0060.0076

12/1/16
0060.0076
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    sau mới hay : tập về hình danh thì hay về hình danh, tập về nhân nghĩa thì hay về nhân nghĩa, tập về chính sự thì hay về chính sự. Vả lại, dụ, chỉ tuy không giống văn chương, nhưng nếu không tập quen thì sao thông thạo được ? Lũ các ngươi làm việc đã lâu, mà những bài nghĩ ra còn có chỗ hỏng huống chi là những người hậu tiến?”.


    Vua dụ Nội các rằng : “Khoảng tháng 6, tháng 7 năm nay, tai biến nhiều lần xuất hiện, miền Nam miền Bắc nổi nhiều giặc cướp lại thêm xảy nạn thuỷ tai, dân đen không được yên ở. Thực bởi ta đây đức bạc lỗi nhiều, chưa hay cảm cách đến trời, để thu lấy hoà khí, đến nỗi dân ta mắc nhiều tai vạ và bị thiếu thốn. Ta tự xét mình, sợ hãi xiết bao ! Càng nghĩ phải sửa đức hay, ngăn tai biến, để xoay lại ý trời; làm chính sự tốt, ra ơn huệ nhiều để đời sống của dân được đầy đủ. Hồi đầu tháng 7, tức thì xuống dụ, bớt món ăn, thôi nhã nhạc, bãi bỏ những việc không cần kíp, thả chim muông ở vườn thượng uyển, bỏ những đồ châu ngọc thường chơi. Hằng ngày, ngự nơi trắc điện ((1) Ngôi điện ở bên cạnh, không phải chính điện.1), gọi bầy tôi vào để bàn bạc có ngày tới vài bốn lần. Đó thực do lòng thành thật của ta, chứ không hề kiểu sức chút nào. Rồi sai các quan to ở trong Kinh và ngoại các tỉnh xem xét nạn dân, chia đi chẩn cấp, cốt phải sao cho không để một người đến nỗi mất chỗ ăn ở, trăm họ đều có trông nhờ. Vả, ta lại hết sức suy nghĩ, cứu chữa nhiều phương : ở Kinh, thì ra lệnh cho quân dân cấy nhiều các thứ lúa, để mong khỏi thiếu ăn ; ở ngoài các tỉnh thì ra lệnh cho nhân dân cấy thêm lúa mạ, hòng mong được mùa. Người nào nghèo túng, không thể cấy thêm được, thì cho vay để làm vốn ; người nào có của biết sốt sắng việc công, muốn làm điều nghĩa, thì biểu dương để tỏ ý khuyến khích.


    “Đến địa phương nào gạo kém : nếu trầm trọng quá thì bán ra và cho vay, nếu tình hình còn nhẹ thì hoãn thu thuế. Địa phương nào có giặc cướp : to thì đi tiễu, nhỏ thì dập tắt. Sai các phủ huyện chăm lo khuyên dân làm ruộng, trồng dâu ; ra lệnh cho quan lại phải nhanh gọn trong việc xét xử hình ngục cốt cho ơn huệ thấm đến nhân dân, giặc cướp im hơi, việc hình ngục không oan uổng, dân đều yên vui.


    “Ta lại ngồi ra bên chiếu, để cầu lời nói hay, khiêm tốn sẵn lòng hỏi han cho rộng, khiến cho đê dài được mãi vững bền, sông lớn được im sóng mãi.


    “Rồi nhờ trời giúp, mưa nắng phải thời. Gần đây, cứ như các Tổng đốc, Tuần phủ ở Bắc Kỳ tâu báo, thì nước lụt không còn nữa, nước úng sớm tiêu, những ruộng bị ngập ngày càng cấy thêm được nhiều, những ruộng không bị thuỷ tai, lúa ngày càng tốt. Người giàu thì nghĩ tình quê quán, đều vui lòng bỏ tiền, gạo để giúp người đói rét khó khăn. Người nghèo thì hết sức với ruộng vườn, đều cần cù làm ăn để mong được tiếp tế đầy đủ.


