Xin thân đến nơi chiến trường, tuỳ cơ liệu định, hoặc đưa thư phản gián, để cho giặc ngờ vực chia rẽ lẫn nhau, hoặc bày ra khổ nhục kế để giặc tự đánh giết lẫn nhau, hoặc chọn người tâm Phước, cho trà trộn vào thành làm gián điệp khiến giặc mất hết các thứ cần thiết. Trong ba chước ấy nếu làm được một hai, thì đầu nghịch Khôi chẳng bao lâu sẽ có thể đưa đến dưới cờ”.


    Vua dụ rằng : “Nay các tỉnh Nam Kỳ đã lần lượt lấy lại được, công lớn sắp thành. Ngươi có trách nhiệm giữ bờ cõi, nếu biết hết lòng làm việc phận sự, khiến cho hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng không có trộm cướp, dân được yên ổn thế là không phụ chức vụ của mình, hà tất phải theo đi làm việc bắt giặc mới là trung ?”.


    Tổng đốc Nam Định, Hưng Yên là Đặng Văn Thiêm tâu nói : “Thời tiết làm ruộng đã muộn, lúa khó cấy giặm được, mà dân hai tỉnh mình có nơi muốn giữ nước ứ lại để tiện cày cấy vụ tới.”


    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Trước đây tỉnh Sơn Tây tâu nói : thời tiết làm ruộng còn sớm, lúa ruộng còn có thể cấy giặm được. Sao cùng thời tiết ấy, mà chỗ bảo là sớm, chỗ bảo là muộn khác nhau ? Gần đây, nhân nước lụt đã rút xuống, ta lần lượt dụ bảo khơi nước ứ đọng để cấy giặm. Nay lời tâu của tỉnh Nam Định lại không giống với tỉnh Sơn Tây, đủ biết mỗi người ý muốn một khác, đại khái như thế cả. Vậy thì người làm chính trị có thể trái ý muốn của dân thế nào được ? Khổng Tử có nói : “Làm vua khó”. Câu nói ấy đúng thật !”


    Thổ phỉ Tuyên Quang Nông Văn Vân sai đồ đảng nguỵ xưng là Tiền thắng lữ, Chánh quản lữ Nông Văn Sĩ họp bọn 300 người xâm lấn quấy rối châu Bạch Thông tỉnh Thái Nguyên. Tỉnh phái Suất đội Trần Đình Dự, Dương Đình ất cùng với quân của Bế Văn Đức giữ đồn Chợ Dã hiện đóng ở chợ Bắc Niêm, xã Nhạn Môn. Giặc từ xã Bằng Thành kéo đến ba mặt khép lại. Bế Văn Đức đầu hàng giặc. Lũ Dự bị thua chạy, quân bị thất lạc nhiều. Giặc bèn chiếm cứ đồn Chợ Dã cưỡng ép dụ dỗ thổ dân. Chúng có đến hơn 1.000 quân.


    Thự Bố chính là Nguyễn Đôn Tố ở đồn Bắc Cạn (thuộc huyện Cảm Hoá) nghe tin báo, tức thì sai phái Phó quản cơ ở cơ Thái hùng là Đinh Quang Toản gấp đem quân đến chống cự. Lại phi tư cho án sát Nguyễn Trọng Ngọc chuyển báo cho Tổng đốc tỉnh Bắc Ninh, Thái Nguyên, Nguyễn Đình Phổ, phái quân đến hội tiễu. Phổ liền phái Quản cơ ở cơ Tả thắng là Nguyễn Văn Phong đem 200 quân theo Trọng Ngọc giữ tỉnh thành ; rồi sức cho Lãnh binh Nguyễn Văn Cáo đến hội với Nguyễn Đôn Tố đi nã bắt giặc.


