0060.0074

6/1/16
0060.0074
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    giặc. Lại ra lệnh do tỉnh Ninh Bình chuyển vận hai cỗ súng quá sơn bằng đồng và thuốc đạn cho tỉnh Hà Nội chuyển giao đến quân thứ Tuyên Quang. Tỉnh Hà Nội lại trích lấy 10 chiếc thuyền ô, thuyền lê và thuyền sam bản phối hợp với thuỷ ngân và súng thần công, súng quá sơn mỗi thứ 30 cỗ, uỷ cho một viên quan cơ nhận lĩnh, đi theo Lê Văn Đức đánh giặc. Lại trích lấy voi chiến cho tỉnh Tuyên Quang 10 con, tỉnh Thái Nguyên 3 con.


    Ra lệnh cho các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Hải Dương, Bắc Ninh, Hưng Yên xét biền binh ở hạt đều vẫn để ở hàng ngũ, đến ngày 1 tháng 10 chia ban như lệ đã định.


    Thự Tuần phủ tỉnh Hưng Yên Trịnh Quang Khanh tâu nói : “Tỉnh hạt Hưng Yên, trước đây, vì nạn nước lụt, dân gian kiếm ăn khó khăn ; lũ phú hộ một khi nghe thấy lời dụ rõ ràng, nhiều người xin bỏ của nhà ra để chu cấp cho người nghèo thiếu, tính ra : tiền được hơn 2.000 quan, thóc được hơn 80 hộc”. Vua bảo bộ Hộ rằng : “Phát chẩn cứu tế do của công Nhà nước phát ra, người thừa hành còn sợ phép nước không dám xẻo xén làm hao hụt đi, đến như của riêng của dân thường bỏ ra, e có kẻ tâm địa không tốt, cho rằng dễ bề lừa gạt, bèn xoay xở chấm mút. Vậy truyền dụ cho Trịnh Quang Khanh : nghiêm sức các phủ, huyện và các lũ lại dịch, phàm tiền và thóc của nghĩa dân đã quyên, nên truyền họp những dân cùng túng trong xóm giềng mà chia cấp cho, chớ để lại một đồng tiền, một hột gạo nào ; khi phát chẩn, nên để cho các chủ lạc quyên được biết công việc ấy. Nếu ai lừa gạt chấm mút một mảy, hễ nghe có người tố cáo và phát giác ra, thì lập tức đem người phạm ấy nghiêm trị ; mà viên chức có trách nhiệm xem xét, lại không xét ra cũng tuỳ nhẹ nặng trị tội”.


    Lại theo lời bộ đã bàn, xét số quyên nhiều ít lựa tính nêu thưởng, để khuyến khích cho dân biết làm điều nghĩa. (Số quyên nhiều nhất chỉ có một người, cấp cho một bộ mũ áo cửu phẩm, tha thuế thân và sưu dịch mãi mãi. Hai người phụ nữ đều được cấp biển đề 4 chữ lớn “Lạc quyên nghĩa phụ” ((1) Lạc quyên nghĩa phụ : người đàn bà trọng nghĩa, vui lòng quyên giúp.1) ; lại cho 1 con hoặc cháu của mỗi người được tha thuế thân và sưu dịch mãi mãi. Còn 18 người khác được cho miễn dao dịch và ban cho áo mặc có thứ bậc).










    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển civ



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 8.


