0060.0075

12/1/16
0060.0075
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    những việc nghị định thể lệ phụ dưỡng binh lính và lính trốn 2 lần bị xử theo quân luật đều là trở ngại khó làm.


    “Đến như việc xin cho dân đưa đồng và kẽm đến trường đúc để đúc tiền, lại là chính sách thấp kém. Vì tiền của là vật để nhà nước nắm quyền trong nước, há có thể để lọt xuống kẻ dưới được ? Nếu cho đúc riêng thì chẳng hoá ra làm cho kẻ giàu lại giàu thêm, người nghèo lại nghèo thêm, phỏng có lợi gì cho dân nữa ?


    “Đó đều là những điều hình như phải mà là trái, chưa thấy lợi đã thấy hại. Đáng lẽ nên giao xuống cho đình thần bàn xử, song nghĩ ta đương mở rộng đường ngôn luận, Tuân cũng tự đem ý kiến mà trình bày, có chỗ không phải, bỏ qua cũng được”.


    Ra lệnh cho Chưởng lãnh ((1) Chưởng lãnh : cũng như Chủ tướng, một chức võ quan đứng đầu một quân, theo binh chế được tổ chức từ thời Nguyễn Phước ánh mới đánh nhau với nhà Tây Sơn và được áp dụng lại từ năm Minh Mệnh thứ 3 [1822] trở đi (xem Minh Mệnh chính yếu, quyển XIV, tờ 3a).1) ở Kinh và Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát ở các tỉnh ngoài sát hạch những võ biền thuộc hạ, từ Suất đội lên đến Lãnh binh, chia làm 3 hạng : ai là người lừ khừ yếu đuối thì tâu xin bắt buộc về hưu ; ai là người lười nhác thì châm chước cho giáng hay bãi chức ; còn những người minh mẫn, khỏe mạnh, xuất sắc trong việc đánh dẹp, thì không cứ niên hạn và tư cách, chuẩn cho kê rõ tên mà bảo đảm đề cử, đợi chỉ cất nhắc.


    Bố chính tỉnh Nghệ An, Nguyễn Đình Tân có dâng tập tấu hỏi thăm sức khoẻ nhà vua và nói về việc gỗ lim : về phần dân được, chỉ bằng công làm thuê. Vậy xin để cho được mua bán với khách buôn người Thanh, mà nhà nước định giá, đánh thuế 1 phần 10 (1/10), thì công tư hai đằng đều có lợi cả.


    Vua dụ Nội các rằng : “Chủ hộ làm gỗ ở tỉnh Nghệ An, khoảng năm Gia Long (1802 - 1819) đã bị điêu tàn, ta phải để ý gây dựng vỗ về : hoặc tha cho số thuế còn đọng thiếu, hoặc triển hoãn cho thuế chính cung gần đây dần dần đã có khí sắc phấn chấn. Và nghĩ : hạng gỗ lim lớn và dài, thật khó khăn về việc đốn đẵn, nên lại chuẩn cho nộp thay bằng tiền để tiện cho dân ; còn cành, ngọn eo cong, cũng thu mua cả. Ơn ban đặc biệt ấy chắc các hộ làm gỗ kia đã nhờ được lợi nhiều rồi.


    “Thế mà Nguyễn Đình Tân lại nói rằng giá [tiền mà dân] thu được chỉ bằng công làm thuê. Vậy thử nghĩ xem : nếu quả như thế, ấy là lỗi ai ? Há không phải bởi quan lại hạch sách làm khó dễ, nên mới đến nỗi thế ư ? Nay [Tân] lại dám xin càn rằng cứ buông thả cho dân mua bán với khách buôn người Thanh, còn giá cả do nhà nước quy định, thế há chẳng phải là chỉ làm đầy túi tham cho quan lại, chứ dân có lợi gì ! Đến như xin đánh thuế một phần mười, thì lại thuộc hạng bề tôi chỉ nói đến lợi, càng đáng khinh bỉ ! Nay, điển chế của nhà nước đã có mực thường, cái lợi nhỏ nhen, há thèm so kè [với dân chúng] ? Huống chi việc cấm mua riêng gỗ lim đã có điều lệnh nghiêm ngặt, sao [Tân] lại dám trình bày nhàm như thế ? Vậy, truyền chỉ sức bắt tâu lại”. Tân sợ hãi, dâng sớ xin nhận tội, vua bèn giáng Tân xuống 2 cấp.


    Vua bảo bộ Công rằng : “Trong hải phận Quảng Ngãi, có một giải Hoàng Sa((1) Tức là đảo Hoàng Sa.1), xa trông trời nước một màu, không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây, thuyền buôn thường [mắc cạn] bị hại ! Nay nên dự bị thuyền mành, đến sang năm sẽ phái người tới đó dựng miếu, lập bia và trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận biết, ngõ hầu tránh khỏi được nạn mắc cạn. Đó cũng là việc lợi muôn đời”.