    Việc ấy tâu lên, vua dụ rằng : “ Trần Đình Dự và Dương Đình ất đốc suất 100 quân đi ngăn chặn giặc ở địa phận hạt mình, khi gặp bọn giặc quèn không thấy có thực trạng hăng hái chiến đấu gì, mà quân lính có người lại bị sa sảy ! Như thế có thể biết đại khái được tình hình nhút nhát là thế nào rồi. Vậy cả hai đều chuẩn cho cách chức nhưng được lưu lại làm việc cho theo Nguyễn Đôn Tố, ra sức đánh giặc để chuộc tội.


    “Lại, Nguyễn Văn Cáo nay đã đem quân đi tiếp ứng, nên cùng với Đôn Tố đốc sức lính, dõng, ra sức đánh giặc, cốt sao cho sớm trừ được ngay bọn giặc và bắt chém tên Bế Văn Đức là kẻ trở giáo theo giặc. Nếu làm không khéo để đến nỗi giặc lan thêm ra, thì bị lỗi không nhỏ đấy !”.


    Cho Giám sát ngự sử đạo Ninh - Thái là Nguyễn Du làm án sát tỉnh Thái Nguyên.


    Khi mới xảy ra trận thua ở Nhạn Môn, án sát Nguyễn Trọng Ngọc mới nghe được tin đồn, đã vội cho phi báo ; kịp khi tra xét rõ ràng nguyên uỷ, tiếp tục tâu trình, lại sai chạy ngựa trạm đệ lên. Vua ghét vì lười, nhát, hấp tấp, động việc gì cũng làm nhọc ngựa trạm, bèn giáng Ngọc xuống một cấp, đổi đi, rồi lấy Du lên thay.


    Ra lệnh cho Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức tiến đánh thổ phỉ ở Tuyên Quang.


    Trước đây, bọn Thành thủ uý là Trương Phước Nguyên bị thua, Nông Văn Vân đem đồ đảng đánh hãm đồn Ninh Biên, trong đồn hết lương thực, ngoài không có quân cứu viện. Thự Bố chính Phạm Phổ liệu sức không thể chống cự được, tự thắt cổ chết. Nguyên và hơn 400 biền binh đều bị giặc bắt. Có người lính lẻn trốn được, về báo, thự án sát Lê Bỉnh Trung đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Phạm Phổ thân làm bố chính, làm việc sai trái đường lối, gây hấn ở biên cương, tới khi đem quân đi đánh, điều khiển lại không đúng khớp, để đến nỗi hỏng công việc, đã cho cách lưu, giao xuống nghị tội. Thế là đáng tội. Nhưng nghĩ : Phổ là quan văn, vậy mà khi có hoạn nạn, biết tuẫn tiết ; chuẩn cho khai phục nguyên hàm. Vả lại, thổ phỉ ấy chẳng qua là lũ tiểu yêu hôi tanh, như con trẻ chơi giáo mác ở vũng ao, chỉ vì Phạm Phổ không nắm vững được gì cả, nên giặc mới còn thoi thóp chút hơi tàn, nếu đại binh kéo đến, thì sớm dẹp yên ngay, chứ có khó gì.


    “Tổng đốc Lê Văn Đức có trách nhiệm trông coi công việc cả ba tỉnh, hiện nay, ở tỉnh Sơn Tây, việc phòng giữ nước sông đã hơi thư, chuẩn cho lập tức đem biền binh tiến đến để điều khiển. Chưởng cơ là Trần Văn Lộc và Hoàng Văn Trạm đều chuẩn cho đi theo đường trạm, gấp đến quyền sung Lãnh binh tỉnh Sơn Tây. Rồi Trần Văn Lộc thẳng đến quân thứ Lê Văn Đức theo đi đánh giặc ; Hoàng Văn Trạm cứ ở lại tỉnh thành, hiệp đồng với bố chính, án sát, quyền giữ ấn quan phòng Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên. Lãnh binh Sơn Tây Đoàn Văn Cải hễ thấy Hoàng Văn Trạm đến tỉnh, thì chuẩn cho đi theo ngay làm việc bắt giặc. Và địa phương Hưng Hoá, hiện nay yên ổn, vậy biền binh ở tỉnh Sơn Tây trước phái đến đấy trú phòng, nay có thể lượng rút về 200 quân để phòng sai phái.