    Thảo nghịch Hữu đạo Tướng quân Nguyễn Văn Trọng, Tham tán Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận đóng quân ở phía bắc cầu Cao Mên. Bọn giặc độ hơn 1.000 tên, chia làm hai đạo : một đạo tới ẩn nấp ở phía nam cầu ; một đạo đến luỹ Hoa Phong đánh úp đạo quân của Lê Sách và Nguyễn Văn Đoài. Vừa gặp Lê Đại Cương, nguyên Tổng đốc An - Hà, đem quân và voi đến bãi Tập Trận, tiến lại tiếp ứng : giặc hơi lùi. Bỗng có một toán quân từ trong rừng rậm tây quách đổ ra, giao chiến với quân ta vài hiệp, thì hương binh ứng nghĩa lui trước, biền binh ngăn cản không được, cũng lui. Hoàng Đăng Thận liền thân đốc Đoàn Dũ và Thái Công Triều đem quân tiếp chiến, chém được hơn 20 đầu giặc, giặc mới tan vỡ. Quân ta bèn từ cầu Cao Mên đến bãi Tập Trận, chia đặt đồn đóng. Nguỵ Đô quản lĩnh Trần Văn Nghĩa đem hơn 50 đồ đảng đến chỗ quân ta để thú và hàng phục. Hơn 200 người Thanh cũng tự trói tay về sau lưng, đến xin đầu hàng. Lũ Nguyễn Văn Trọng bèn tổ chức bè lũ Trần Văn Nghĩa lại làm đội Tự tân thứ 5 ; thả hết cho người Thanh trở về làm ăn. Rồi đem việc ấy tâu lên, và nói : “Đã phái người lẻn đến kho đụn ở ngoại thành, lấy tiền, gạo, muối, sắt để chi dùng. Lại sai người đi đường tắt, đến chỗ đoàn thuyền của đạo Bình khấu, hẹn ngày cùng đánh phá giặc, để kịp cơ hội. Duy bây giờ là lúc đương đánh nhau, phàm tiền lương, súng ống và thuốc đạn đều lần lượt do tỉnh Biên Hoà tiếp tế và thuỷ quân vận tải đến, chưa dám chắc hẳn là mười phần đủ dùng cả”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Từ khi Nguyễn Văn Trọng và Hoàng Đăng Thận tới quân thứ đến giờ, chưa thấy báo tin thắng trận ! Vừa rồi, đã không khéo điều khiển tập hợp nhiều quân để giết giặc, lại phái quân đội lẻ tẻ đi ra một cách khinh suất, để đến nỗi Nguyễn Văn Tần và Trương Văn Phượng chết trận, lại mất một cỗ súng đại luân xa, nay lại có chuyện gặp giặc, quan quân phải lùi. Đó thật đáng giận !


    “Trước đây, Phan Văn Thuý khi còn sống coi việc binh, quân ta xa từ vài nghìn dặm kéo đến, thế lực giặc bấy giờ đương mạnh, thế mà còn dám mạo hiểm, tiến thẳng lên trước, thu được thắng lợi lớn ; nay giặc, sau khi bị toả chiết thất bại, đại binh đã tiến sát đến dưới thành, quân thuỷ quân bộ đều họp lại, nhân dân hướng theo, thanh thế to lớn biết chừng nào. Vậy mà lại có sự bị đẩy lùi như thế, thì lỗi không có tài năng của lũ các ngươi, dẫu trăm miệng cũng không chối cãi được ! Nguyễn Văn Trọng, Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận đều giáng hai cấp. Những viên chuyên coi đạo ấy là Lê Sách và Nguyễn Văn Đoài đều giáng 4 cấp, không chuẩn cho xét lại nữa.


    “Và, lời nói trong tập tấu có nhiều việc xử trí không thoả đáng, chẳng hạn như việc đối với bọn giặc vừa mới đầu hàng kia : chúng đều là con đỏ triều đình, cam tâm theo giặc, hoặc vì khi quan quân đến tỉnh Biên Hoà, sức chúng không thể địch được, hoặc vì khi quan quân đã tới dưới thành, thế chúng sắp nguy, mới chịu bó giáo lại hàng để cầu khỏi chết, chứ không phải ví như hạng người thật lòng quy thuận. Thế mà [các khanh] không phân biệt quản thúc, trở cho chúng quần tụ một chỗ. Thật thấy rất không hợp nghi.


    “Lại, trước đây, bọn giặc lui hết vào thành, tiền lương ở kho đụn ngoài thành đã vất bỏ cả đấy, thì lấy dùng có khó gì, thế mà lại nói là phái người lén đi chuyển vận !


    “Lại, quan quân đường thuỷ đường bộ đều tập hợp ở dưới thành, bốn bên đã không có đảng giặc, thì tin tức đi lại đưa thẳng tới nơi còn có khó gì, sao lại nói rằng “lẻn đi đường tắt” ? Những lời nói như thế rõ ràng là mang lòng nhút nhát ;


    “Lại như ở trong quân, tiền lương thì kho tàng lấy được có thể để chi dùng, thuốc đạn, súng ống và khí giới thì thuỷ quân chuyên chở, có thể tự đi mà lấy, chắc lúc nào cũng thừa thãi, sao lại còn nói “chưa dám chắc hẳn là mười phần đủ dùng”? [Như vậy] há chẳng phải là có cầm cự lâu ngày, nên mới tính sẵn cái bước kéo dài, làm cho người ta không sao hiểu được ! Nay ta không thể không hiểu dụ rõ ràng.


