0060.0073

6/1/16
0060.0073
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    nhẫn vàng mặt kim cương, to bằng hạt đậu, một đồng kim tiền Phi long hạng lớn, 5 đồng kim tiền hạng nhỏ. Những người cùng dự chuyến đánh ấy là Quản vệ Nguyễn Văn Hoà, Mai Công Ngôn, Tống Viết Trì, Trần Văn Lân, mỗi người được thưởng một đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ, 3 đồng ngân tiền hạng lớn và 3 đồng ngân tiền hạng nhỏ. Phó vệ uý Nguyễn Văn Tình, Phan Văn Mẫn, Phó quản cơ Lê Văn Hợp mỗi người được thưởng 5 đồng ngân tiền hạng lớn và 5 đồng ngân tiền hạng nhỏ, lại thưởng thêm quân công 1 cấp. Các biền binh được thưởng chung 2.000 quan tiền. Nghịch phạm đã bắt được là Nguyễn Văn Bột, lập tức nhốt vào cũi sắt, phải giải về Kinh, tận pháp trừng trị. Bè lũ nghịch là Trần Văn Đề tức thì phải chém ngang lưng, bêu đầu trên cần cao, để tỏ sự răn dạy. Vả lại, 2 đường thuỷ quân nay đã hội lại cả, vậy phàm súng ống, thuốc đạn và lương ăn chuyển vận đến, các tướng quân khá chuyển cấp cho các quan quân đường bộ, nhưng phải hợp sức lại chia đường cùng tiến, cốt sao trong vòng tháng 8, bắt chém nghịch tặc, lấy được tỉnh thành tất sẽ được thưởng to nhất”.


    Vua lại dụ Binh bộ rằng : “Nay quan quân các đạo đều tập hợp ở bên thành Gia Định, đường thuỷ đường bộ đã thông, khá truyền dụ cho các Tướng quân, Tham tán và Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát sáu tỉnh, từ Biên Hoà trở vào Nam, các trạm đường thuỷ cứ chiếu theo như cũ, chia đặt đúng lệ truyền, đệ, còn các trạm ở mặt đê và tấn sở thuộc đường bộ do tỉnh Biên Hoà đặt ra tức thì bãi bỏ đi. Và, tình hình trong quân đã có Tướng quân và Tham tán chuyên làm thành tập tâu báo, thì tỉnh Biên Hoà và tỉnh Bình Thuận bất tất phải tâu lại, để rút bớt việc chạy trạm”.


    Nghịch đảng Trung quân Phó tướng Lê Đắc Lực trước kia lén lút chiếm giữ Biên Hoà, nghe tin quan quân kéo đến, bèn bỏ trốn trước. Lực liệu biết thế giặc không thể làm gì được, liền cắt tóc, ẩn nấp ở chùa Kim Chương. Kịp khi Thái Công Triều quy thuận, đem quân tới sông Lật Giang, thì Lực đến gặp Công Triều, xin theo đi đánh giặc. Đến bấy giờ Công Triều đem việc Lực nói với Tướng quân và Tham tán. Họ bắt Lực đem về Gia Định để xét hỏi.


    Vua sai Binh bộ truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán rằng : “Nay quan quân bốn mặt họp lại, tin rằng công lớn sắp thành. Vả lại quân ta đi tới đâu, trừ kẻ bạo ngược, vỗ yên dân lành, cứu dân chúng ra khỏi chỗ nước sôi lửa cháy, phải nên nghiêm cấm trong quân không được xâm phạm của dân một mảy tóc. Những lúc đánh nhau với giặc ở các ngõ, nếu gặp nhà cửa của dân, trừ ra lâm vào tình thế bất đắc dĩ không kể, nhược bằng hai đằng cầm cự nhau hoặc giặc thua chạy vào thành chống giữ, thì không được phóng lửa đốt cháy, là để giữ yên chỗ ở cho dân. Lại nên bá cáo cho nhân dân sở tại : ai nấy trở về làm ăn, yên ở như cũ. Nếu có một, hai nhà con em theo giặc, bị kẹt ở trong thành, tức thì nên dụ bảo bè đảng nó kêu gọi ra : nếu không thể giết giặc lập công, thì cũng mở ngay cửa thành đầu hàng, hoặc giòng dây ra khỏi thành, sẽ được tha cho tội chết, cha anh sẽ được đoàn tụ như xưa. Nếu cam lòng theo giặc, không sớm quay đầu về, thì cha anh vợ con sẽ bị tra xét, bắt bớ trị tội, không tha.