    “Lại chiếu theo số dân bị thuỷ tai trước đã chia đi chẩn cấp, nay lại theo lời dụ cho tụ họp lại, phát chẩn ưu hậu một lần nữa để ai nấy được đủ sống và được nhờ khắp cả. Phàm những đê vỡ, nhiều chỗ đã hợp long ((1) Hạp long : đắp chỗ đê bị nước sông làm vỡ.1) rồi.


    “Lại cứ như các Tướng quân và Tham tán tâu báo, thì sáu tỉnh Nam Kỳ lần lượt lấy lại, nhân dân yên ở, chợ phố không sợ hãi gì. Những bè lũ giặc hoặc bị chết, hoặc ra hàng ; những kẻ tâm Phước của giặc hoặc bị thương, hoặc bỏ trốn. Duy thủ ác là nghịch Khôi cố chết giữ lấy cô thành, còn đại đội quan quân thì vây đắp luỹ dài. Chắc sẽ có một buổi sáng kia, trừ diệt ngay được chứ đâu có để kéo dài ngày giờ, chậm trễ việc giết ? Ta đã nghiêm dụ đốc thúc tiến quân sớm bắt kẻ đầu sỏ giặc, đóng cũi xe đến cửa khuyết, để sáng phép nước, cho thoả lòng người.


    “Nay tiết Hàn lộ đã qua, tính đốt ngón tay lại quá tiết Sương giáng. Việc bớt món ăn, lánh ở trắc điện gần đầy hai tháng. Vậy bắt đầu từ mồng 1 tháng 9, ta sẽ tới ngự chính điện, lại ăn như thường. Trong những ngày lẻ và ngày chẵn, phàm các viên chức đều theo lệ mà tâu việc và làm việc. Nếu gặp công việc quan trọng, chuẩn cho tâu ngay, ta vẫn gọi vào cho trình bày để làm gọn mọi chính sự, tỏ rõ tinh thần vua tôi cùng khuyên bảo nhau, sửa chữa cho nhau. Còn những việc vô ích như lồng chăm chim, chuồng nuôi hổ, trót đã phá huỷ và thả ra rồi, thì bất tất phải làm lại và nuôi nấng nữa”.











    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cv



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa thu tháng 9, ngày mồng 1.


    Vua ngự điện Cần Chính, coi chầu.


    Hoàng tử, các tước công và văn võ đại thần đến sân chiêm bái. Vua gọi lên điện ngồi hầu cho uống nước chè ung dung, rồi lui.


    Cho Hoàng Sĩ Quang đã bị cách, được khai phục làm Tư vụ ngạch ngoại ở bộ Binh.


    Quang đã từng đi làm việc bắt giặc, không ngại khó nhọc, nên lại được dùng.


    Thổ Tri châu châu Thạch Lâm, tỉnh Cao Bằng là Nguyễn Hữu Giám, gặp giặc ở núi Phốc Dã, chống cự không nổi, lui về châu sở. Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn là Phạm Văn Lưu nghe tin giặc định đi tắt đến thẳng tỉnh thành, cũng lui về tỉnh.


    Thự Bố chính Bùi Tăng Huy, án sát Phạm Đình Trạc bàn nhau, cho rằng tỉnh thành gần sát nơi dân ở, lại không có hào lũy thành quách, thế khó giữ được. Nếu lúc cần kíp, nên dời đến chỗ kho của tỉnh ở đồn núi Ninh Lạc, dựa vào chỗ hiểm, đợi quân cứu viện. Rồi đem cả duyên do tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Nguyễn Hữu Giám nguyên là tỉnh phái đem quân đi tuần phòng bắt giặc, không hay ra sức đánh dẹp, vừa mới thấy không chống nổi, đã vội rút về châu sở, tự ý lẩn lút cầu yên như thế rất là hèn kém ! Vậy lập tức cách chức. Việc này phải tra xét rõ ràng, tâu lên.