    “Lại, về địa phận châu Bảo Lạc, đường núi hiểm trở chật hẹp, cần được nhiều thổ ty và thổ dõng đi tòng chinh mới đắc lực. Lê Văn Đức, ngươi nên truyền hịch ngay cho những thổ ty thuộc tỉnh Sơn Tây trước đã làm việc bắt giặc đắc lực như lũ Đinh Công Trọng, Quách Công Nghị, bảo phải đốc suất 1.000 hoặc 6, 7 trăm thổ dõng lệ thuộc (dưới quyền của Đức) theo đi đánh giặc.


    “Điều động thú binh Hậu vệ dinh Tiền phong tỉnh Hà Nội đi theo làm việc quân ở tỉnh Tuyên Quang ; quân Thần sách tỉnh Hải Dương và thú binh đội Hữu bảo tỉnh Nam Định, mỗi tỉnh đều 200 người trú phòng ở Hà Nội ; 1 quản cơ và 500 biền binh thuộc tỉnh Nam Định đi giữ tỉnh Sơn Tây”.


    Cho án sát tỉnh Hưng Hoá là Trần Ngọc Lâm thăng thự bố chính ; lang trung bộ Lễ là Trịnh Văn Nho quyền lãnh án sát tỉnh Hưng Hoá.


    Ra lệnh cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ tiến đến Thái Nguyên đánh giặc.


    Trước đây, bọn giặc ở Tuyên Quang đã chiếm giữ đồn Chợ Dã thế lực ngày càng lan rộng. Thự Bố chính Nguyễn Đôn Tố lại tư đến xin điều động lính và voi của tỉnh Bắc Ninh. Phổ liền phái thêm Lãnh binh Trần Văn Duy quản lĩnh 400 biền binh, 2 thớt voi chiến đến ngay hội tiễu, rồi làm sớ tâu lên. Và nói : “Giặc này tuy là quân ô hợp mới nổi, nhưng nhiều tên bắn giỏi, nếu chỉ chuyên để cơ binh đi đánh, sợ chưa đắc lực, xin điều động 2, 3 trăm lính thú ở Hữu bảo, tỉnh Nam Định được lệ thuộc để sai phái”.


    Vua dụ rằng : “Nghịch phạm ở tỉnh Tuyên Quang là Nông Văn Vân, nổi loạn ở châu Bảo Lạc mà đồ đảng nó lại xâm lấn đến địa đầu Thái Nguyên, quấy rối cướp bóc ; phải nên sớm dập tắt đi, chớ để lan rộng ra mãi. Chuẩn cho Nguyễn Đình Phổ, ngươi lên lập tức để lại 1 viên Lãnh binh, hiệp đồng với Bố chính, án sát quyền Hộ ấn quan phòng Tổng đốc, rồi liệu đem cơ binh thuộc tỉnh, mang nhiều súng đạn quá sơn và thần công tiến đóng ở tỉnh thành Thái Nguyên, tuỳ cơ đốc thúc đánh dẹp. Lại điều động toàn cơ Lạc dũng tỉnh Nam Định, toàn cơ Chính võ tỉnh Hải Dương, 5 thớt voi chiến theo đi làm việc quân. Còn thú binh Thần sách ở Bắc Ninh thì cứ để giữ tỉnh thành, chớ nên điều động thêm thú binh ở vệ Hữu bảo nữa”.


    Lại dụ : tỉnh Thanh Ba (Thanh Hoa) chọn lấy 1 viên Quản vệ và 400 biền binh trong quân Thần sách đi gấp đến tỉnh Tuyên Quang ; tỉnh Nghệ An chọn lấy 1 viên Quản vệ và 400 biền binh trong quân Thần sách đi gấp đến tỉnh Thái Nguyên lệ thuộc dưới quyền sai phái của Lê Văn Đức và Nguyễn Đình Phổ. Tỉnh nào, trong số 400 lính ấy cũng phải mang theo 200 khẩu súng điểu sang, còn thì chia ra cầm cờ, mang trống, vác giáo dài, để giúp việc chế ngự địch.