    “Hiện nay số người Thanh đầu hàng đã nhiều ; chúng đã biết quay đầu lại, thì nên tha tội chết cho, rồi chia tản đi các xã : mỗi xã dăm ba người, quản thúc nghiêm ngặt, nếu chúng manh tâm làm bậy, thì cho dân xã ấy giết chết ngay, chớ để gây thêm việc ra. Còn những đội Tự tân, trót đã sắp xếp rồi, tức thì phái giao cho Bình khấu Tướng quân và Thảo nghịch Tướng quân chia ghép vào các đoàn thuyền mỗi thuyền dăm ba tên cho quan quân xen vào để quản thúc. Nếu có tên nào mang lòng phản trắc, cũng chuẩn cho trị tội ngay, không dùng dằng.


    “Và, quân dân hương dõng ứng nghĩa, khí giới không tinh nhuệ bằng của quan quân, khi ra trận không khỏi nhút nhát sợ hãi. Cho nên trước đây ta đã xuống dụ : liệu tính cho về để họ được yên nghiệp làm ăn. Trong những hương binh đi theo đại binh cùng lũ Thái Công Triều và Lê Đại Cương, phàm những người vẫn lệ thuộc mà không dùng làm việc gì kia trước hết hẵng cho về làm ruộng, rồi lựa lấy vài nghìn người tinh nhuệ, mỗi khi đi trận sai làm hậu ứng cho quan quân, khỏi đến nỗi gặp giặc nhát sợ, làm kinh hãi tai mắt người ta”.


    Nguỵ Lễ bộ Thái khanh là Đinh Phiên, ra thú ở quân thứ Thảo nghịch hữu đạo. Mọi người đều nói : “Lúc nghịch Khôi mới nổi loạn, Phiên thường phô trương thanh thế giặc, dụ dỗ mọi người đi theo giặc”. Lũ Nguyễn Văn Trọng liền xiềng Phiên lại, tống giam, rồi tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Đinh Phiên nguyên có quan chức, mất lương tâm, đi theo giặc, thực không bằng chó, lợn, nên lập tức áp giải vào Kinh, để đem hết pháp luật trừng trị”. Phiên đi đến tỉnh Quảng Ngãi chết. Vua ra lệnh cho tỉnh thần phanh thây Đinh Phiên, bêu đầu ở Gia Định và Nghệ An mỗi tỉnh 3 ngày, rồi ném xuống sông.


    Vua dụ Binh bộ rằng : “Gần đây, do quân thuỷ quân bộ các đạo đại binh ở Nam Kỳ đánh dẹp giặc luôn bị thua tan vỡ, có nhiều kẻ tản đi trốn tránh, bị nhân dân bắt được giải nộp. Vả, lũ ấy trước đã cam tâm theo giặc cướp bóc dân lành, kịp khi đại binh tới nơi, lại không biết hối tội, đầu hàng ngay, thì chúng là lũ về bè với giặc, quyết khó xử tội nhẹ được. Vậy truyền dụ cho các Tướng quân, Tham tán : phàm lũ giặc trước sau bị nhân dân bắt giải, đều cho giết đi, chớ nên giam trong quân để phải canh giữ thêm cho nhọc.


    “Lại nên chiếu theo cách thức ban thưởng : ai bắt sống được một tên phạm, thưởng bạc 3 lạng, nếu bắt được kẻ đầu mục giặc, cũng tuỳ theo lớn hay nhỏ mà liệu ban thưởng. Vả lại, trừ diệt kẻ bạo ngược, là cốt để yên dân lành, nếu không trừng trị nghiêm ngặt thì không được, nhưng còn nghĩ : hoặc giả có kẻ hám lợi, mưu toan lấy thưởng bắt bậy tới dân thường. Vậy cũng nên cẩn thận xét kỹ hơn, nếu kẻ bị bắt quả là giặc thực, mới có thể trị tội, rồi theo lệ thưởng [cho người đã bắt]. Nếu người nào cầu công mà bắt càn người không tội, thì phải đem kẻ bắt giải [càn bậy] ấy trị tội nặng ngay”.


    Nguyên Bố chính tỉnh An Giang Nguyễn Văn Bỉnh đến quân thứ Thảo nghịch hữu đạo, nói : “Từ khi tỉnh thành thất thủ, bị người Phiên ở phủ Chân Niêm bắt đưa cho giặc, được Thái Công Triều mật dặn mưu toan lấy lại tỉnh thành, bèn nhân lúc sơ hở trốn ẩn ở dân gian ; nay nghe đại binh tiến đến, thành khẩn thiết tha xin lệ thuộc theo đi, đua sức làm việc để chuộc tội”. Lũ Nguyễn Văn Trọng vì Bỉnh đề đạt ý ấy lên vua.