    Chuẩn cho các hạng biền binh ở Kinh, bắt đầu từ mồng 1 tháng 9, chia ban để nghỉ ngơi.


    Lệ cũ chia làm 3 ban, nay chia làm 2 ban, đợi việc Nam Kỳ yên rồi sẽ lại vẫn theo lệ cũ.


    Vua ra lệnh cho Binh bộ truyền dụ các Tướng quân và Tham tán các đạo ở Nam Kỳ rằng : “Gần đây, đại binh đường thuỷ đường bộ đều tiến, luôn luôn thu được thắng lợi, đã tiến sát đến dưới thành, thu hết được kho đụn, tiền, gạo, thuyền mành ; bấm đốt ngón tay, đến nay đã qua nửa tháng, hằng ngày ngóng trông cờ đỏ, còn chậm thấy báo tin thắng trận ! Nay nên họp mặt bàn nhau : chia đóng đồn tấn tuần tiễu, khiến ai nấy đều có chuyên trách phải làm cho tròn nhiệm vụ để giặc khỏi nhân kẽ hở, lọt lưới được. Vả, giặc sợ uy thế của quân ta chạy vào trong thành, không dám ra nữa. Vậy hãy chọn lấy hạng người bắn giỏi, mỗi mặt vài mươi người, lẻn nấp ở hào thành ; nếu ban đêm, lũ giặc đem đèn đuốc soi trông, thì đánh giết đi. Lại dùng đạn lửa nhằm phóng vào chỗ giặc đóng ở trên thành để cho giặc bối rối hoảng sợ. Lại nhân ban đêm, chuyên chở củi đuốc chứa ở cửa thành, phóng lửa đốt. Lại, trên đường Quang Hoá, nhằm chỗ muốn trốn ra, chọn quân tinh nhuệ, mai phục làm ba chỗ : nơi gần thành thì dùng dương dũng đóng giữ, giả cách làm ra cờ xí ngơ ngác, quân sắc không chỉnh tề thì giặc cho là có thể nhân chỗ hở mà trốn được, hoặc giả từ đường ấy [giặc] trốn về nẻo Quang Hoá, một khi bị sa vào vòng mai phục thì ba mặt đánh khép lại, giặc tất bị bắt. Lại, mặt trước thành, trông ra sông lớn nay giặc đã không có thuyền, thì quân thuỷ của ta nên lựa tính chia ra để canh phòng. Còn ba mặt khác, nên tính suốt cả quan quân ở thuyền [là bao nhiêu] cũng lên cả trên bộ, hội đồng với bộ Binh, đặt đồn ở tấn sở và thủ sở tuần tiễu cho nghiêm ngặt.


    “Lại, mật trích lấy 1, 2 tên lính mới đầu hàng, tung cho vào thành để cùng báo cáo với đồ đảng giặc khiến cho ra hàng. Việc này, nên cẩn thận chọn người được việc mới có thể cho làm nếu không phải là người được việc thì thôi ; chớ nên thiện tiện cho bừa hạng gian trá, lén vào để nó nói càn về sự hư thực của quân ta, rút cục không được việc gì, mà thực lại không tốt !


    “Lại, đắp luỹ đất ở mặt tả, mặt hữu và mặt sau thành đều đặt đại bác để bắn vào trong thành. Còn mặt trong trước thành cũng sai chu sư bắn đại bác vào. Việc này cũng nên cẩn thận, xét rõ xem tầm súng tới đâu, cốt chỉ bắn vào quân giặc ở trong thành, chứ đừng để đạn lạc làm thương tổn quân ta ở mặt thành khác.


    “Đó là những điều ý ta nghĩ tới. Ngoài ra cũng còn nhiều phương pháp hay mưu chước lạ. Các ngươi đã được giao cho việc quân quan trọng, cốt phải cùng lòng giúp nước, hợp sức làm việc phát triển kế hoạch tốt để sớm bắt chém nghịch tặc, lập được công to, cho yên dân chúng. Các ngươi đều phải cố gắng lên”.


    Lại dụ rằng : “Nguyên tỉnh thành Phiên An, về việc biến loạn đêm 18 tháng 5, Nguyễn Văn Quế là Tổng đốc, hiện có biền binh và thủ hạ vài nghìn người, thế mà không đánh bắt được giặc, lại bị giặc giết, gây thành biến loạn ấy. Lại, lũ giặc từ trước có liên kết với đội Hồi lương và Bắc thuận hay không, tựu trung cũng có người biết, lại không tố cáo, để gây nên mầm vạ. Lại nữa, Lưu Tín và Đỗ Văn Dự đều là đầu mục trong bọn giặc, mà gần đây sớ tấu không thấy nói tới ! Nay hai tên phạm ấy còn ở trong thành hay trốn lẩn ở dân gian, phải nên điều tra xét hỏi, bắt giải để trừng trị.