    “Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc đều có trách nhiệm giữ bờ cõi, mà tỉnh thành là nơi để sổ sách và đồ vật nhà nước ở đấy, lại chực cho là của bỏ đi, định rút đến kho của tỉnh ở đồn núi Ninh Lạc để giữ. Những tờ tâu lên thật là mập mờ lộn xộn. Vả nếu lui giữ đồn ở núi, dựa chỗ hiểm mà có thể kiêm coi cả được tỉnh thành thì còn khá, hoặc giả tiền lương, sổ sách đồ vật nhà nước ở tỉnh đều có thể chuyển vận đến đồn núi được, thì trong tập tấu sao không nói rõ, mà thình lình lại bàn đến việc bỏ thành ? Người bề tôi có trách nhiệm giữ bờ cõi, sao được khinh suất như thế! Huống chi bọn giặc mới đến địa phận đầu tỉnh, đã vội sợ hãi hão huyền, lại là cớ sao ? Vậy Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc trước hết đều phải giáng 2 cấp. Các ngươi phải nên hăng hái cố gắng thêm lên, không nên tự mình nhụt trước, cần khuyến khích cổ vũ quân lính, tuỳ cơ mà đánh hay giữ. Nếu một khi có sự sơ suất đáng lo thì sẽ xử theo quân luật. Các ngươi thử nghĩ xem có chịu được lỗi nặng ấy không ?”.


    Vua lại sai truyền dụ Tổng đốc Hà - Ninh là Đoàn Văn Trường rằng : “Bọn giặc Cao Bằng chẳng qua là dư đảng của Nông Văn Vân, dựa vào rừng rậm mà quần tụ, chắc cũng không nhiều, chỉ vì tinh thần đớn kém không có tài, bộ biền phái đi lại không được việc, đến nỗi chúng mới rông rỡ giở trò, nay cũng chỉ bằng cứ vào tin hão của chúng mà hoang mang đó thôi ! Nhưng cứ theo tin báo rằng tình hình cũng khẩn cấp, thì không nên im lặng ngồi nhìn. Nay đê điều tỉnh Hà Nội sắp lần lượt xong việc, ngươi nên rút những biền binh hộ đê về tỉnh, rồi chọn lấy những người được việc : 2 Quản cơ và 500 biền binh, cho gấp lên Cao Bằng. Dọc đường nếu được tin đã dẹp yên giặc rồi, thì chuẩn cho một mặt tâu lên, một mặt rút quân về ; nếu chưa được tin báo, thì lập tức tiến thẳng đến, hiệp đồng với Bố chính, án sát tuỳ cơ đánh dẹp cốt đem bọn ấy hoặc bắt hoặc chém làm cho ra án. Nếu giặc sợ bóng gió, chạy trốn thì đuổi cùng kiệt cho hết bờ cõi rồi trở về để cho địa phương được phẳng lặng”.


    Nguyên án sát Thái Nguyên Nguyễn Trọng Ngọc tâu nói : “Các hạng biền binh ở tỉnh đã phân phái đi bắt giặc, và ở giữ tỉnh thành, không còn lấy đâu phái đi Vân Trung để hội tiễu được”.


    Vua quở rằng : “Ngươi đáng bị giáng, đổi làm việc khác rồi, đã có chỉ không cho đứng tên, dâng tờ tấu. Nay còn không biết tự lượng, thường thường lại đem những việc đã nguội lạnh mà trình bày nhàm, khiến ta nghe chán tai. Vả lại, về việc quân lữ, dùng ngươi là một kẻ đớn kém, vô tài năng làm gì. Vậy ngươi lập tức phải theo lời dụ trước, đi làm việc vận lương cho quân, cần được tiếp tế luôn, mới còn có thể chuộc được lỗi trước. Nếu còn dùng dằng như vậy, thì phép nước rất nghiêm, sau có hối lại không kịp nữa !”.