    Vua nói rằng : “Bỉnh đã không hay cố chết giữ lấy thành trì, lại mưu toan tự thoát thân, khép vào trách nhiệm giữ bờ cõi, thì từ chối tội thế nào được ? Nay đã ló đầu ra, đến chịu tội. Vậy tức thì cách chức, nhưng cho theo đi đánh giặc để đua sức, chuộc tội”.


    Đình thần tâu lên bản án bàn xử những thân thuộc phải tội lây vì tên đầu sỏ giặc là Lê Văn Khôi và vì bè đảng giặc là Đặng Vĩnh Ưng, Đinh Phiên, Lưu Tín,….


    Vua dụ rằng : “Nghịch Khôi giữ thành làm loạn, tội ác lụt trời. Lũ Đặng Vĩnh Ưng đều có quan chức, lại mất hết lương tâm, đi làm vây cánh cho giặc, xưng bậy chức tước, chống cự quan quân, tội thực nặng lắm ! Nay đại binh tiến đánh, có thể hẹn ngày bắt lũ nghịch tặc để làm lễ dâng tù binh, thân thuộc chúng đã trước phải chụm đầu chịu chém. Đủ biết lẽ trời rõ rệt, những lũ phản nghịch cuối cùng tất khó lọt lưới phép luật”.


    Vậy, truyền chỉ cho Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc ở tỉnh Cao Bằng tức thì sai dân sở tại chỉ chỗ phần mộ cha ông tứ đại nhà Lê Văn Khôi, đào lên lấy thi hài đốt rồi đổ đi, để làm gương răn loạn thần, tặc tử nghìn đời. Vậy em và cháu của Lê Văn Khôi, con của Đặng Vĩnh Ưng, của Đinh Phiên và của Lưu Tín tất cả cộng 14 tên phạm, hiện giam ở các tỉnh đều trảm quyết ((1) Trảm quyết : chém ngay, không cần xét xử.1). Rồi phái hai viên khoa, đạo : một viên đến tỉnh Quảng Nam, một viên đến tỉnh Nghệ An và Lạng Sơn, đều cho biền binh phái áp giải các phạm nhân đến chợ, chính mắt viên ấy cùng Tổng đốc và Tuần phủ trông coi hành hình. Con cả Đinh Phiên là Đinh Văn Trác bị truy đoạt bằng sắc, đục bỏ họ tên trên bia tiến sĩ. Cha Đặng Vĩnh Ưng là Đặng Văn Tuân phải đưa đến quân thứ Gia Định, sai chiêu dụ Ưng ra hàng. Nếu Ưng không chịu ra hàng thì chém đầu Tuân đi (Cha Khôi là Bế Văn Kiện vì phản loạn đã bị người chém giết, quăng xác đi ; duy mộ ông nội của Khôi, là Bế Văn Sĩ, cứ theo dân chỉ, đào đổ đi).


    Suất đội vệ Cẩm y là Nguyễn Văn Nghị từ Nam Kỳ về. Vua hỏi tình hình quân và dân. Văn Nghị tâu nói : “Quan quân tới đâu, dân tình vui vẻ, cũng có người nhỏ nước mắt khóc, kể rằng vì bị giặc tàn phá, của cải không còn sót lại tí gì !”. Vua nói: “Hạt ấy người đông của lắm, phong tục xa hoa, vụt chốc phải đến như thế, thực đáng than xiết !”.


    Văn Nghị lại tâu nói : “Nghe nói trước đây những người Thanh theo giặc, đi đến đâu rông rỡ tàn ngược, hiếp dâm vợ con người, giết cha anh người ; trăm họ rất khổ sở !”.


    Vua nói rằng : “Nếu đúng như lời ngươi nói, thì người Thanh kia hung ác quá lắm, sao lũ Nguyễn Văn Trọng lại nhận cho chúng đầu hàng ? Khi tâu lên không từng nói đến việc ấy ? Vả, chúng vẫn quen tính dữ tợn, nếu nhất khái rộng tha, thì chính là trút cái mình không yêu cho người mình yêu, còn lấy gì để yên ủi lòng dân ta được ?


    “Vậy, dụ truyền lũ Nguyễn Văn Trọng : nếu những sự việc đã nghe đó là hư hão cả thì thôi ; nếu có, thì chuẩn cho lập tức đem lũ mới đầu hàng ấy chặt 4 ngón tay bên phải, chia phát đi an trí ở nơi biên viễn, còn tài sản của chúng cũng kiểm tra, niêm phong lại, để đợi xử án, chớ nên nhù nhờ nuôi kẻ gian ác để hại cho dân đen”.