    Thự Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Lương Năng bá Nguyễn Văn Hiếu chết.


    Hiếu là người trung hậu thuần phác, đã trải làm quan trong, ngoài, nổi tiếng về thành tích chính sự. Vua rất thương, chuẩn cho thực thụ (chức ấy) và chiểu theo phẩm mà cấp tiền tuất. Lại thưởng thêm 1.000 quan tiền và ban cho 1 tuần tế.


    Ra lệnh cho Thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Bằng tạm quyền giữ ấn triện Tả quân.


    Bộ Lễ bàn tâu : “Về việc tang Nguyễn Văn Hiếu, nên cho hoàng nữ thứ hai ((1) Công chúa này là vị hôn thê của Nguyễn Văn Hiếu1) để tang rút đi”.


    Vua dụ rằng : “Công chúa đã hạ giá rồi, phải nên về nhà chồng, kính hiếu cha mẹ chồng mới là hợp lễ. Ta là vua cả một nước, vẫn nghĩ sâu sắc rằng mình là gốc phong hoá, phải làm gương cho thiên hạ về việc dạy đạo hiếu để suy làm đạo trung”. Vua bèn đặc cách chuẩn cho công chúa để tang Nguyễn Văn Hiếu tròn một năm, duy khi vào triều yết kiến ở nội đình, thì đổi dùng đồ mặc thường, còn những lúc ca nhạc, yến tiệc, vui chơi, đều miễn không phải đến dự, theo ban thứ.


    Trong Kinh kỳ bị mưa lụt.


    Vua vời Kinh doãn Trần Tú Dĩnh hỏi về tình hình đồng ruộng. Dĩnh thưa rằng : “Lụt chưa to lắm, nhưng lúa gần chín, nhiều chỗ bị đổ vì gió”. Vua bèn sai đi khám, nhân thể sai đóng xe ra chơi Cột Cơ để xem nước lụt.


    Vua bảo bề tôi theo hầu rằng : “Nay chính là mùa mưa lụt, hằng năm thường có, chỉ sợ lụt muộn lại hại hơn lúc này thôi !”.


    Tú Dĩnh đi khám đã về. Vua hỏi : “Lúa, so với năm ngoái thế nào ?” [Tú Dĩnh] thưa rằng : “Kém một, hai phần”. Vua nói : “Trận mưa lụt này may ở vào tuần giữa tháng, nếu ở vào kỳ cuối tháng 7 đầu tháng 8 thì thiệt hại nhiều hơn”.


    Tỉnh thần Ninh Bình tâu nói : “Dân trong tỉnh hạt trước đây bị giặc quấy rối làm hại, xin liệu lượng cứu giúp thêm cho”.


    Vua dụ chuẩn cho : Người nào bị hại nặng thì tha cho thuế thu về mùa hạ và thóc vay năm Minh Mệnh thứ 13 [1832]. Người nào bị hại nhẹ thì cho hoãn thu. Còn tô thuế mùa đông năm nay đều cho triển hạn đến mùa hạ sang năm.


    Thự Tổng đốc tỉnh Hải Dương Nguyễn Công Trứ, tâu nói : “Dân bị thuỷ tai ở trong hạt đã nhiều lần được chẩn cấp, ăn dùng hơi khá ; duy có dân xiêu giạt phải đi kiếm ăn đến hơn 13.000 người, xin tính từng ngày cấp thêm cho”.


    Vua dụ rằng : “Về việc chẩn cấp, lòng ta không hề ngại tốn, nhưng nghĩ : lúc mới lụt, nhân dân sở tại không kịp trở tay, nên vén xống áo để cứu cấp vẫn là phải ; nhưng nay nước đã rút bớt rồi, chính là lúc họ nên tuỳ tiện làm ăn sinh sống, họa chăng có thể không đói được ; nếu cứ oe oe đợi mớm, chẳng lo sinh nhai, thì đối với sự giúp đỡ nuôi dưỡng hiện nay ra sao ! Ngươi nên tức thì vát tiền và gạo, theo khẩu phần, hậu cấp cho một lần nữa (người lớn : tiền 5 tiền, gạo 15 uyển ; người nhỏ : tiền 2 tiền, gạo 10 uyển). Rồi, ngay trước mặt họ nên hiểu dụ cho họ về làng làm ăn, nếu đến kỳ cuối thu đầu đông này, còn có tình hình vất vả túng thiếu, thì cứ thực tâu lên, sẽ lại ban chỉ để quyết định”.