    “Lại, ở sông Bến Nghé hiện nay thuyền buôn của người Thanh hãy còn chiếc nào đậu đấy hay đã tản đi từ trước rồi ?


    “Lại, các quân Hồi lương, Bắc thuận, Thanh thuận, An thuận, và những hào mục Thanh - Nghệ mà Lê Văn Duyệt mang về, đều là đồ đảng liều chết của giặc từ sau khi thua chạy vào thành, có tên nào lẩn vào dân gian hay không, đã từng bắt được hay không ? Nên nghiêm sức cho nhân dân : nếu có tên phạm nào trốn ở thôn, xã, phường nào, thì lập tức bắt giải. Nếu nể nang giấu giếm, khi phát giác ra, thì sẽ phải tội như giặc.


    “Lại lũ đi đạo Gia tô đi theo giặc thì trong đó tất có giáo trưởng người Tây chạy vào thành với giặc hoặc ở lẩn trong dân gian, tức thì tra xét bắt giải đến Kinh trừng trị.


    “Lại, trong con hát phường trò của Lê Văn Duyệt, trước đây nhiều kẻ theo giặc, quấy rối cướp bóc dân gian, nay nếu trốn ở chỗ nào, nhất thiết bắt cả để trị tội.


    “Lại, tướng biền tỉnh Phiên An trước và quan viên thành Gia Định trước lúc chia đặt, thừa ra còn nhiều, từ hồi biến loạn đến nay, người nào hàng giặc, người nào trốn tránh phương nào, nhất nhất xét sổ làm thành danh sách, chua rõ tâu lên. Việc này nên gia tâm tra hỏi cho rõ ràng, đích xác, một mặt tuân dụ làm việc, một mặt cứ thực tâu lên, để cho tường tận nguyên uỷ.


    “Lại truyền chỉ cho các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang và Hà Tiên xét quan lại trong hạt, còn có người nào trốn tránh, không biết đi đâu chẳng hạn như Lãnh binh Nguyễn Văn Khoa hiện nay hoặc còn ẩn nấp ở dân gian, hoặc đã hoài thân theo giặc, sa ngã vào đâu, tức thì hỏi rõ thực trạng, tâu lên đợi chỉ”.


    Hộ lý Tuần phủ tỉnh Định là Tường Ngô Bá Tuấn tâu nói : “Trước đây đánh nhau với giặc ở Phong Giang, không lợi, lui về phận sông Cần Giuộc, thì thấy thuyền quân của Vệ uý Phạm Hữu Tâm do Kinh phái đến, vừa đi đến đấy, nhằm Tân cảng thẳng tiến. Khi ấy thần cũng theo đi, rồi đại binh đường thuỷ đường bộ đánh khép lại, đều được thắng lợi. Giặc chạy vào trong thành, đóng giữ. Thần đã liệu lượng để quân Nghĩa dũng theo đi trận ấy ở lại đóng giữ hai bên tả hữu Phong Giang để phòng bọn giặc trốn thoát. Rồi thần tức thì đem binh thuyền về tỉnh làm việc”.


    Vua dụ Binh bộ rằng : “Ngô Bá Tuấn trước đã để thành trì thất thủ, đến khi dân làng khởi nghĩa lấy lại được tỉnh thành mời Tuấn về tỉnh. Ta nghĩ : Tuấn tuy nhờ người mà làm lên việc, nhưng so với Tô Trân, một mạch trốn xa, thì kẻ này còn hơn kẻ kia cho nên tha thứ tội trước, lại trao cho quan hàm ngày nay. Đến lúc giặc đã thua tàn, mà Tuấn đốc suất lính dõng đi trận, còn thua như thế, thực là ươn hèn ! Kịp khi quan quân đường thuỷ đường bộ đánh khép lại, giặc phải chạy vào trong thành, Tuấn lại muốn dây máu ăn phần nhận công thắng trận ! Rút lại, hết thảy những lời Tuấn nói đều là bịa đặt, vô ích, đáng lẽ nên trị tội nặng, nhưng kể về việc quân không đáng trách đến hạng người ấy. Vậy hãy xử nhẹ : giáng 2 cấp. Tuấn phải biết cảm kích, biết hổ thẹn ra sao. [Nay cho Tuấn được làm việc] tra xét tiền lương, chớ để thuộc lại chấm mút, vỗ về dân chúng khiến họ chăm việc làm ruộng, không để một chỗ nào bỏ hoang. Nếu không làm được như thế, tất trị tội nặng, không tha”.


    Tham tán đạo Bình khấu Lê Đăng Doanh tiến đến quân thứ, đem việc đi đường chậm trễ dâng sớ xin chịu tội.