    Lũ Bình khấu đạo Tướng quân là Trần Văn Năng, Tham tán là Lê Đăng Doanh ở quân thứ Gia Định tâu xin : “Tạm quyền cấp cho viên quan bị cách là Lê Đại Cương vẫn quản lĩnh binh dõng dưới quyền được ở trong quân để đua sức làm việc”. Vua ưng cho.


    Vua bảo Binh bộ rằng : “Các hạng biền binh tòng chinh ở sáu tỉnh Nam Kỳ, trong có nhiều hương dũng và Lãnh binh các tỉnh đều đã xếp đặt rồi. Vậy truyền dụ các Tướng quân, Tham tán đem ngay những biền binh hiện đang tòng chinh xét xem thuộc về hạt nào thì trích ra dồn thành cơ, đội, rồi giao các viên Lãnh binh trông coi, lưu lại ở đấy để đánh giặc. Nếu viên Lãnh binh nào đã về tỉnh lỵ rồi, thì tạm quyền giao cho Lãnh binh Gia Định trông coi cả, để cho có thống thuộc. Sau khi việc yên rồi sẽ cho về hàng ngũ ở bản tỉnh.


    “Lại nữa, số voi chiến lần trước ở Kinh phái đi và điều động các tỉnh đưa đến có nhiều, nay tụ cả ở dưới thành [Gia Định], cỏ nuôi hoặc giả không tiện. Vậy liệu lượng trong số voi ở Kinh và voi Quảng Nam, con nào khoẻ mạnh được việc thì để lại vài mươi con ; còn voi chiến của Bình Thuận, Khánh Hoà, Bình Định, Phú Yên đem đến đều cho rút hết về”.


    Vua cho rằng việc đánh dẹp ở tỉnh Biên Hoà đã xong, bèn xuống dụ cho án sát tỉnh Gia Định là Hoàng Văn Minh tức thì đến Gia Định cung chức.


    Cho thị vệ là Tôn Thất Bật làm Thành thủ uý, thăng thự Phó vệ uý vệ Tiền bảo nhị. Bật trước đây vâng lệnh đi Nam Kỳ nhiều lần theo đi đánh trận có công, tới khi về, tâu bày tường tận rõ ràng, cho nên được cất dùng.


    Công bộ bàn tâu rằng : “Mùa đông năm trước Kinh binh làm xưởng đóng thuyền chia làm 4 hạng, đổi cấp bằng tiền đã có lệ định, thế mà các hạt ở ngoài, phần nhiều còn do biền binh tự lo lấy. Xin châm chước quy định để cho đường lối được nhất trí.


    “Phàm hạt nào trót đã chi cấp rồi, và thuyền ở các tấn sở thủ sở, phần nhiều để ở mặt nước, không phải che đậy, và thuyền sam bản nhỏ đi kèm thuyền lớn cùng với hạng thuyền ngoài ngạch thì đều nên đình cấp. Còn xưởng thuyền hạt chưa được chi cấp thì cứ theo số ngạch đã định mà cấp cho một lần. Từ đó về sau có làm thêm cũng cấp theo lệ ấy”.


    Vua chuẩn y theo lời đã bàn.


    (1 - Thuyền lớn An hiệu, Tĩnh hiệu, mỗi chiếc chia đặt một xưởng, chiếu theo hạng nhất, cấp tiền 200 quan.


    2 - Các hạng thuyền Điện hải, Hải đạo, mỗi chiếc chia đặt một xưởng, chiếu theo hạng nhì, cấp tiền 150 quan.


    3 - Các hạng thuyền Ô, Lê, Chu sai, cứ hai chiếc đặt chung một xưởng, cũng chiếu theo hạng nhì, cấp tiền 150 quan. Nếu đặt chung cả thuyền Sam bản thì mỗi xưởng cấp thêm 120 quan. Nhược bằng số lẻ, không đặt gộp lại được, thì cho chia đặt một xưởng, chiếu theo hạng 3, cấp tiền 100 quan.