    Bố chính Quảng Ngãi Lê Nguyên Trung, án sát Nguyễn Đức Hội tâu nói : “Tháng trước gạo kém, đã vâng lệnh bán thóc ra nhưng sự ăn của dân còn khó khăn, không biết xoay xở thế nào được”.


    Vua quở rằng : “Về việc ăn của dân, ta vẫn lo liệu trước cho lũ các ngươi rồi. Các ngươi giữ trách nhiệm chăn nuôi dân, nên hết lòng trù tính mà làm : hoặc hiểu dụ dân làng, khiến họ giúp đỡ lẫn nhau ; hoặc chăm khuyên bảo khiến dân trồng cấy nhiều ra, cốt mong có thể cứu được lúc đói, mới không phụ ý của triều đình tìm thức ăn để nuôi dân. Nếu nói “không biết xoay xở thế nào được”, vậy thì chức phận các ngươi làm những việc gì ?”.


    Hậu quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Chương Nghĩa hầu Phan Văn Thuý chết.


    Thuý bị bệnh từ quân thứ Biên - Long về Kinh, đi đến Khánh Hoà thì chết ở dọc đường. Tỉnh thần đem việc ấy tâu lên.


    Vua bảo bộ Lễ rằng : “Phan Văn Thuý là người lão thành từng trải, vốn được ta biết và lựa dùng. Trước đây vâng mệnh đi coi việc binh nhung, lúc mới đầu ra trận, nhiều lần đã thu được thắng lợi, rồi vì chậm chạp lần trần, không chịu tiến quân ; lại vì bị bệnh, xin về điều trị, dâng biểu rồi đi ngay, đến nỗi bị Ngôn quan ((1) Chức quan có nhiệm vụ phải nói về những sai trái của vua quan, tức là phải làm việc can ngăn vua hoặc đàn hặc các quan khi có lỗi1) đàn hặc. Ta nghĩ rằng Thuý già mà bị ốm, cũng là vì có lý do ; nay lại chết ở dọc đường, thực đáng thương tiếc ! Vậy dưới chỗ tên của Thuý đã ghi bị xử giáng phạt và bị tham hặc, đều chuẩn cho khoan miễn cả ; lại được truy tặng Thiếu bảo, đặt tên thụy là Trung Tráng, cho thêm 5 cây gấm Trung Quốc, 10 tấm lụa, 20 tấm vải, 2.000 quan tiền, lại nghỉ thiết triều một ngày. Khi linh cữu đã đưa đến Thừa Thiên, sắc cho Hữu ty bày lễ đàn ở bến sông Hương, sai Hoàng tử Vĩnh Tường, công chúa Miên Hoành làm lễ ban cho tuần rượu tế.”


    Ra lệnh cho Tổng đốc An Tĩnh Tạ Quang Cự lại về Nghệ An cung chức.


    Cho : Nguyễn Kim Bảng làm Hữu thị lang Hình bộ, thự Tả tham tri, Thị lang Thương trường là Trần Danh Bưu kiêm làm công việc bộ Lại.


    Bố chính tỉnh Hưng Yên Vũ Tuấn, tâu nói : “Dân bị thuỷ tai trong tỉnh hạt đều đã được nhờ ơn chẩn cấp cả, duy ở tỉnh lị có những dân xiêu giạt, nghe tin được chẩn cấp, kéo đông tới kiếm ăn, tình hình rất bách thiết, hiện đã đặt trường phát chẩn ở mặt đê ngoài thành : 3 ngày 1 lần phát chẩn”.