    Vua lại hỏi : “Trong đám biền binh các tỉnh đi tòng chinh, ai là anh dũng ?” Văn Nghị thưa rằng : “Hai vệ Phấn oai và Định dũng là trội hơn”. Lại hỏi : “hương dũng thế nào ?”. Thưa rằng : “Trong bọn Hương dũng phần nhiều là viên tử ứng nghĩa, mỗi khi đi trận, họ cảm khích hăng hái, dẫu chết cũng không đoái tiếc đến thân mình”. Vua khen ngợi họ.


    Lũ Nguyễn Văn Trọng, sau đó xét ra trong lũ người Thanh mới đầu hàng, có 4 tên phạm theo giặc, chống lại quan quân, bèn ra lệnh tức thì chém đầu đem bêu ; có 15 tên phạm bị giặc cưỡng ép phải theo, thì mỗi tên đều bị chặt ngón tay, đem đi an trí. Còn các người khác, xét ra không theo giặc, thì tuân tờ dụ trước, giao về dân quản thúc.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : Gia Định, gần đây, vì nghịch Khôi nổi loạn, lan tới 5 tỉnh, nhân dân sợ hãi rung động, không được ở yên, thậm chí cày cấy lỡ thời, đồng ruộng bỏ hoang, tình hình dường ấy, thực rất đau xót ! Nay quan quân tiến sát đến dưới thành, có thể hẹn ngày dẹp yên nghịch tặc. Vậy việc vỗ về yên dân, chính là việc quan trọng khẩn yếu. Vậy, truyền dụ cho bọn Đốc, Phủ, Bố, án các tỉnh Gia Định, Biên Hoà, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên đều nên gia tâm chiêu dụ vỗ về dân chúng : đối với những người buôn bán quanh phố sợ hãi tản đi, thì họp lại cho yên ; đối với tiểu dân ở chỗ xóm làng xiêu bạt, thì gọi về cho yên ở, cốt sao cho chợ không đổi cửa hàng, người đều ở yên. Còn ruộng nương có chỗ bỏ hoang, nên kịp thời khuyến khích cày cấy. Phàm ruộng nào nên cấy thì bảo cấy thêm. Đến như khoai, đậu, rau và lúa mạch, có thể ăn cho khỏi đói thì bảo dân trồng, khiến cho đất không có chỗ bỏ không, dân có chỗ nhờ sống, thì sau khi việc yên, có thể mong lại đủ trọn vẹn được. Đấy là một nỗi khổ tâm của ta lo lắng cho dân, chưa từng lúc nào nằm được yên gối.


    “Các ngươi đều là chức quan to giữ việc chăn dân, cần nên chính mình làm việc, hết sức thừa hành, chớ coi lời ta là văn suông”.


    Ra lệnh cho thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ mang theo Lãnh binh Hải Dương là Đồng Bá Huyên và dăm ba trăm biền binh được việc mau đến Tuyên Quang, hội đồng với Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên là Lê Văn Đức đánh giặc. Còn ấn quan phòng Tổng đốc Hải - Yên giao cho Bố chính Trần Văn Tuân quyền giữ.


    Vua dụ rằng : “Nghịch phạm ở Tuyên Quang Nông Văn Vân chẳng qua là hạng tiểu yêu, tự đặt mình ra ngoài vòng sinh thành, chỉ vì quan địa phương không khéo xử trí, điều khiển lỡ làng, đến nỗi gây nên to chuyện ! Đã có chỉ dụ cho Tổng đốc Lê Văn Đức tiến đến đánh dẹp. Hiện nay các quan quân được điều động đi đánh chắc đã tập hợp đông rồi. Lại nghĩ : chỗ ấy đường sá, nhiều ngả, tất phải phái thêm đại binh mới có thể sớm xong việc được.


    “Ngươi nên ra đi, cùng với Lê Văn Đức đem quân các đạo nhất tề tiến lên, sớm bắt sống lấy tên giặc đầu sỏ Nông Văn Vân và bè đảng nó đem chém sạch đi, để phép nước được tỏ sáng”.


    Đồ đảng giặc Tuyên Quang đánh huyện Hàm Yên. Thí sai Thổ tri huyện là Nguyễn Văn Biểu, sức không địch được, lui đến đồn Cường Nỗ, gần giáp tỉnh thành.