    Vua phê bảo rằng : “Đường biển nguy hiểm, ta chỉ vì ngươi mà lo, nay đã đến quân thứ, chắc có thể cùng tâu công đánh được giặc, chứ có muộn gì”.


    Tướng quân đạo Bình khấu Trần Văn Năng và Tham tán Lê Đăng Doanh tâu nói : “Quân của Bình khấu đạo cùng với Thảo nghịch tả đạo ở mặt trước, mặt tả và mặt hữu thành Phiên An và Thảo nghịch hữu đạo ở mặt sau thành, đều theo phần đồn tấn chia ra bao vây và đắp luỹ dài ; nghịch tặc như cá trong chậu, không sớm thì chày, tất đến chịu giết. Duy đất này sau cơn loạn lạc, nên đặt một viên đại thần hàng văn để yên ủi vỗ về những dân xiêu giạt, làm việc lợi, bỏ việc hại cho dân. Đó là việc kịp nên làm”.


    Vua phê bảo rằng : “Đã bổ Tổng đốc, Bố chính, án sát lại đặt thêm Tuần phủ, đều đã lên đường đi rồi. Còn việc đánh thành, [các khanh] phải nên sớm sớm thành công, ta ngày thêm trông mong không thể hoãn một khắc được”.


    Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên, Lê Văn Đức, mang quân và voi, từ Sơn Tây tiến đánh thổ phỉ Tuyên Quang rồi làm sớ tâu lên.


    Vua phê bảo rằng : “Ngươi bày chước tốt để dẹp yên nghịch tặc. Giặc ấy thốt nhiên càn rỡ nổi lên, rút cục vẫn không có danh nghĩa gì ; nay đại binh họp lại như mây, ta tin rằng tất có thể hẹn ngày thành công được. Ngươi hãy cố gắng thêm lên”.


    Đức tâu nói : “Một hạt Sơn Tây, có nhiều rừng núi, mà lại kiêm lý cả hai tỉnh Hưng Hoá, Tuyên Quang, phải phòng giữ nhiều ngả, mà hai cơ Sơn Tây, Võ dũng và đội pháo thủ là Nam binh thuộc về tỉnh Sơn Tây, trước giờ vẫn không đủ trong việc phân phái. Thần đã sức thuộc hạ chiêu mộ những người quê ở Quảng Bình trở về Nam, hiện nay được 250 người, chưa kịp tâu lên thì vừa gặp tỉnh Tuyên Quang có việc, họ đều tình nguyện theo đi đánh giặc. Thần đã cấp cho khí giới và lương tháng, mang theo đi làm việc binh nhung, xin đợi khi việc yên sẽ tâu xin chia đặt cơ, đội”. Vua chuẩn cho.


    Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền tâu nói : “Tỉnh Cao Bằng báo rằng: do thám thấy lũ giặc Tuyên Quang đặt 5 đồn liên tiếp ở các xứ Mật Lũng, Du Lũng và Bế Lãnh, tiếp giáp phủ Trấn Yên nhà Thanh, độ hơn 2.000 quân ở Thiều Châu, do Hoàng A Liên làm chủ xướng. Xin đem việc ấy thông báo phủ Thái Bình, chuyển báo phủ Trấn Yên biết để phái quân ngăn chặn theo địa giới hạt mình”.


    Vua ra lệnh cho bộ Lễ làm tờ tư (sang quan nhà Thanh) đại lược nói : “Nông Văn Vân ở châu Bảo Lạc, tỉnh Tuyên Quang, nước tôi, mưu làm giặc. [Nước tôi] đã phái quan quân đi đánh thì giặc không khỏi tìm đường trốn tránh. Thiết tưởng : địa giới phủ Trấn Yên của Thiên triều ((1) Thiên triều : chỉ triều đình nhà Thanh ở Trung Quốc.1) liền với đất tỉnh Tuyên Quang nước tôi, hoặc giả nếu giặc kia lẩn sang, thì xin chuyển báo cho phủ Trấn Yên biết, để phái quân theo địa giới mà ngăn chặn. Nếu thấy giặc chạy trốn, thì lập tức bắt giao [nước tôi] trừng trị”. Tờ tư ấy đưa cho tỉnh Lạng Sơn chuyển gửi [sang nhà Thanh].


    Nghịch phạm Nông Văn Vân ở tỉnh Tuyên Quang đốc suất vài nghìn đồ đảng chia ra đường thuỷ đường bộ tiến sát đến tỉnh thành. Quan quân trong thành bắn đại bác ra, giặc đều lả lướt. Lãnh binh Trần Hữu án đem lính và voi ra đánh, giặc bị thương và chết nhiều, vừa đánh vừa lùi. án cũng bị thương, bèn thu quân về thành để giữ. Tổng đốc Lê Văn Đức tiến đến xã Lệ Mỹ (thuộc huyện Phù Ninh) nghe tin báo, lập tức, đang đêm, tiến lên, phi sức cho lũ Bố chính Đỗ Huy Cảnh ở tỉnh Sơn Tây đem việc ấy tâu gấp ; còn mình thì đốc thúc quân thuỷ, quân bộ Hà Nội chóng tiến đến tiếp ứng.