    “Và nay giặc đã thua, thế tất dựa vào thành, liều chết cố giữ. Vậy, nên tuỳ cơ mà đánh : hoặc dùng đại bác bắn vỡ cánh cửa thành, kéo quân vào thẳng, thu lấy thành trì ; hoặc ở mặt sau thành, đắp núi đất, kéo súng đại bác lên, đem chấn địa lôi, tức là đạn trong lòng có lửa, ném vào dinh trại và kho thuốc súng trong thành, thì giặc không có chỗ nương thân, tất phải sợ hãi tan vỡ, không thể giữ bền được mãi. Lại, ở bốn bên thành có nhiều sông con, hễ thấy thuyền nhỏ đậu lại thì lập tức đuổi ra bờ bên bắc sông lớn, để phòng lũ giặc nhân khi sơ hở, cướp lấy lẻn trốn. Và ở bốn mặt thành, nên dùng quân và dân góp sức vây đánh. Phàm cửa thành có các đường đi ra, phải ngăn chặn nghiêm ngặt, không để một tên giặc nào lọt khỏi được. Đấy đều là việc cần, các ngươi phải trù tính cho kỹ. Lại phái người gấp đến tỉnh An Giang, xét xem hai tên phạm, nguỵ chánh phó sứ, hiện đã bị bắt, nếu đã chém rồi, thì lập tức cho bêu đầu ở dưới thành để cho mọi người biết ; nếu chưa hành hình thì khá áp giải đến ngoài thành, rao khắp mọi nơi, rồi lập tức xử tử bằng tội lăng trì, chặt đầu đem bêu, khiến cho nghịch tặc biết rõ rằng chánh phó sứ của chúng đã bị quan quân bắt chém để chúng tuyệt vọng.


    “Lại nữa, nghịch Khôi hễ có chỗ trú ngụ ở ngoài thành, và bè lũ nó có đứa nào theo giặc cố chết giữ ở trong thành thì phải tra rõ tên họ quê quán của chúng, rồi đem cha mẹ, vợ con, anh em của chúng, bắt giam và tịch thu gia sản để đợi kết án”.


    Vua lại dụ bộ Lễ rằng : “Trước đã lần lượt sai phái võ quan đến Nam Kỳ bắt giặc, trong số ấy có người đi trận bỏ mình, có người mắng giặc, không chịu khuất, như lũ Lê Văn Nghĩa, Phan Văn Song, Đặng Văn Quyến, Trần Văn Du, Tôn Thất Gia, Trương Văn Phượng và Nguyễn Văn Tần 25 người, đều tuẫn tiết, phơi thây, lộ cốt ở chiến trường, hoặc bị giặc vứt xác đi, hoặc không người thu lượm chôn cất, tình hình như thế, thật rất ngùi thương ! Nay đại binh tiến đến bên thành Gia Định, chắc có thể hẹn ngày giết được nghịch Khôi. Vậy, những tướng võ chết trận ấy há nỡ để vật vờ nơi cỏ hoang ? Vậy truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán lập tức nên tìm nhiều cách dò hỏi, cốt sao lượm được đầy đủ hài cốt, không bỏ sót, rồi đem đoạn hoa, vải, lụa, quan ván liệm rồi đem chôn ở chỗ đất sạch ; cử người lập đàn tế một tuần ở trước linh vị. Đợi đến sang năm sau do quan địa phương phái thuyền trở về nguyên quán an táng, để cho những hồn phách bơ vơ ở nơi chiến trường có chỗ nương tựa, và để tỏ ý ta thương nhớ vô cùng đối với bề tôi trung nghĩa”.


    Lại dụ bộ Hộ rằng : “Gần đây, căn cứ vào tờ tâu của các tỉnh Biên Hoà, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên về việc lấy lại các tỉnh thành, thì thấy trong đó, chỉ nói sơ qua tình hình, còn như tiền lương, thóc gạo ở trong kho tàng đều không trình bày rõ rệt. Vả lại, quốc khố và quân nhu chính là những món quan trọng cốt yếu, há nên sơ lược như thế ? Vậy, truyền dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính và án sát, phải lập tức xét xem thực số hiện còn tâu rõ, để bằng cứ vào đó mà làm việc. Đến như dân gian, trước kia bị điêu đứng dưới ngọn lửa bạo ngược của nghịch tặc, phàm nhà cửa bị đốt cháy, của cải bị cướp bóc, tình hình khổ sở chắc còn nhiều. Tỉnh thành nay mới lấy lại được, nhân dân đã yên ở hay chưa ? Còn chăng hoang mang, ngờ sợ, ăn ở không yên. Và ruộng nương ở các tỉnh hạt, trong mùa làm ruộng vào khoảng tháng 6, tháng 7, chẳng rõ dân ta đã kịp thời cày cấy được không, tưởng đến mùa đông lúa chín, thu hoạch liệu được mấy phần kha khá ? Giá gạo hơn kém, dân ăn đủ thiếu thế nào, cũng phải điều tra tâu rõ lên cả.


    “Lại, trước đây, nhiều kẻ vô loài nhân lúc sơ hở, họp thành bọn đi cướp bóc, nay giặc lớn dần đã dẹp yên, không biết lũ ấy đã im hơi chưa. Phải nên có nhiều đường chỉ bảo, khiến chúng quay đầu lại sớm, yên thường, giữ phận, thì tha cả tội lỗi, cùng mọi người đều đổi mới. Nếu cứ một niềm mê hoặc, trái phép làm càn thì phải tuỳ cơ dập tắt ngay, chớ để lan rộng, làm luỵ dân ta. ấy là điều ta chú ý sâu sắc. Các ngươi đều nên thể theo lòng ta !”.