    Nguyên thự án sát Lê Bỉnh Trung lại do thám biết lũ giặc hẹn nhau một toán đến địa đầu phủ Đoan Hùng, chẹn đường viện binh Sơn Tây ; một toán liên hợp với tên cừ khôi giặc ở Thái Nguyên là Nguyễn Đinh Liêm (con tên giặc bị chém Nguyễn Đình Cúc) từ châu Đại Man đi đường đến phía trước tỉnh thành ; một toán từ đồn Ninh Biên theo sông Tiểu Miện đến thẳng phía sau tỉnh thành. Trung bèn gửi thư hoả tốc cáo cấp với tỉnh Sơn Tây.


    Tổng đốc Lê Văn Đức tức thì phái thêm lính và voi đến tiếp ứng. Và phi tư cho Hà Nội và Nam Định mỗi tỉnh đều phái 500 biền binh kíp đến chặn đường, bắt giặc. Rồi làm sớ tâu lên.


    Vua phê bảo rằng : “Việc gì lại hoang mang cuống quýt lên thế ! Nếu giặc tự đến thì không phiền cho ta phải đi, chính là một cơ hội tốt, chứ có sợ gì. Đã uỷ cho ngươi và Nguyễn Công Trứ thống lĩnh quân sĩ đi đánh, [các ngươi] nên đốc sức quan quân đánh thật mạnh thật dữ hơn lên, giặc tất sợ tan, tức thì gắng sức đuổi đến cùng, đánh phá sào huyệt của nó, bắt chém được nghịch Vân, tất có hậu thưởng, ngươi phải cố gắng hơn nữa”.


    Lãnh binh Thái Nguyên Nguyễn Văn Cáo tiến đóng đồn Bắc Cạn, giao cho biền binh chặn giữ đồn Tượng Đầu. Bỗng có hơn 3.000 giặc từ Na Cù chia đồ đảng kéo đến. Một cánh đánh đồn Tượng Đầu, một cánh đánh đồn Bắc Cạn. Nguyễn Văn Cáo rút vào đồn để chống giữ, chỉ có 40 biền binh, Cáo trúng đạn, bị chết, quân đều tan vỡ.


    Giặc bèn tập hợp đồ đảng đánh phá đồn Tượng Đầu. Suất đội cơ Hữu thắng là Nguyễn Đình Nhu bị chết trận. Phó quản cơ cơ Thái hùng là Đinh Quang Toản, Cai đội là Đinh Quang Tiến đều bị giặc bắt. Tên đầu sỏ giặc là Nông Văn Sĩ dụ hàng, Toản không chịu, bị giặc giết. Tiến sợ, bèn theo giặc (chịu chức Hùng thuận lữ).


    Thự Bố chính Nguyễn Đôn Tố cùng Lãnh binh tỉnh Bắc Ninh là Trần Văn Duy ở đồn Chợ Mới được tin, liền đốc suất quân và voi đến cứu. Vừa đến xã Tòng Hoá (thuộc châu Bạch Thông) bị giặc giữ chỗ hiểm, nấp bắn, quân [của bọn Duy] không tiến lên được, phải rút về. Nguyên án sát là Nguyễn Trọng Ngọc căn cứ vào tin đã báo, đem tâu lên.


    Vua dụ Nội các rằng : “Thổ phỉ Nông Văn Vân nguyên gây sự ở Tuyên Quang còn lan tràn xuống tỉnh Thái Nguyên, chẳng qua là dư đảng của nó, lũ Nông Văn Sĩ thôi, phỏng có khí lực gì ! Chỉ vì Nguyễn Đôn Tố nhút nhát, vô tài, dừng quân, không tiến, mà quân lính phái đi đều là từng đám lẻ tẻ, nên mới đến nỗi hỏng việc !


    “Về phần Nguyễn Đình Phổ, đã có chỉ dụ bảo phải xem xét cơ nghi đánh dẹp, chuẩn cho tức thì đốc thúc quân, dõng tiến lên sớm bắt chém cho hết các bọn giặc ở đồn Bắc Cạn và đồn Tượng Đầu để cho địa phương được yên tĩnh.


    “Và, Nguyễn Văn Cáo cũng là một chức Lãnh binh hàng tỉnh, sao lúc vào đồn lại chỉ mang theo có 40 người ? Thật không ra sự thể gì cả ! Vậy nên nhân tiện xét hỏi duyên cớ hỏng việc, nếu vì Nguyễn Đôn Tố điều khiển không đúng, ít không địch nổi nhiều, tức thì cứ thực tham hặc tâu lên.