    4 - Thuyền sam bản, cứ hai chiếc đặt chung một xưởng, cũng chiếu theo hạng 3, cấp tiền 100 quan. Nếu số lẻ, không đặt gộp lại được, thì cho chia đặt một xưởng, chiếu theo hạng 4, cấp tiền 50 quan).


    Thự Tuần phủ tỉnh Quảng Trị là Nguyễn Tú tâu nói : “Chín châu thuộc đạo Cam Lộ, gần đây, có sai phái những tù bị đày, chia để tuần phòng ; các viên quản châu đều có chuyên trách. Vậy xin chiểu theo số dân, phàm 1.000 trở lên là châu lớn, không đầy 1.000 là châu nhỏ. Rồi vát lấy thổ dân phụ cận làm thuộc lệ, gồm cả Thổ lại mục đã đặt trước, cần cho đủ số là châu lớn 30 người, châu nhỏ 20 người, theo quản châu sai phái đi làm việc công, đều được tha thuế thân”. Vua y theo lời tâu. (4 châu : Mường Vang, Na Bôn, Thượng Kế, Tầm Bồn là hạng châu lớn, 5 châu: Ba Lan, Mường Bổng, Tá Bang, Xương Thịnh, Làng Thìn là hạng châu nhỏ).


    Hộ lý Tuần phủ tỉnh Ninh Bình là Lê Nguyên Hi từ phủ Thiên Quan rút quân về tỉnh, tâu nói : “Trước đây, bọn phỉ lén lút nổi dậy. Thần đã vâng lệnh đi tiễu. Khi đến giặc đã trốn trước rồi. Nay địa phương đều được yên. Nhưng xét : châu Phụng Hoá tiếp giáp phận rừng Thanh Hoa, có ba ngả đường Thạch Đôi, Khế Đôi, Đồi Ngang, bọn phỉ đều do đấy mà lúc lẻn ra, lúc lẻn vào. Đường Đồi Ngang phía nam thông với Phố Cát, chỗ đất ấy càng là xung yếu. Trên một dọc đường Đồi Ngang, thần đã đặt đồn ở xã An Lại, liệu lượng phái một viên Quản cơ, đốc suất 300 lính dõng vừa người Kinh vừa người Thổ, thường xuyên đóng để canh phòng. Còn hai đường Thạch Đôi, Khế Đôi thì lấy gỗ và đá lấp lại. Lại trên đường từ Thiên Quan đến Chi Nê, trong đó có xã Y Na huyện An Hoá, tiếp gần đồn Hoa Đế, cũng là chỗ xung yếu. Xin đổi lập đồn bảo ở làng Y Na, liệu lượng phái 150 lính dõng đóng giữ”.


    Vua dụ rằng : “Việc đó phần nhiều chỉ uổng khó nhọc chứ không nên công trạng gì ! Mà việc lấp đường cũng chưa ổn hẳn, vì ta lấp được thì phỉ sao lại không mở ra được ư ? Nhưng trót đã làm rồi, không nên xét kỹ nữa. Đến như việc đặt hai đồn bảo mới, ngươi đã thân đến tận chỗ, tất là biết kỹ cả rồi, nên làm cho ổn thoả, cốt mong sao ngăn được giặc cướp, dân được yên ổn. Nhược bằng chỉ uổng công sửa sang rồi chung quy không có thực hiệu, thì ngươi phải chịu lỗi đấy !”.


    Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ thân đem lính và voi tiến đến tỉnh thành Thái Nguyên vừa gặp lúc Lãnh binh Bắc Ninh là Trần Văn Duy và thự Bố chính Thái Nguyên là Nguyễn Đôn Tố báo rằng : “Bọn giặc phỉ vây đánh đồn Chợ Chu thuộc Định Châu. Quản cơ ở cơ Tả sai là Phạm Văn Trượng và Quản cơ ở cơ Bắc thuận là Nguyễn Văn Hiệu đã được phái đem quân đi ứng tiếp. Vậy xin điều thêm lính và voi đến hội tiễu”. Phổ tức thì phái biền binh toàn cơ Chánh võ với ba thớt voi chiến, tiến đến quân thứ ở đồn Chợ Mới theo Trần Văn Duy sai phái.