    Vua bảo Bộ hộ rằng : “Tụ họp dân ở tỉnh thành, đã không phải là chính sách tốt về việc cứu đói, mà tiểu dân sớm hôm chầu chực miếng ăn, lại không khỏi có hại tới việc làm lụng sinh sống. Vậy, truyền chỉ phái Phan Bá Đạt đến hội đồng với tỉnh thần, chiếu theo số người liệu cấp cho tiền và gạo 1 lần (người lớn 5 tiền và 15 uyển gạo, người nhỏ : 3 tiền và 10 uyển gạo), rồi ra lệnh cho họ trở về quê hương làm ăn, đợi sau khi gặt mùa rồi, nếu còn có thực trạng đói rét ngặt nghèo, thì do tỉnh thần tâu lên, sẽ ra ơn cho chẩn cấp. Việc xong rồi bọn Phan Bá Đạt và các viên chức ở khoa đạo tức thì theo đường trạm, về Kinh, tâu lại việc ấy”.


    Phó lãnh binh tỉnh Nghệ An là Lê Văn Túc chết. Vua cho Phó vệ uý ở Tuyển phong Tả vệ là Văn Hữu Xuân làm Vệ uý, Chánh tam phẩm, sung chức Phó lãnh binh tỉnh Nghệ An.


    Chưởng cơ sung Lãnh binh tỉnh Nam Định là Nguyễn Văn Phong tuổi ngoài 70, chuẩn cho được theo nguyên hàm về hưu trí.


    Đổi bổ Đề đốc Kinh thành Nguyễn Văn Mỹ làm Vệ uý ở vệ Trung nhất quân Vũ lâm, ấn quan phòng Đề đốc giao cho Phủ doãn phủ Thừa Thiên là Trần Tú Dĩnh và Phủ thừa là Trần Quang Tiến hội đồng quyền giữ.


    Lệ cấp lương cho người giữ đồn bảo và thủ bảo xung yếu thuộc tỉnh Hưng Hoá và tỉnh Quảng Yên. (Năm đồn bảo Bảo Thắng, Lô Khê, Trấn Hà, Đông Cuông, Bách Lẫm thuộc tỉnh Hưng Hoá, thủ hạ và thổ dân mỗi người mỗi tháng 5 tiền và 1 phương gạo. Bốn đồn bảo Bắc Nham, Đồng Tôn, Định Lập, Minh Châu thuộc tỉnh Quảng Yên, thổ hào mỗi người mỗi tháng tiền 1 quan, gạo 1 phương, thủ hạ mỗi người mỗi tháng gạo 1 phương).


    Bổ : Tổng đốc Hà - Ninh ((1) Hà Nội và Ninh Bình1) là Đoàn Văn Trường làm Đô thống, thự Tả quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự, vẫn lĩnh chức Tổng đốc Hà - Ninh, Thống chế Nguyễn Văn Trọng làm Đô thống, thự Hậu quân Đô thống phủ, Chưởng phủ sự lãnh Tổng đốc Định - Biên ((2) Gia Định và Biên Hoà2) ; Tham tri Hà Duy Phiên làm Tuần phủ Gia Định ; Thống chế Nguyễn Xuân làm Tổng đốc Long - Tường ((3) Vĩnh Long và Định Tường3). Hộ bộ Thượng thư Trương Minh Giảng cải bổ Binh bộ Thượng thư, làm Tổng đốc An - Hà ((4) An Giang và Hà Tiên4) kiêm lĩnh Bảo hộ Chân Lạp quốc ấn. án sát Biên Hoà là Hoàng Văn Đản thăng thự Bố chính Gia Định. Thự Lễ khoa Cấp sự trung là Phạm Duy Trịnh thăng án sát Biên Hoà.