    Ra lệnh cho đình thần bàn việc thiện hậu ở Nam Kỳ. Lời bàn dâng lên, cho rằng các tỉnh Nam Kỳ, từ khi nghịch Khôi nổi loạn tới nay, sự thể không ví như ngày trước được. Sau khi việc yên, nên có một phen sửa sang lại, sẽ lần lượt tiến hành. Nhưng có việc nên hoãn, việc nên kíp, việc nên trước, việc nên sau, khó lòng làm cả một lúc được, xin trước hãy trích lấy những việc lớn, việc kíp, cùng nhau hội đồng bàn tính. Ngoài ra, còn có việc gì nên làm thì để do Tướng quân, Tham tán, Tổng đốc, và Tuần phủ tuỳ việc tâu bày.


    Vua truyền lệnh cho các Tướng quân, Tham tán, Tổng đốc và Tuần phủ tuân làm :


    (1. Các hạng tấn thân, võ biền, lại dịch, binh đinh ở sáu tỉnh từ Biên Hoà trở vào Nam hiện đang làm việc bắt giặc, sẽ do Tướng quân, Tham tán và quan địa phương làm sớ riêng ghi công trạng, tâu lên, đợi chỉ khen thưởng. Đến như hương thân, tổng lý, hào mục, người thường và người phục dịch, hưởng ứng việc nghĩa, hễ ai là người tập hợp được nhiều hương dõng, hoặc lấy lại được tỉnh thành, hoặc đi theo đánh dẹp, đích xác có công, cũng xét thực, chia làm 3 hạng, lập thành danh sách tâu lên. Ai dự vào hạng nhất, sẽ liệu lượng cho quan chức, hoặc muốn về Kinh, hoặc muốn ở các tỉnh, đều được cả. Nếu ai muốn về quê, cũng liệu cho một chức quan. Hạng nhì : chuẩn cho được miễn đi lính, sưu dịch, thuế thân suốt đời. Hạng ba: thưởng cho tiền bạc có thứ bậc.


    2. Trong các tấn thần, võ biền, lại dịch, hễ người nào đích xác thực sự theo giặc, thì phải tra xét để làm tội ; còn người nào hiện theo theo đánh dẹp hoặc tán lạc nơi dân gian nay mới ló đầu ra, do quan địa phương vẫn ở trước xét kỹ sự trạng trước sau, làm thành danh sách tâu lên để đợi chỉ dụ. Đến như các chức phủ, huyện và giáo chức còn khuyết, nơi nào khuyết mà vẫn còn có nguyên viên thì hẵng cho cứ được cung chức như cũ ; nơi nào khuyết mà cần phải người tạm quyền thì lấy ngay ở nhân viên phái đi đợi bổ. Còn hai ty Bố chính và án sát thuộc tỉnh, từ Thông phán trở xuống, nếu có khuyết, cũng lấy nhân viên đợi bổ, sung vào.


    3. Các tỉnh đều phải xét xem tiền, lương, thóc, gạo hiện còn, cho đến thuyền mành, súng ống khí giới và hết thảy vật hạng của công, làm thành sổ sách rõ ràng, do bộ đề cả ra để đợi chỉ cho giữ. Tỉnh nào có vật hạng gì cần dùng mà tỉnh không có, thì cho tư đi nơi Tướng quân và Tham tán, xem tỉnh nào còn có nhiều, thì liệu tính chia cấp cho, nếu không có, thì cứ thực tâu ngay đợi chỉ sẽ cho tuân làm.


    4. Trong những người theo đạo Gia tô kẻ nào theo giặc, chống lại quan quân, đã bắt được tại trận hoặc tiếp tục bắt sau, tức thì chém đầu, đem bêu cho mọi người biết ; còn kẻ nào hiện nay tuy đã bị bắt, nhưng trong những ngày nghịch tặc phản bạn, vẫn đi biệt ở nơi khác, nay mới trở về, thì cho tổng lý sở tại bắt giải đến địa phương tra xét rõ ràng, nghị xử, tâu lên : người nào trước sau vẫn ở trong dân không hề theo giặc, thì cho tổng lý dẫn đến tỉnh, [để tỉnh] sức bảo bước qua thập tự giá, xét ra thấy quả thật lòng tỉnh ngộ ăn năn, tình nguyện bỏ đạo, thì đều tha tội, cho về yên nghiệp làm ăn. Còn dân Man ở đạo Quang Hoá((1) Đạo Quang Hoá : đạo này thuộc tỉnh Gia Định. Đến năm Minh Mệnh thứ 17 [1836] đặt làm huyện Quang Hoá.1) trước đã theo giặc, tán lạc trốn tránh, cũng cho tổng lý sở tại bắt giải, tra xét rõ ràng, để trị tội cho pháp luật được nghiêm chính.


    5. Trong các người Thanh kiều ngụ, kẻ nào theo giặc đã bị quan quân bắt được tại trận hoặc tiếp tục bắt sau, tức thì chém đầu đem bêu cho mọi người biết.