    Sau đó nghe nói : “Phạm Văn Trượng và Nguyễn Văn Hiệu gặp giặc ở Lãn Lĩnh, giặc dựa vào chỗ hiểm, chặn đánh : quân (của bọn Trượng) bị thương và chết nhiều, nhưng [bọn Trượng] vẫn đóng lại ở đấy để ngăn cản. Phổ lại phái thêm Phó quản cơ ở cơ Lạc dũng là Nguyễn Luyện, và Quản cơ ở cơ Tiền thắng là Trần Đại Tựu đem 600 lính và dõng, 2 thớt voi, 4 cỗ súng quá sơn, từ đồn Hưởng Lĩnh tiến đánh giải vây cho đồn Chợ Chu. Khi đi đường, gặp thổ ty coi đồn Chợ Chu là Dương Đình Cẩm cùng bộ biền Cai đội là Đặng Văn Thái rút quân lui đến đồn Hưởng Lĩnh, nói : có chừng 2.000 phỉ vây hãm đồn ấy, và chúng chia quân chặn đường hiểm yếu ở Lãn Lĩnh, quân cứu viện không tiến đến được, đến nỗi bọn Thái phải nhân đêm phá vỡ vòng vây thoát về. Lại nghe nói chừng 7.000 phỉ chia đường mưu đánh đồn Hưởng Lĩnh và đồn Chợ Mới”.


    Hưởng được tin báo, lập tức phi tư cho Hà Nội, và Hải Dương mỗi tỉnh phái ngay 500 biền binh theo đi đánh dẹp, rồi Phổ làm sớ tâu lên.


    Vua xuống dụ quở rằng : “Văn chức là Nguyễn Đôn Tố và Nguyễn Trọng Ngọc không quen việc quân, gặp việc thì luống cuống hoang mang, đó không đủ trách. Ngươi là Tổng đốc đại thần, lại là võ biền xuất thân, thế mà lâm sự, cũng không hề thi thố được mưu lược gì, chỉ một niềm theo người báo nhảm, cuống quýt sợ hão ! Vả, đầu sỏ nghịch đảng Nông Văn Vân, vốn lén lút nổi ở Tuyên Quang, còn đây chẳng qua là bọn tiểu yêu Nông Văn Sĩ trong đảng ấy. Mà từ trước đến nay báo lên, có đến hàng vạn hàng nghìn cả. Hoặc giả bọn thổ mục nhị tâm phao lên rằng số phỉ đông nhiều, để đe dọa quan quân ; tức như nói rằng : “Có chừng 2.000 phỉ vây hãm đồn Chợ Chu, chúng chia quân chặn ở Lãn Lĩnh, quân cứu viện không tiến lên được”, thì lũ Dương Đình Cẩm ở đồn ấy, sao lại phá vòng vây được dễ dàng như thế ? Và theo đường nào thoát về mà không hề tổn thương một người nào ? Xem tình hình ấy, đủ biết được đại khái rằng do thám báo cáo không đúng sự thực. Huống chi địa thế Thái Nguyên hiểm yếu, không phải là nơi đồng bằng mông quạnh, bọn giặc có thể đi tắt, không có gì trở ngại. Mà tướng biền binh, dõng do ngươi mang đi cũng không phải ít, thế sao không tập hợp lại cho binh lực hùng hậu đánh giết một phen rất dữ, lại đi phân phái linh tinh, làm cho muốn đánh đã không đủ sức, muốn giữ cũng lại không xong. Điều khiển không đúng như thế, rất là thất sách.