    Tờ sớ vào tới nơi. Vua dụ Nội các rằng : “Nghịch Vân kéo đồ đảng quấy rối tỉnh thành Tuyên Quang, trên thành vừa bắn 1 phát đại bác, giặc liền kinh sợ tan vỡ kéo nhau chực trốn. Thế đủ biết chúng cũng chẳng làm được trò trống gì. Vả lại, nếu giặc còn dựa vào chỗ hiểm để chống cự, thì quân ta không khỏi còn tổn nhiều ngày giờ một khi đánh thẳng vào sào huyệt của nó ! Nay nó tự lại đưa đến chỗ chết, ta đem đại binh tới đánh, thế tất tan vỡ, nhân lúc được mà đuổi theo, thì một trận có thể bắt được. Thế chính là “việc làm có một nửa công thu được gấp bội”. Thực không nên bỏ lỡ cơ hội.


    “Vậy truyền chỉ cho thự Tổng đốc Hải - Yên là Nguyễn Công Trứ, nếu đã lên ngựa đi rồi, gấp đến hội với Lê Văn Đức tiến đánh cho kịp công việc thì càng tốt, nhược bằng chưa đi, thì nên lựa tính xem : nếu Trần Văn Tuân giữ việc trong tỉnh được thanh thoả, thì lập tức tuân theo lời dụ trước mà tiến đi ; nếu tình hình hiện tại, buộc phải ở lại mới giữ được, không lo ngại gì, thì chuẩn cho phái Đồng Bá Huyên đem quân hội tiễu cũng được, nhưng phải đi gấp tiến mau để khỏi đến nỗi chỉ uổng nhọc mệt mà chẳng nên công trạng gì.


    “Lại, Nông Văn Sĩ ở Thái Nguyên là dư đảng của nghịch Vân, rồi đây nghịch Vân chắc sẽ bị bắt hoặc bị chém, tên Sĩ thế tất nghe hơi chạy trốn. Vậy, truyền chỉ cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ, nên lập tức đốc thúc lính và dõng đến đánh các đồ đảng giặc ở Bắc Cạn và Tượng Đầu, quét sạch mầm mống còn sót lại, chớ để cho giặc chưa từng bị chém giết giữ, đã tự trốn tránh được trước đến nỗi một ngày kia như than lửa còn sót, lại bùng cháy lên thì lại phí công đánh dẹp một lần nữa. Nay nên làm thế nào, góp sức lại vây một trận thành công, để làm chước yên ổn lâu dài mãi mãi. Cơ hội tốt ấy, các ngươi đều phải cố gắng hơn lên, chớ có bỏ qua, rồi ra hối hận sao kịp !”.


    Vua lại bảo thị thần rằng : “Từ trước đến nay, lũ nghịch tặc như Phan Bá Vành cũng hung hăng, nhưng một trận thua thì đến chôn vùi xuống đất. Duy nghịch Khôi trộm giữ Gia Định tiền, thóc, súng ống có rất nhiều, cho nên thế lực đã cùng, vẫn còn cố chết giữ lấy. Còn như quân ô hợp ở Tuyên Quang, có gì đáng lo”.


    Thự Bố chính tỉnh Cao Bằng, Bùi Tăng Huy cho rằng thổ ty Bế Văn Cận, Bế Văn Huyền là em vợ Nông Văn Vân nên đã phái người đến giục chúng lên tỉnh ứng chực, để làm cách dự phòng, nhưng lũ tên Cận nhân lúc sơ hở đã lẩn trốn, tìm không được, Tăng Huy bèn dâng sớ xin chịu tội. (Cận, Huyền vốn là công tính Nguyễn Hựu, vì có theo giặc, cho nên đổi theo họ mẹ là họ Bế).


    Vua quở Tăng Huy, giáng 2 cấp, buộc phải tìm bắt chúng nó.


    Đồ đảng thổ phỉ Tuyên Quang, từ Thái Nguyên xâm lấn quấy rối địa giới Lương Trà tỉnh Cao Bằng. Thự Bố chính Bùi Tăng Huy, án sát Phạm Đình Trạc làm giấy phi tấu. Vua dụ sai nghiêm cẩn đốc suất lính và dõng theo địa phận, ngăn chặn giặc. Đồ đảng giặc lại xâm lấn đồn Gia Bằng.


    Suất đội là Trần Văn Phú và Nông ích Giảng do tỉnh phái đi cùng với thổ ty giữ đồn Bế Kim Sâm lui về Liêu Lĩnh. Giặc bèn đến thẳng đất Nậm Toán, cách tỉnh thành ước nửa ngày đường.