    Hà Duy Phiên khi đi nhậm chức, vua dụ cho quan địa phương ở dọc đường Duy Phiên đi qua, đều phải vát 30 biền binh, chiếu theo địa hạt mình, đi hộ vệ, đưa đến trạm Biên - Long, do tỉnh Bình Thuận báo trước cho Tướng quân và Tham tán chuẩn bị phái 300 biền binh, 3 chiếc thuyền, tiến đến tiếp hộ, cho trọng sự thể. Khi đến tỉnh, nếu tỉnh thành chưa lấy lại được, thì chuẩn cho Tướng quân và Tham tán, vát giao cho (viên Tuần phủ) những biền binh ở Nhất vệ và Nhị vệ mà mình vẫn thống lĩnh, để viên ấy hiệp đồng với (Tướng quân và Tham tán) bàn làm công việc đánh dẹp.


    Lại dụ Tổng đốc Nguyễn Xuân và Trương Minh Giảng cứ ở quân thứ tham tán mọi việc quân cơ. Còn ấn quan phòng Tổng đốc Long - Tường giao cho Bố chính, án sát và Lãnh binh tỉnh Vĩnh Long quyền giữ ; ấn quan phòng Tổng đốc An - Hà và ấn bảo hộ nước Chân Lạp đều giao cho Bố chính, án sát và Lãnh binh tỉnh An Giang quyền giữ.


    Ra lệnh cho Binh bộ Thượng thư Trương Đăng Quế quyền lĩnh ấn triện viện Đô sát.


    Nam Kỳ Thảo nghịch Hữu đạo tướng quân Nguyễn Văn Trọng, Tham tán Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận đem đại đội quân và voi từ Bình Đồng((1) Bình Đồng : tục gọi sông Đồng Cháy (theo Gia Định thành thông chí, quyển thứ II, phần Sơn xuyên chí).1), sang qua sông, tiến đóng ở phía bắc cầu Cao Mên ((2) Cầu Cao Mên ở trên rạch Thị nghè.2) (ở sau tỉnh thành Phiên An). Trước đây, đạo quân của Lê Sách và Nguyễn Văn Đoài đến cầu Tham Lương, hợp với quân của Thái Công Triều, đánh nhau với giặc ; giặc rút lui và bày trận ở bãi Tập Trận để chống cự. Quân ta xông vào chiến đấu, bắn chết nguỵ Hữu quân Vũ Vĩnh Tiến. Nhiều tên bị thương và chết, bọn giặc lẩn vào phố Sài Gòn, chẹt giữ lấy chỗ hiểm yếu. Phó vệ uý vệ Phấn uy là Nguyễn Văn Tần khinh địch, cứ xông xáo tiến lên, bị giặc giết chết ! Quan quân vẫn đóng ở luỹ Hoa Phong, đem tin ấy báo đến quân thứ Bình Đồng thì Nguyễn Văn Trọng vừa đến, bèn nhận lĩnh ấn triện, cờ bài của Thảo nghịch Hữu tướng quân, cùng Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận dẫn quân tiến lên, vừa đến xã Bình Hoà, Thái Công Triều đương đánh nhau với giặc ở Giới Kiều. Viên tử là Nguyễn Hoàng Thoả đánh nhau ở cầu Cao Mên (Thoả là em Nguyễn Hoàng Nhiên. Từ khi Công Triều quy thuận, chiêu tập quân nghĩa dũng, Thoả đi theo), tiếng trống tiếng súng vang ầm rầm rộ. Lũ Trọng tức thì phái Vệ uý vệ Cẩm y là Đoàn Dũ đốc suất biền binh ở Hậu vệ dinh Thần cơ đi tiếp ứng quân ở Giới Kiều ; bắn súng đại luân xa : giết được nhiều quân giặc. Giặc bèn lui giữ phía nam cầu. Lại phái Phó vệ uý Hữu vệ dinh Thần cơ là Trương Văn Phượng đem vệ binh đến cầu Cao Mên để tiếp ứng. Phượng xông lên để giết giặc, trúng đạn, bị chết, lại để mất một cỗ súng đại luân xa. Kịp khi quân cứu viện đến, giặc chặt cầu, giữ thế thủ. Quân ta bèn đóng đồn ở phía bắc cầu, tuỳ cơ đánh dẹp rồi làm sớ tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Gần đây, quan quân đi đến đâu, không ai dám địch ; nay đã đến sào huyệt giặc, mà không hăng hái gắng sức đánh mạnh, để thu toàn công, tuy có chém được bọn giặc, nhưng quan quân cũng có bị thương chết, lại mất súng đại luân xa, thật là bất trí và bất dũng.