    “Vậy truyền chỉ nghiêm sức : ngươi nên làm thế nào, đốc sức lính và dõng, ra quân kì để thắng địch, sớm dẹp yên bọn phỉ ấy. Nếu gặp mấy tên giặc quèn, động tí thì xin thêm quân, thế là tỏ cho người biết mình yếu, ngươi còn mặt mũi nào trông thấy người khác nữa !


    “Nay tỉnh Tuyên Quang đã có Lê Văn Đức và Nguyễn Công Trứ, đốc quân tiến đánh, lại điều động lính Kinh và lính Thanh - Nghệ hàng hơn 1.000 người, Cao Bằng cũng phái quân hội tiễu, tin rằng có thể hẹn ngày dẹp yên được giặc ấy.


    “Ngươi cần nên kịp cơ hội này, bày mưu giết giặc lập công để đón lấy phần thưởng ưu hậu. Nếu không nghĩ tự mình hăng hái riêng để lũ Lê Văn Đức ở Tuyên Quang làm thành công trước, mà ngươi vẫn không có công trạng gì, thì quyết bị trị tội nặng đấy !”.


    Lại dụ cho tỉnh Sơn Tây phái Trần Nhữ Đoan, Phó vệ uý vệ Uy võ dưới quyền sai phái của tỉnh, đem vệ binh chuyển đến Thái Nguyên chịu sự điều khiển của Nguyễn Đình Phổ.


    Đảng giặc Tuyên Quang truyền hịch dụ dân châu Thuỷ Vĩ tỉnh Hưng Hóa, hẹn ngày đều đến đồn Đông Quông nổi loạn.


    Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn căn cứ vào tình báo, tâu lên, và nói : “Đồn Đông Quông ở châu Thuỷ Vĩ tiếp giáp với đầu tỉnh Tuyên Quang, không thể không phòng bị trước. Thần phái thuộc viên trong tỉnh đi đến huyện Trấn Yên, châu Văn Bàn, châu Thuỷ Vĩ và đồn Đông Quông, hội đồng với viên huyện viên châu và viên đồn : vát nhiều lính thổ, chiếu theo địa hạt phòng ngừa ngăn chặn”.


    Vua dụ rằng : “Ngươi nên đốc sức khuyến khích biền binh đã phái đi và các thổ ti phải phòng giữ nghiêm ngặt thêm lên, chớ để cho giặc lan rộng. Chẳng sớm thì chày, đại binh của Lê Văn Đức một khi thành công, thì những giặc quèn lặt vặt ấy không phải đánh cũng tự tan vỡ”.


    Cho Phan Huy Chú đã bị cách lại được khai phục làm Tư vụ ngạch ngoại bộ Công.


    Chú, trước đây, vâng mệnh đi sứ, vì có lỗi phải cách chức, bị phái đi hải ngoại để trổ sức làm việc. Đến bấy giờ làm xong việc công trở về, lại được dùng.


    Tỉnh Hải Dương thông báo giá gạo đã hạ xuống mau.


    Vua bảo bộ Hộ rằng : “Trước đây, Bắc Kỳ bị thuỷ tai, hạt này thiệt hại hơn cả. Nay nước lụt vừa rút xuống, giá gạo được hạ xuống mau. Còn các hạt khác chưa thấy báo tin mừng là cớ sao ? Vậy truyền dụ cho các tỉnh Sơn Tây, Bắc Ninh, Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên, Ninh Bình tức thì cứ theo giá gạo và tình hình lúa ruộng hiện nay mà tâu lên”.


    Vua nhân đó bảo Phan Huy Thực ở bộ Lễ rằng : “Các bầy tôi ở trong và ngoài, lần lượt trình bày phương pháp trị hà. Có người xin phá đê đi. Ta nghĩ kĩ, phá hết đê đi, vị tất đã lợi cho dân, mà mùa cày bừa một khi đã gặp nước lụt dẫy lên thì đã có hại ngay. Thế khác gì nhân nghẹn mà bỏ ăn ? Vả, dân cư Bắc Kỳ cách biển rất xa, vốn không có núi gì để nương tựa, một khi đê vỡ, chỗ cao còn có thể sớm rút được, chỗ thấp tất phải ứ nước hàng tuần, không tiện nhiều lắm”.