    6. Các tù phạm bị giam ngày trước, được giặc thả ra, tên nào cam tâm theo giặc, đã bị bắt tại trận hoặc sau mới tiếp tục bắt được, tức thì chém đầu đem bêu cho mọi người biết. Còn tên nào trót đã theo giặc, nay biết sợ tội ra thú, thì do quan tỉnh sở tại tâu rõ cả tội phạm ngày trước và duyên cớ ra thú bấy giờ, để đợi chỉ dụ, nhưng vẫn giam giữ để chờ xử án. Ngoài ra những tên phạm nào còn trốn cũng sức cho tổng lý trong hạt nã bắt giải nộp. Nếu ai dám chứa chấp giấu giếm, hễ phát giác ra, sẽ bị gia nặng thêm mà trị tội theo pháp luật.


    7. Các hạng binh lính nguyên lệ thuộc các tỉnh, hãy căn cứ vào số hiện tại, cho ở lại hàng ngũ như cũ để sai phái. Số ngạch có thiếu cũng không phải gọi lính và bổ sung vội, đợi sau này sẽ làm.


    8. Các người dân ứng nghĩa, ai là nội tịch thì cho về yên nghiệp làm ăn. Còn người không có tên trong sổ dân, thì chia lập đội ngũ, dồn lại thành cơ hạn định là mỗi cơ 10 đội, mỗi đội 50 người. Chẳng hạn như Gia Định, Vĩnh Long, Định Tường và An Giang, mỗi tỉnh đều 2 cơ ; Biên Hoà, Hà Tiên mỗi tỉnh đều 1 cơ. Nếu còn thiếu thì mộ thêm dân ngoại tịch để bổ sung cho đủ số ngạch, chi cấp tiền lương, theo tỉnh sai phái).


    Thảo nghịch Tả đạo Tham tán Nguyễn Xuân đánh phá bọn người Thanh, đồ đảng giặc, ở phố Sài Gòn.


    Giặc từ khi bị thua ở bãi Tập Trận tập hợp tất cả người Thanh ở phố Sài Gòn đặt đồn giữ chặt. Thuyền quân Nguyễn Xuân từ sông Cát Giang thẳng tiến đến cảng An Thông, đi đến chợ thôn Vĩnh Hội, giặc phục ở phố bờ bên tả, dùng súng lớn súng nhỏ bắn loạn xạ : quan quân không thể tiến lên được. Xuân liền sai thị vệ Tôn Thất Bật đốc suất quân vệ Hùng oai lên bờ phóng lửa đốt ; các quân trong thuyền chiến xông lên, chém hơn 250 đầu giặc. Giặc thua to, chạy vào trong phố, chẹn giữ chỗ hiểm để chống cự. Xuân cùng lũ Phạm Hữu Tâm lại đốc suất quân, dõng đánh phá một loạt, chém 60 đầu giặc, bắt được 700 đứa, lấy hết được thuyền mành, súng ống, khí giới. Tướng quân Tống Phước Lương và Tán tương Trương Phước Đĩnh được tin báo, mới đem tin thắng trận tâu lên. Và, nói : “Trong chuyến đi đánh ấy, từ Quản vệ trở xuống, hễ ai có công trạng đều đã tuân theo chỉ dụ, liệu lượng thưởng cấp cho rồi, và lần trước, lũ Trương Sùng Hi, Đỗ Văn Nghị bắt được thủ phạm trong bọn giặc là Nguyễn Văn Bột, cũng đã chiếu theo thưởng cách, cấp cho 500 lạng bạc rồi”.


    Vua dụ rằng : “Giặc Khôi đã thua, chạy vào trong thành. Sự chúng chống cự ở địa phận phố Sài Gòn, chẳng qua do một vài tên đồ đảng giặc tản lạc vào đấy, tụ họp người Thanh, để làm mưu chước giữ mình. Khi thấy quan quân đi qua đầu phố, không khỏi mang lòng ngờ vực sợ hãi, mưu toan chống cự, đến nỗi bị quan quân chém giết. Thế thì việc này không ví như những cuộc giao chiến được. Vậy thưởng cho Nguyễn Xuân quân công kỷ lục một thứ. Còn các quan quân đã được liệu lượng ban thưởng rồi, không phải thưởng nữa. Đến như người Thanh a tòng lũ giặc, [ta] đã sai nhiều lần truyền hịch hiểu dụ hoạ Phước để cho chúng biết đường mà vội lánh đi ; gần đây, lại dụ rõ thêm để chúng bảo nhau : nếu biết đầu hàng thì tha cho tội chết. Nay, sau khi giặc đã thua tàn, [bọn người Thanh] vẫn u mê không giác ngộ, còn họp đồ đảng, giữ chỗ hiểm, kéo đàn hàng nghìn hàng trăm, dám chống lại quan quân, thật rất đáng ghét. Đúng lý ra nên giết hết cả, song nghĩ lại chúng là bọn tòng đảng, số người lại nhiều, không nỡ giết hết cả. Vậy trong các tên phạm hiện bắt đã bắt được, nên trích lấy những tên đầu sỏ và hung hãn đem chém đầu đi cho pháp luật được sáng tỏ ; còn các tên khác đều chặt 4 ngón tay phải rồi chia ra đem an trí ở những chỗ rừng rú biên viễn, không cho để ở dân gian, hoặc giả lại sinh lắm chuyện ! Đối với tài sản của những tên phạm tội, cũng phải tra xét, niêm phong cho đích xác, rồi giao dân canh giữ, đợi sẽ xử án.