    Lũ Bùi Tăng Huy tức thì phái Lãnh binh Lạng Sơn là Phạm Văn Lưu đem quân chặn bắt. Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền được tin báo, lại phái thêm Quản cơ cơ Hậu thắng theo tỉnh sai phái là Phan Văn Diễm đem 200 quân gấp đi phòng giữ. Lại phi tư cho tỉnh Bắc Ninh điều động thêm 500 biền binh, rồi đem việc ấy cho chạy trạm vào tâu và nói : “Bộ biền và thổ ty tỉnh Cao Bằng một niềm trùng trình không tiến dường có ý nghe ngóng”.


    Vua dụ rằng : “Giặc ấy chẳng qua là dư đảng của Nông Văn Vân, ô hợp quần tụ mà thôi. Nay đã có chỉ dụ Tuyên Quang, Thái Nguyên cho Tổng đốc đại viên cầm quân đi tiễu, một khi đại binh họp đông, nghịch Vân thế tất sợ bóng gió phải tan vỡ chạy trốn, ta có thể hẹn ngày bắt được. Thế thì lũ giặc quèn ở Cao Bằng, không đánh cũng tự tan vỡ.


    “Hoàng Văn Quyền, ngươi là một chức quan to giữ bờ cõi, trước đây nghịch Khôi ở Nam Kỳ nổi loạn, ngươi đã từng bí mật trình bày hai chước, xin thân đi đánh, nay ở kiêm hạt bỗng có giặc nhỏ, động một tý, cũng xin thêm quân, không bày được một chước gì, đủ biết trước đây ngươi chỉ nói hão vô ích ; huống chi ngươi lại chẳng biết việc gì hoãn, việc gì kíp, cứ tới tấp phi đệ tờ tâu. Thật đáng khinh bỉ ! Vậy phạt 6 tháng lương.


    “Và, tỉnh Lạng Sơn đã có 200 biền binh do tỉnh Bắc Ninh phái đến từ trước cộng với số quân hiện có ở tỉnh cũng đủ phòng giữ được rồi, chớ nên điều động thêm nữa. Đến như ngươi nói bộ biền và thổ ty dường có ý nghe ngóng, thế là tại lúc ngày thường, ngươi phủ dụ ngăn ngừa không đúng, lại toan đổ lỗi cho ai ? Nay nên nghiêm sức lũ kia phải theo địa phận hạt mình mà ngăn chặn giặc, chớ để đến sơ hở đáng lo. Nếu có kẻ nào chùn lại, tức thì trị tội nặng ngay, mà ngươi cũng không thể trốn tránh trách nhiệm được”.


    Cho : Vệ uý Lê Thuận Tĩnh làm Vệ uý vệ Tiền nhất quân Vũ lâm, nhưng kiêm lĩnh các ty Lý thiện, vệ Dực bảo, đội Tài hoa quân Thị vệ ; Nhị đẳng thị vệ là Phạm Phú Quảng làm Phó vệ uý Tiền vệ dinh Hổ oai, nhưng hiệp lĩnh thị vệ, kiêm lĩnh Ngư hộ ; Phó sứ ty Hộ thành binh mã là Trương Viết Suý chuyên quản vệ Võng thành.


    Tỉnh Quảng Nam bị mưa lụt, gạo kém. Vua xuống dụ cho thự Tuần phủ là Đỗ Khắc Thư xét hỏi tình hình dân gian nếu có ngặt lắm, thì nên cứu tế ; nếu sự ăn của dân hãy còn hơi dễ dàng thì nên đợi lúc cuối đông sang xuân sẽ chước lượng đem bán và cho vay lương thực. Chuẩn cho cứ thực, làm thành tập tấu dâng ngay lên.


    Thự án sát Thái Nguyên, Nguyễn Du, trước là Ngự sử, đi phát chẩn ở tỉnh Hưng Yên, lén mua người con gái dân đói về làm vợ lẽ. Tả phó Đô ngự sử Phan Bá Đạt dò biết được thực trạng ấy bèn chỉ rõ tên, làm tờ tâu, đàn hặc.


    Vua nói rằng : “Trước đây ở Bắc Kỳ có nạn lụt, tỉnh Hưng Yên bị thiệt hại nhiều hơn. Ta sớm trưa bận lòng, ăn nằm không yên, đã xuống dụ chẩn cấp cứu giúp bằng nhiều cách. Nguyễn Du giữ việc can ngăn lại là chức quan do ta lựa chọn phái đi, đáng phải suy nghĩ cố gắng mà làm, mới xứng đáng chức trách đã được uỷ thác, thế mà mất hết lương tâm, dám mua vợ lẽ ở chỗ phát chẩn, hạnh kiểm hư kém, thực đáng ghét ! Vậy tức thì cách chức, áp giải về Kinh, giao Hình bộ nghị xử.