    “Ngự sử Nguyễn Du ((1) Nguyễn Du ( ) này, từ chữ tên đến thế hệ đều khác với Nguyễn Du ( ), tác giả Truyện Kiều.1) đã có chỉ cho thăng bổ án sát Thái Nguyên. Vậy, khá giục ngay [Nguyễn Du] lập tức từ tỉnh Hưng Yên đi gấp đến để cung chức.


    “Nguyễn Trọng Ngọc đã bị giáng điệu ((2) Giáng điệu : bị giáng chức và điều động làm việc khác.2) không cho kí tên vào tờ tâu nữa rồi buộc phải ra sức để làm việc chuyển vận quân lương cần phải tiếp tế đều đều, nếu một khi có điều không được chu đáo, thì chuẩn cho Nguyễn Đình Phổ chém đầu, sao cho quần chúng biết, để răn những kẻ đớn kém”.


    Rồi, Phổ tâu lên cho rằng : “Bọn giặc tiến đến xâm lấn, hai đồn thất thủ, đều do Nguyễn Đôn Tố lui quân”. Vua bèn giáng Tố xuống 4 cấp.


    Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Lê Văn Đức tâu nói : “Chỗ đê vỡ ở làng Bồ Sao và làng Định Hương thuộc huyện Bạch Hạc đã vát 2.000 dân phu đắp lấp, công việc có khó nhọc”. Vua ra lệnh cấp cho 500 quan tiền.


    Vua dụ bộ Hộ rằng : “Các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Nam Định, Hưng Yên và Ninh Bình, trước đây hoặc là bị thuỷ tai hoặc bị nước lụt tràn tới, lúa ruộng không khỏi tổn hại, phải nên cứu giúp cho họ.


    “Vậy, ra lệnh cho các Đốc, Phủ, Bố, án, tức thì xét các dân trong hạt mình, phàm những hộ bậc trung mỗi hộ đều cho vay 1 quan tiền để giúp việc sinh sống, hạn đến mùa hạ sang năm, đem nộp trả nhà nước. Còn các hộ giàu, những dân cùng khốn trước đã được chẩn cấp, và thổ dân ba huyện tỉnh Ninh Bình đều không được dự”.


    Vua lại cho rằng : “Gần đây, các dân trong hạt Bắc Kỳ, gạo kém, các thức ăn vì thế càng thêm đắt đỏ. Vậy gia ơn cho từ tỉnh Hà Tĩnh trở ra Bắc, phàm các biền binh tại ngũ, hiện đã thành cơ, vệ rồi, chuẩn cho bắt đầu từ mồng 1 tháng 9, không kể là giản binh hay mộ binh, mỗi người đều cấp đủ tiền lương 1 quan đến mùa xuân sang năm, lại sẽ theo y lệ cũ”.


    Vua sớm hôm lo sợ vì nạn thuỷ tai ở Bắc Kỳ, nhân đó tự làm một bài thơ để ghi việc ấy ; rồi ra lệnh cho Hữu ty khắc in, cấp cho các đình thần và các Tổng đốc, Tuần phủ từ tỉnh Ninh Bình trở ra Bắc mỗi người một bản.


    Tỉnh Phú Yên, gạo kém. Vua ra lệnh cho tỉnh thần đem thóc kho, chiếu theo số dân trong sổ hộ tịch, mà bán và cho vay.


    Cho : Phó lãnh binh tỉnh Bình Định là Nguyễn Thọ Tuấn bổ làm Phó lãnh binh tỉnh Hải Dương ; Quản cơ cơ Tả thuỷ tỉnh Hải Dương là Nguyễn Văn Tôn thăng Phó vệ uý, Tòng tam phẩm, sung Phó lãnh binh tỉnh Bình Định.


    Cho Phó vệ uý ở Hậu bảo Nhất vệ là Nguyễn Trọng Tính thăng thự Phó vệ uý ở Long võ Trung vệ.


    Bố chính tỉnh Hải Dương Trần Văn Tuân dâng tập tấu hỏi thăm sức khoẻ nhà vua và điều trần việc chính trị :


    “1 - Bọn giặc ở các tỉnh Bắc Kỳ, thường làm lo cho dân, mà quân lính trong tỉnh đều là những người bản thổ, một khi sai phái làm việc bắt giặc, đến đánh ở địa hạt mình, họ không khỏi có tình nể nang, nên khó được việc. Vậy xin chiêu mộ những người ngoại tịch khoẻ mạnh, dồn làm cơ binh đi bắt giặc và cho đi tuần tiễu bắt giặc. Còn giản binh thì đổi quán chỉ, liệu lượng bổ mỗi huyện lỵ 100 người, để phòng bị bắt và trị giặc cướp. Thế thì tỉnh có binh thêm, huyện có lính phu, giặc cướp chắc khó lẻn lút nổi lên được.