    “Vả lại, quân nhà vua đi đến đâu cốt để dẹp yên giặc giã, vỗ về nhân dân. Các Tướng quân và Tham tán nên lập tức cho ra hiểu thị khắp nơi : các người Thanh ở sở tại đều nên yên phận, tự có thể giữ được không liên luỵ tới mình, nếu còn hoài nghi, phiến loạn, khi nã bắt được, lập tức giết, không tha.


    “Và nghiêm sức cho các tướng biền, binh dõng : một khi bọn người Thanh kia đã thuận tình, yên lặng rồi, nếu ai dám tạ sự hống hách, quấy nhiễu lấy của, cũng sẽ chém ngay để rao trong quân”.


    Lại dụ rằng : “Về việc đánh giết người Thanh, nếu ngay từ lúc ban đầu, các Tướng quân và Tham tán trước đem lý lẽ sự việc hiểu dụ cho chúng biết rõ hoạ Phước, khiến chúng tự giải tán, trở về, thì quân ta đã không phải nhọc dùng giáo mác mà chúng cũng khỏi bị chết chóc, thì ổn thoả khéo léo biết chừng nào ! Đằng này không thế, lại để cho những biền binh háo sự, đi ngang đi tắt đến nỗi chúng sinh nghi hoặc tưởng sẽ bị giết cả, nên mới tập hợp đồ đảng, chống lại quan quân gây thành một trận tranh chiến ! Dẫu rằng [ta có] bắt chém được giặc, cũng có chút công, nhưng so vào lý thực là chưa hợp ! Và, về việc bắt giải thứ phạm Nguyễn Văn Bột như trong tờ tấu đã trình bày ra, sự tình dường như thế này : Bột, một mình lẩn trốn, rồi bị bắt, chứ không phải như kẻ đánh thua tại trận, đến nỗi sức cùng, chịu trói. Vậy mà lại vội chiểu theo cách thức mà thưởng cấp cho thì cũng là chưa đúng. Lại, trong quan quân có người bị thương chết, và có người bắt chém được giặc, trước đây đã chước lượng ban thưởng rồi. Còn từ Quản vệ trở xuống, họ có công trạng thì nên cứ thực tâu rõ đợi chỉ, mới phải, thế mà [các khanh] lại tự ý khen thưởng, vậy chẳng biết căn cứ vào cách thưởng nào, mà bảo là tuân theo chỉ dụ, như vậy phỏng có được không ? Những sự đó đều là hồ đồ, hỗn độn ! Nhưng việc đã rồi không nên xét kỹ nữa. Duy từ trước tới nay, trong quân thường dập theo cái sáo là nhiều kẻ mạo nhận công để cầu thưởng, do đấy làm cho tai vạ lan đến cả người vô tội. Lòng ta không nỡ làm như thế. Ôi ! quân đội thương dân đi đánh kẻ tội, cần nên tuyên bố tiếng nhân nghĩa, không xâm phạm của dân một mảy nào khiến cho quân nhà vua đi tới đâu, ai cũng sợ uy thế và mến ơn đức ngay như ở chỗ phương xa cõi lạ, cũng nên giữ đúng như thế cho hợp lý, huống chi tỉnh Gia Định là đất của bản triều, nhân dân thuộc hạt đều là con đỏ, nay tiến đánh nghịch tặc cốt để cứu dân khỏi vòng nước sôi lửa nóng, quyết không lẽ khoan thứ dung túng những hạng quan quân không tốt, trái phép, làm càn ! Từ nay về sau, phàm ai bắt chém được tên giặc nào, phải nên xét xem có thật quả là giặc thì mới chuẩn cho dự thưởng, nếu bắt bậy đến dân thường, thì chẳng những không được dự thưởng, mà lại theo luật, trị tội nặng không tha. Nếu Tướng quân và Tham tán còn chút tư vị giấu giếm, hễ xét ra được cũng phải chịu lỗi.


    “Vả lại, Trương Phước Đĩnh, bề tôi trong Nội các được giao cho chức Tán tương đối với mọi việc, phải nên nhận xét lý lẽ cho rõ ràng, trù tính cho thoả đáng, để các việc trong quân ; động làm là hợp với cơ nghi mới không phụ chức vụ của mình. Nếu cứ một niềm mơ hồ lộn lạo, hùa theo người mà khen chê, để đến chỗ việc làm có chỗ không hợp lẽ, thì tội ngươi lại lớn hơn ! Ta đã răn bảo cặn kẽ, đều phải nghiêm chỉnh tuân theo”.