    “Người cùng đi là Ngự sử Nguyễn Trực Phương, đã không can ngăn, lại cùng họp uống rượu, cũng giao nghị xử cả”.


    Vua nhân bảo thị thần là Trương Đăng Quế rằng : “Từ khi lập viện Đô sát đến giờ, ta vẫn đặc cách bổ dùng, có khi cất nhắc đến chức tư mục. Gần đây, nghe có nhiều người nết kém, chẳng hóa ra người lớp trước đã bổ đi làm việc khác rồi, còn lớp sau chưa được người giỏi đấy ư ?”.


    Đăng Quế thưa rằng : “Nguyễn Du, Nguyễn Trực Phương cũng là người trong lớp trước. Trước đây Du coi làm công chính thành Nam Định, từng có hặc tâu một viên võ biền đớn kém, như thế là “trách người thì sáng, trách mình thì quáng”. (Nguyễn Trực Phương trước kia đến Nam Định, tham hặc viên quan võ đớn kém là Trần Văn Tảo : đi tuần tiễu, không làm được công trạng gì, lại quẫy nhiễu bình dân, nên Tảo bị vua ban chỉ cách chức, bắt để xét hỏi).


    Vua nói rằng : “Khoa đạo là quan có nhiệm vụ phải nói những lầm lỗi của người khác, nhưng phải giữ mình cho ngay thẳng trước, nếu mình không ngay thẳng, còn làm cho người khác ngay thẳng thế nào được ?”. Đến lúc thành án, Du phải phát đi làm lính ở Lạng Sơn. Trực Phương phải giáng làm Tư vụ.


    Cho Hộ khoa Cấp sự trung Nguyễn Mưu thăng thự án sát tỉnh Thái Nguyên.


    Vua nhớ lại những công thần trung hưng, ra lệnh cho Nội các liệt kê lý lịch của Cai đội Nguyễn Thường Hứa, con Thị trung Đô thống chế Nguyễn Văn Khiêm, tiến trình ; rồi chuẩn cho Thường Hứa làm Thành thủ uý.


    Trong sở Nội tạo có kẻ lấy trộm đoạn dệt bằng lông, bị người kiểm soát bắt được, giao xuống bộ Hình xét để trị tội.


    Vua bảo thị thần là Nguyễn Khoa Minh rằng : “Năm hình đặt ra, là để cho dân biết đường tránh, không dám phạm, giết một người mà nghìn muôn người sợ. Đấy là ý đặt ra hình phạt để mong không ai phạm vào hình phạt nữa. Gần đây, phàm lấy trộm của công, tất bị trị tội nặng, thế mà lũ ấy không sợ hãi gì, vẫn còn lấy trộm, thật rất đáng ghét !


    “Ôi ! chính sách mãnh liệt quá thì tàn dân, đã đành không phải là đạo trung chính, nhưng rộng rãi quá thì dân không biết sợ ! Thực khó thay, đối xử với tiểu nhân!”.


    Nguyên Bố chính Vĩnh Long là Phạm Phước Thiệu đến quân thứ Thảo nghịch tả đạo, thú tội rằng : “Trước đây, tỉnh thành thất thủ, bị giặc bắt được, đưa đến Phiên An, không từng chịu quan chức của nguỵ, giả đò cáo bệnh, ra ở ngoài thành, do đấy, trốn tránh được”. Lũ Tướng quân Tống Phước Lương đem việc ấy tâu lên. Vua ra lệnh đem Phạm Phước Thiệu cùng với thủ phạm lần trước là Lê Đắc Lực, Hồ Văn Hãn, cùng xiềng cả lại, giao tỉnh Biên Hoà cứ theo địa hạt luân lưu giải về Kinh, giao cho đình thần nghiêm xét nghị xử.


    Kịp khi lời nghị tội đã dâng lên, vua dụ rằng : “Lê Đắc Lực là quan chức triều đình lại cùng nghịch Khôi hợp mưu làm phản, nguỵ xưng quan tước, chống cự quan quân, thật còn tệ hơn con cưu, con cánh ! ( (1) Cưu : loại chim ác, ăn thịt cả mẹ.


    Cánh : loại thú ác, ăn thịt cả cha.


    Cưu cánh dùng để ví với người bạc ác quên ơn.1)


    “Hồ Văn Hãn là thành tào thặng viên, cũng cam tâm theo giặc, chịu nguỵ quan chức, thực giết chết cũng chưa hết tội.