    “2 - Từ trước tới nay, những nơi xảy ra việc cướp, Tổng lý các làng tiếp giáp hoặc giả vờ làm không nghe thấy, hoặc câu nệ là ở địa giới khác, không chịu hợp sức để đánh và bắt. Vì thế nên lũ kẻ cướp lui tới tự do, không hề phải bận lòng gì cả! Vậy xin từ nay về sau, phàm chỗ nào có cướp thì nơi lân cận tiếp giáp, tức thì một mặt báo quan, một mặt chung sức đuổi bắt tới cùng. Nếu không thì phải bồi thường những của đã bị mất cướp. Và bắt được tội phạm rồi tất đợi giải xét, nhưng để lâu ngày lần lữa, đến nỗi có khi phạm nhân trốn thoát, lại làm cho người bắt được phải chịu tội vạ, cho nên dân gian thường bảo nhau rằng : “Gươm triều đình còn xa, gươm kẻ cướp rất gần”. Chính vì cớ sợ nó thù, nó giết, nên không dám đuổi và không dám tố cáo. Vậy xin chuẩn cho các Tổng đốc, Tuần phủ, phàm có địa phương nào báo đã bắt được kẻ phạm và tang vật, tình trạng rõ ràng đích xác, thì lập tức cho trị tội ngay tại chỗ, chém trước, tâu sau : kẻ cướp sẽ biết răn sợ, người bắt cướp khỏi lo thù hằn thì sau này không ai không hết sức đuổi bắt cướp, lũ cướp sẽ dần dần phải im hơi hẳn.


    “3 - Nhân dân cùng khổ, phần nhiều vì phải nuôi lính : có một người lính mà mỗi tháng tiền cấp nuôi từ 4, 5 quan đến 7, 8 quan, ruộng làm lương tính từ 5, 6 mẫu đến hơn 10 mẫu. Vậy, xin châm chước sửa định : nếu xã thôn nào có ruộng công thì 1 người lính được cấp ruộng làm lương 5 mẫu ; không có ruộng thì mỗi tháng được cấp tiền phụ dưỡng 1 quan. Và cho [xã thôn ấy] chiêu mộ lấy ba người lậu đinh xếp làm lệ phu ((1) Lệ phu : hạng người tạo lệ chuyên phục dịch những việc công sai.1) đặt riêng vào hạng biệt tính. Như vậy lính cũng có chỗ nhờ mà dân cũng đỡ phiền nhiễu.


    “4 - Giản binh sở dĩ sợ chiến đấu, là vì cớ điền rồi lại trốn, không am hiểu việc quân. Mà trong các Quản cơ và Suất đội, người mạnh dạn có ít, người già yếu lại nhiều, một khi ra trận, khó mong xuất sắc được. Vậy xin : đối với quân lính ở hàng ngũ, trốn đến 2 lần, và khi đi đánh dẹp trốn 1 lần, đều sẽ bị xử theo quân luật. Xét các Quản cơ, Suất đội, hễ người nào già yếu và quân lính vẫn không phục, thì làm danh sách tâu lên, để đợi chỉ. Rồi bọn người mạnh dạn có võ lược, để thay. Như vậy việc binh mới có thể chấn chỉnh được.


    “5 - Ra lệnh cho mở rộng việc đúc tiền. Xin mỗi tỉnh mở 2 lò đúc tiền, dân trong hạt ai có đồng và kẽm cho đem tới trường sở để đúc, nhà nước đánh thuế một phần mười (1/10), đường lối làm lợi, tưởng không gì cấp thiết bằng điều ấy”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Ta xét những điều Tuân đã trình bày, chỉ có một việc gạn lọc các võ quan và binh biền là có thể lượm dùng được, còn các điều khác đều là ý kiến thiên lệch một chiều cả. Tức như : Xin mộ người ngoại tịch, chung quy chỉ thêm phiền nhiễu ; và bàn việc lấy lính, không bàn đến lương lính, lại là lạo thảo sơ lược. Lại như : sự chủ bị cướp, lại xin quy cho tổng lý làng bên phải đền thì rồi sẽ có nhiều, chuyện báo bậy và vu phản, há chẳng lại thêm ra một mối tệ nữa ư ? Về việc địa phương bắt được cướp, xin cho Tổng đốc, Tuần phủ được lập tức chém ngay, thì sinh sát là việc lớn, há lại nên để hấp tấp lạo thảo sơ suất được à ? Và về
  • Chia sẻ trang này