    Thuyền quân của Bình khấu tướng quân Trần Văn Năng tiến đến cửa sông Thị Nghè((1) Hán văn là “Thị nghi giang khẩu” ( ). Trong Nam gọi là “Vàm Thị Nghè”.1). Giặc ở trên thành Phiên An bắn súng để cố giữ. Năng thân đốc suất biền binh thẳng đến xưởng thuyền và chỗ các kho đụn. Đồ đảng giặc canh phòng ở những nơi đó đều sợ bóng gió, chạy trốn cả. [Quan nhân] thu được các hạng thuyền hơn 70 chiếc, thóc độ 120.000 hộc, gạo 100 phương, tiền hơn 10.000 quan. [Năng] bèn thông báo cho Thảo nghịch Tả đạo tướng quân Tống Phước Long đặt đồn đóng quân ở ngoài thành : Bình khấu đạo thì đóng từ sông Bến Nghé đến cầu Cao Mên ; Thảo nghịch Tả đạo thì đóng từ cầu Quan đến bãi Tập Trận, liên lạc với Thảo nghịch Hữu đạo là lũ Nguyễn Văn Trọng tuỳ cơ đánh giặc.


    Sớ tâu lên, vua phê bảo rằng : “Bao nhiêu tiền và gạo đã thu được ấy để cung cấp lương ăn cho quân, đỡ phải chuyển vận vất vả. Xem tờ tâu, lòng ta rất được yên ủi”. Vua bèn dụ rằng : “Đại binh tiến sát đến dưới thành, không phải đánh nhau khó nhọc, mà thu được kho đụn, thuyền mành, tiền và thóc gạo nhiều đến như thế, chính là không đánh mà thắng. So với trận đánh ở mặt phố An Thông (bờ bên hữu sông An Thông là phố Sài Gòn, trước đây Tham tán Nguyễn Xuân đánh phá giặc ở đó. Đây gọi là “mặt phố An Thông”, tức là phố Sài Gòn) công này thực to gấp mấy, há nên cho rằng không chiến đấu không bị thương, mà vội vùi dập thành tích đi à ? Vậy thưởng Trần Văn Năng gia quân công 1 cấp ; từ Tán tương Trần Chấn đến Quản vệ và Suất đội, mỗi người đều được thưởng gia quân công, kỷ lục một thứ ; biền binh được thưởng chung 1.000 quan tiền. Nay đại binh 3 đường đều đã họp cả, chắc cái thành cô lập ấy, tình thế khó giữ mãi được. Vậy các Tướng quân và Tham tán phải nên thế nào, sớm liệu tìm cách đánh lấy thành trì, hoặc bắt hoặc chém nghịch Khôi, làm cho ra án. Rồi cờ đỏ báo tin thắng trận, để nhận phần thưởng to nhất”.


    Thảo nghịch Tả đạo Tướng quân Tống Phước Lương và Tham tán Trương Phước Đĩnh, tâu nói : “Quan quân đại đội các đạo hiện đã tề hội và đóng ở ngoài thành Gia Định. Các tấn thần, võ biền, ty lại, cử nhân, tú tài và các hạng quân dân nguyên ở Phiên An, phần nhiều kéo đến quân thứ, tình nguyện hưởng ứng, theo đi giết giặc. Vậy xin nên cấp cho lương tháng để tuỳ việc sai phái”.


    Vua dụ rằng : “Nay, ba đạo đại binh thuỷ bộ họp lại đông kín như mây, có tới hơn vài vạn người, giặc đã rút hết vào trong thành. Thật vậy, hiện nay thấy rằng ta có thừa sức để đánh dẹp. Số hương dõng hưởng ứng đi theo rất nhiều, mà lương thướng ở trong quân chuyển vận thực khó, há nên một loạt cấp cho tất cả ? Lại nữa, gần đây giặc nghịch nổi lên hung dữ, nhân dân hạt ấy mắc nạn chiến tranh đã lâu rồi, nay tình hình đã dần yên, nếu để họ theo cả đi đánh giặc, thì họ không khỏi bỏ mãi công việc làm ăn, ta rất không yên lòng. Vậy các Tướng quân và Tham tán nên xét xem ai là đầu mục, hết sức căm thù giặc hoặc có mưu chước gì khác hơn, tình nguyện ở lại phá thành giết giặc, thì chuẩn cho tự lo lấy lương ăn, lệ thuộc đi theo quân thứ. Còn thì đều cho tản về làm ruộng. Lại xét những người đầu mục, xướng suất ứng nghĩa từ trước tới giờ hoặc nguyên không có quan chức như viên tử Nguyễn Hoàng Nhiên và Nguyễn Hoàng Thoả, hoặc tuy có chức mà đã về hưu, không dự đến việc tỉnh thành thất thủ bấy giờ, một phen căm giận giặc, kích động vì việc nghĩa, bèn họp binh chúng giết quân thù, lại rõ ràng nhiều lần có công thực trong việc đánh dẹp. Vậy trước hết chọn lấy một hai người tâu lên, đợi chỉ, sẽ liệu cho quan chức, để khuyến khích. Còn các người khác đã có quan chức hoặc chỉ có công trạng tầm thường, thì đều đợi khi việc yên, làm thành danh sách phân biệt tâu lên”.


    Thổ phỉ Tuyên Quang Nông Văn Vân cho hơn 100 đồ đảng nó đặt đồn canh ở các xứ Du Lũng và Mật Lũng (thuộc châu Bảo Lạc, giáp địa phận Cao Bằng) để phòng bị.