    “Đối với lũ Nguyễn Văn Trọng phải truyền chỉ nghiêm quở. Còn Trương Văn Phượng và Nguyễn Văn Tần đều hăng hái đánh giặc đến nỗi bỏ mình, rất đáng thương tiếc ! Vậy chuẩn cho Trương Văn Phượng được truy tặng Vệ uý, hàm Chánh tam phẩm, cho một con được tập ấm làm Thiên hộ vệ Cẩm y. Nguyễn Văn Tần được truy tặng Vệ uý, hàm Tòng tam phẩm, cho một con được tập ấm làm Bá hộ vệ Cẩm y ; thưởng thêm mỗi người 50 lạng bạc cấp cho gia đình” (con Phượng là Trương Văn Hoằng, con Tần là Nguyễn Văn Sở rồi theo chỉ dụ đều được ấm thụ).


    Bình khấu đạo Tướng quân Trần Văn Năng và Thảo nghịch Tả đạo tướng quân Tống Phước Lương đem thuỷ binh đánh phá giặc ở đồn bảo Giao Khẩu, tiến đậu ở sông Bến Nghé. Trước kia, đoàn thuyền của Tống Phước Lương đến sông Lão Tố, riêng uỷ Tham tán Nguyễn Xuân mang hơn 1.000 binh, dõng của Phạm Hữu Tâm theo Ngã ba Soài Rạp ((1) Hán văn chép là (Lôi Lạp).1), thuận dòng xuôi xuống, đốc suất các đạo quân ở Long - Tường - An - Hà ((2) Tức là Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên.2) thẳng tiến đến Cát Giang đánh dẹp. (Trước đây, nguyên Tổng đốc An - Hà Lê Đại Cương và Định Tường hộ phủ Lê Bá Tuấn đều đốc suất binh, dõng : một đạo từ sông Lật Giang tiến lên, một đạo từ sông Tra Giang tiến lên, tin báo đến quân thứ, xin phái thêm quân ứng). Tiếp đó đoàn thuyền của Trần Văn Năng cũng đến bèn hội đồng với nhau, nhân đêm đánh úp đồn bảo Giao Khẩu, chặt đứt xích sắt ngang sông. Giặc cả sợ, tan vỡ. [Quan quân] bắt sống được nguỵ quản lĩnh Thuỷ sư Trần Văn Đề, bắt chém được bọn giặc và lấy được thuyền, súng, khí giới [của giặc] rất nhiều, rồi thẳng tiến đến cửa sông Bến Nghé. Nguyễn Xuân đến sông Cần Đột, Hộ lý Tuần phủ Định Tường là Ngô Bá Tuấn đem nộp nguỵ Hữu quân phó tướng là Nguyễn Văn Bột và nói đấy là do thủ hạ Đỗ Văn Nghị cùng Tri huyện bị cách là Trương Sùng Hi bắt được. Xuân bèn chuyển giải đến quân thứ Bến Nghé. Lũ Trần Văn Năng đem tin thắng trận tâu lên.


    Vua phê bảo rằng : “Trước vì gió cản, hiềm rằng chậm rồi ! Nay các tướng quân đánh một trận, thắng ngay, đến thẳng sào huyệt giặc, thành công lại chóng. Xem tờ tâu, ta vui lòng và khen ngợi xiết bao !”. Vua bèn xuống dụ rằng : “Lũ giặc ấy nhiều lần bị thua, còn dám lập đồn bảo, đặt súng lớn, chống lại chu sư của ta, thế mà quan quân lại hăng hái đánh phá, thu được thắng lợi lớn. Tướng quân Trần Văn Năng và Tống Phước Lương điều khiển đúng mức, vậy mỗi người được thưởng một chiếc
  • Chia sẻ trang này