    “Vậy phái Thống chế Hồ Văn Khuê, Hình bộ đường quan Bùi Phổ, mang theo lính và voi áp giải đến pháp trường, đem Lê Văn Lực chặt cắt 100 nhát dao cho đứt đầu ra, bêu lên 3 ngày cho mọi người biết, rồi ném xuống sông. Hồ Văn Hãn tức thì xử tử bằng tội lăng trì, lại chặt đầu đem bêu để làm gương răn cho kẻ làm tôi không trung thành. Con Hãn là Hồ Văn Pháp, trước bị tỉnh Thừa Thiên bắt được, cũng đem chém đi.


    “Phạm Phước Thiệu là một chức quan to giữ bờ cõi, để mất thành trì, bị giặc bắt được, lại còn nhẫn nhục tham cái sống thừa còn trốn tội sao được ? Vậy khép vào tội trảm giam hậu”.


    Truy thưởng cho những người có công đánh giặc ở phố Sài Gòn.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây quan quân trong đạo binh của Tham tán Nguyễn Xuân, đánh giết người Thanh, ta trước kia cho rằng Tướng quân và Tham tán không biết hiểu dụ họa Phước trước, khiến cho biền binh hiếu sự làm bừa để đến nỗi tàn hại nhiều mạng người, lòng ta không yên. Gần đây hiểu rõ sự trạng thì ra lũ người Thanh ấy đều là hạng dữ tợn, đáng ghét. Khi quan quân vừa đến, chúng liền họp bọn, cả thuỷ lẫn bộ, luôn mấy ngày cố chết chống cự ra mặt, thì quan quân có phải đánh giết một phen thật dữ, chắc cũng là thế bất đắc dĩ. Vậy cuối cùng quan quân ta bắt chém được hết sạch để tuyệt mầm ác, thì cũng không phải là không nên. Vậy thưởng cho Nguyễn Xuân gia quân công kỷ lục 2 thứ, những người cùng đi trận ấy, Quản vệ, Quản cơ đều được [quân công kỷ lục] một thứ, biền binh thưởng tiền 1.000 quan”.


    Lính mộ ở trong Kinh và ngoại tỉnh có nhiều người mạo tên trong sổ đinh, từ trước tới nay mỗi khi có người trốn tránh lại giả về làm tráng hạng, dân lấy làm khó chịu. Việc ấy giao xuống cho đình thần bàn, xin tư tra xét, đổi chép điều khoản, nhiều lắm. Vua dụ rằng : “Mọi người bàn kỹ lắm, nhưng nghĩ giấy tờ đi lại, trạm chạy đã nhọc, mà lúc thừa hành hoặc có phiền luỵ đến hương thôn, chỉ sợ lập ra một phép, lại sinh ra một tệ, dân ta chưa thấy lợi mà đã chịu phiền luỵ, sao bằng cứ nhân việc làm cũ, hà tất phải đổi chác làm gì. Vậy, truyền chỉ từ nay về sau, có ai đầu mộ xung vào vệ, cơ, đội ở các nha, thì viên cai quản ở vệ, cơ, đội ấy, phải lấy cung lại. Nếu có phát giác ra sự giả mạo thì trị tội nặng thêm một bậc. Đến như dân làng khai ra rằng người đầu mộ ấy không có cha ông, không phải quê quán ở làng ấy, thì địa phương quan cũng phải lấy cung lại, nếu còn mang lòng yêu hay ghét, mà không cung nhận đúng sự thực, khi phát giác ra cũng trị tội nặng thêm một bậc nữa. Làm vậy cốt để cho việc được giản tiện dễ làm.


    “Duy việc xin về sổ binh tịch, hễ quan viên và người làm việc, có ai vì điều động đi chỗ khác hay chuyển bổ mà sổ sao ngạch còn bỏ sót, thì đều tư xét để sửa chữa lại, chớ vội trả về hạng tráng. Chuẩn cho thi hành theo như lời bàn”.


    Vua nhân bảo Phan Huy Thực trong Lễ bộ rằng : “Ta từ khi lên ngôi đến giờ, đối với quy chế đã định sẵn, không muốn đổi lại cho rối việc. Phàm có xếp đặt thi thố việc gì, cũng nghĩ chữa lại sự thiên lệch, bổ vào chỗ hư hỏng để tiện cho dân. Nếu có điều không tiện, thì triều đình hà tất phải một phen nhọc mệt đổi lại làm gì nữa?


    “Ngươi nên nói với đình thần : phàm việc gì cũng nên bày điều hay bỏ điều dở, cùng nhau giúp đỡ, thì chỉ dụ dù đã ban xuống mà ở trong còn có điều chưa ổn thoả, cũng nên giữ lấy tâu lên, chớ bảo rằng đã có chỉ, không dám trái”.


    Lại bảo Thân Văn Quyền và Hà Quyền ở Nội các rằng : “Các người ở Nội các, có ai biết thảo dụ, chỉ thì nên cho xem bản sao ở Kinh. Phàm người phải học tập rồi
  • Chia sẻ trang này