    Thự Bố chính Bùi Tăng Huy và án sát Phạm Đình Trạc ở tỉnh Cao Bằng nghe tin báo, phái thêm biền binh phòng giữ, rồi tư đến bộ Binh để tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Hai lộ Tuyên Quang và Thái Nguyên, đã phái Tổng đốc đại viên thống lĩnh biền binh tiến đánh. Nghịch Vân thế tất dốc hết quân ra để chống cự. ở xứ Du Lũng và Mật Lũng tiếp giáp Cao Bằng chẳng qua là mấy tên giặc lẻ tẻ ở đấy để hư trương thanh thế. Vậy truyền dụ lũ Bùi Tăng Huy chuyển sức cho quan quân đã phái trước đó đến chỗ gần nhất, liệu vát lấy hai, ba trăm lính thổ, giả vờ bày ra tình trạng đi tiễu, rồi phao đồn lên rằng : sẽ do đường Bố Lĩnh, tiến đánh sào huyệt của giặc ; nhưng mật lệnh ra : chỉ đánh giết cho tan lũ giặc ở chỗ đồn canh tức thì rút về, rồi phòng giữ theo địa phận trong hạt, chớ nên đi sâu vào chỗ trọng địa. Nếu giặc lại trở lại đóng đồn thì lập tức dẫn quân tới đánh đuổi đi, rồi lại rút về, khiến chúng trông được chỗ kia hỏng mất chỗ này, sợ hãi không yên. Khi đại binh hai lộ Tuyên Quang, Thái Nguyên sấn đến đánh dẹp, có thể đánh một trận là bắt được lũ giặc ấy. Đó cũng là một cơ mưu biết liệu địch để nắm lấy phần thắng”.


    Vua lại cho rằng Cao Bằng là kiêm hạt của thự Tuần phủ Hoàng Văn Quyền, bèn ra lệnh cho bộ Binh từ nay về sau, hễ có sự việc quân cơ trọng yếu thì chuẩn giao cho Quyền duyệt kỹ rồi chuyển phát đi cho được nhanh và tiện.


    Thự Bố chính tỉnh Thái Nguyên Nguyễn Đôn Tố đóng quân ở đồn bảo Bắc Cạn được tin hơn 2.000 phỉ chiếm cứ đất Na Mèo, quân của bọn Phó quản cơ Đinh Quang Toản đã phái đi trước có ít, không địch nổi, bèn lui giữ đất Na Cù. Lại được tin hơn 1.000 giặc từ đồn Bằng Lũng kéo đến, sắp tới đồn sở, [Đôn Tố] tức thì dẫn quân về đóng ở đồn Chợ Mới, vừa gặp Lãnh binh Nguyễn Văn Cáo tiến đến, bèn uỷ cho tiến đi ngăn chặn đánh dẹp. Nguyên án sát Nguyễn Trọng Ngọc đem việc ấy tâu lên. (Na Mèo, Na Cù và Chợ Mới đều thuộc huyện Cảm Hoá, Bằng Lũng thuộc châu Bạch Thông).


    Vua dụ Binh bộ rằng : “Nguyễn Đôn Tố có trách nhiệm giữ bờ cõi, thân đem binh, dõng đến địa đầu ngăn giặc ; trước thì không biết điều khiển, những quân phái đi, phần nhiều linh tinh, chẳng thành đội ngũ, đến nỗi khi gặp giặc, khó mong được việc ! Sau thì vừa nghe tin hão đã vội dời binh, đóng lùi lại : thực là nhút nhát ! Vậy truyền Chỉ nghiêm quở. Tổng đốc Nguyễn Đình Phổ đã có chỉ truyền cho tiến đến đốc thúc đánh dẹp ; một khi đến tỉnh, phàm tất cả cơ nghi về việc đánh giặc đều do Nguyễn Đình Phổ điều khiển. Còn Nguyễn Đôn Tố thì chuẩn cho chuyên làm những việc tiền lương và quân nhu, cần phải làm cho được ổn thoả, nếu có một việc gì không được chu đáo thì khó tránh khỏi tội nặng”.


    Lũ giặc Tuyên Quang chiếm cứ địa hạt thôn Bình Lãng (thuộc huyện Thạch Lâm), tỉnh Cao Bằng. Tỉnh phái Cai đội Nguyễn Hữu Lãng đem quân ngăn chặn. Giặc dựa vào chỗ hiểm, bày quân chống cự. Lãng không đánh nổi, lui về Thổ Lĩnh. Thự Bố chính Bùi Tăng Huy, án sát Phạm Đình Trạc tức thì bàn nhau cử Lãnh binh Vũ Văn Lợi đi đánh, rồi thông báo cho thự Tuần phủ Lạng - Bình((1) Lạng Sơn và Cao Bằng.1) Hoàng Văn Quyền, chọn lấy những võ biền đã từng trải việc chiến trận để hợp sức đánh giặc. Văn Quyền bèn phái Lãnh binh Lạng Sơn là Phạm Văn Lưu đem 100 quân tiến lên, lại điều động thêm biền binh ở tỉnh Bắc Ninh đến đóng giữ Lạng Sơn rồi làm sớ tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Biền binh ở tỉnh Bắc Ninh hiện theo Nguyễn Đình Phổ đi Thái Nguyên đánh giặc, tỉnh Lạng Sơn cũng không có việc quan trọng khẩn cấp, cứ số quân hiện tại cũng đủ phòng giữ, bất tất phải điều động thêm nữa, nhưng nên chuyển sức cho tỉnh Cao Bằng cứ theo địa phận hạt mình phòng thủ ngăn chặn nghiêm ngặt thêm lên. Còn Nguyễn Hữu Lãng ươn nhát như thế, chuẩn cho cách chức nhưng được lưu lại đua sức làm việc để chuộc tội”.


    Thự án sát tỉnh Tuyên Quang là Lê Bỉnh Trung có tội, bị mất chức, cho Viên ngoại lang Nguyễn Hữu Gia làm án sát Tuyên Quang.


    Trước kia, đồn Ninh Biên thất thủ, Thành thủ uý Trương Phước Nguyên từ trong chỗ giặc thoát về, nói quan quân ở đồn nhiều người bị giặc giết hại, chỉ còn sáu, bảy mươi người bị giặc bắt nấu bếp. Đảng giặc gồm có người Thanh, người Thổ, người Nùng, người Man không kém hàng vạn tên. Nghe nói nghịch Vân chia phái đồ đảng nó là Ma Sĩ Huỳnh cùng Thổ tri châu Vị Xuyên là Ma Trọng Đại, Thổ tri châu Lục Yên là Lưu Trọng Trương, Tuyên uý sứ đã bị cách là Nguyễn Thế Nga, Thổ ti là Ma Doãn Cao, một toán đi từ Vị Xuyên, một toán đi từ Thu Châu, hẹn nhau đánh úp tỉnh thành, nghịch Vân thì từ châu Đại Man cùng với Nguyễn Quảng Khải đi tắt tới địa phận Thái Nguyên và Sơn Tây, đón chặn viện binh Sơn Tây. Trung tức thì phi báo cho Tổng đốc Lê Văn Đức phái nhiều biền binh tiến đến phòng giữ, rồi đem việc tâu lên và nói : “Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền và Trần Hữu án đã từ đồn Phước Nghi chuyển về xã Chàng Dương và xã Lang Quán, chia quân ngăn chặn. Trong các châu, các huyện thuộc tỉnh hiện đem thổ dõng đi tòng chinh, chỉ có huyện Hàm Yên và Thu Châu ở gần đấy, cùng với Mai Văn Đạo là cai thuộc châu Vị Xuyên, và Hà Duy Lan là thổ ti Đại Man vài người mà thôi !”. (Chàng Dương thuộc châu Vị Xuyên, Lang Quán thuộc huyện Hàm Yên).


    Vua dụ rằng : “Ngươi không biết đo đắn cơ nghi, gây nên vụ án lớn, ấy là lỗi ai? Nay không thi thố được một chước gì, lại tâu báo cuống quýt hoang mang : rất đáng bỉ ! Vậy lập tức cách chức, nhưng chuẩn cho làm việc đốc thúc chuyển vận lương thực, theo đi tòng chinh, gắng sức để chuộc tội. Đến như Trương Phước Nguyên là Thành thủ uý, được tòng chinh thế mà không biết tử tiết, đành chịu cho giặc bắt, lại chính miệng nói ra là quan quân nhiều người bị giặc giết hại, chỉ một mình mình nhân lúc sơ hở được về thoát. Cứ xét tình hình và lời lẽ thì dường như Phước Nguyên hàng giặc, huống chi lại phô trương thanh thế của giặc có quân hàng vạn hàng nghìn. Rất đáng ghét. Vậy, lập tức cũng cách chức tống giam, giao Lê Văn Đức tra xét cho nó thổ lộ thực tình rồi nghị định tội mà tâu lên”. Phước Nguyên, về sau xét ra là thông với giặc, phải tội chết chém.


    Vua nhân đó bảo thị thần rằng : “Ta cho loại nghịch Vân là loại giặc nhỏ, không ví như Lê Duy Lương. Giết gà sao lại dùng dao giết trâu, cho nên việc đánh dẹp, chỉ giao cho tỉnh thần. Không ngờ bọn Phạm Phổ và Lê Bỉnh Trung đều là lũ hèn, mờ mịt không bày ra được một chước gì, để đến như thế. Nguyễn Đôn Tố và Nguyễn Trọng Ngọc ở Thái Nguyên cũng là một loạt hèn kém cả”.


    Điều động vệ Tiền nhị quân Vũ lâm ở Kinh đi đóng giữ Hà Nội, Nhất vệ quân Thần sách ở Hà Tĩnh đi đóng giữ tỉnh Sơn Tây ; 400 vệ binh quân Thần sách tỉnh Nghệ An trước phái đi tỉnh Thái Nguyên, nay chuyển đi Tuyên Quang làm việc bắt
  • Chia sẻ trang này