    Tổng đốc Sơn - Hưng - Tuyên Lê Văn Đức đánh giải vây tỉnh thành Thái Nguyên, nghịch Vân thua chạy.


    Vân, trước đây, họp 5.000 đồ đảng, chia giữ mặt sau tỉnh thành. Trên núi 2 bờ nam bắc sông Lô đều đặt đồn lớn đối nhau, ven núi cũng dựng liền đồn trại. Lại chuẩn bị đầy đủ thuyền bè ở bến sông, quân thuỷ quân bộ của chúng liên lạc với nhau để phòng quân ta đến đánh. Hằng ngày, Vân sai đồ đảng vây bức tỉnh thành.


    Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền và Tống Văn Uyển cùng Phó quản cơ cơ Trung hùng là Nguyễn Văn Long đương đánh nhau với giặc thì Đức dẫn quân đến : trước hết đánh phá đồn giặc ở núi Kiệt Thạch. Giặc qua sông chạy, quan quân bèn đốt đồn giặc. Bọn giặc đang vây thành, trông thấy lửa cháy, cũng tan vỡ chạy cả. Quân ta trong thành đánh khép lại : chém được vài mươi đầu giặc và thu được khí giới, nghi trượng.


    Giặc bèn chiếm giữ đồn núi bờ bên bắc. Đức chia quân làm 4 đạo, dùng người Thổ trước là Tri huyện Hàm Yên, Nguyễn Văn Biểu và Thổ lại mục Lương Đình Thiêm, cùng lũ Phan Bá Lịch đưa đường (Bá Lịch là anh Phan Bá Phụng. Khi Đức tiến quân đi đánh giặc, cho rằng Lịch am tường địa thế tỉnh Tuyên Quang, nên cho đi tòng quân). Đêm đến, lúc trống canh tư, quan quân lần lượt tiến lên, mờ sáng đến đồn giặc ở bờ bên bắc. Giặc ở trên đồn, từ cao bắn xuống. Đức thân hành đốc suất tướng sĩ đi liền với nhau như xâu cá mà tiến lên. Có Cai đội ở vệ Tiền bảo nhị là Hồ Văn Vạn hăng hái xông lên trước, bị trúng đạn chết. Quân ta vừa đánh vừa tiến, hạ được đồn giặc. Giặc bị thương và chết nhiều. Chúng tranh nhau xuống thuyền chạy sang bờ bên nam. Quân ta không có quân thuỷ, nên chỉ ở bờ sông, oanh kích bằng súng quá sơn, hoặc lấy thuyền chài sang sông, đuổi theo. Giặc bỏ hết thuyền bè, lẩn trốn vào rừng miền thượng du. Quan quân tìm bắt được hơn 20 tên trong bọn chúng.


    Đảng giặc là Ma Sĩ Huỳnh, Ma Doãn Cao từ đường khác ở châu Vị Xuyên kéo đến. Quân chúng ước 400 người, đi gần đến mặt trước tỉnh thành. Đức trông thấy, tức thì đốc lính và voi đón đánh. Giặc sợ bóng gió, chạy tan cả. Quan quân chém được 5 đầu giặc, bắt được 5 tên.


    Tin thắng trận tâu lên, vua khen và vui lòng lắm, dụ rằng : “Nghịch Vân gây loạn, tụ họp tới 4, 5 nghìn đồ đảng, hư trương thanh thế, dọa nạt dụ dỗ thổ dân, thực đáng giận lắm ! Trước đây, nghe tin bọn giặc đến lấn tỉnh thành Tuyên Quang, ta đã dự tính rằng giặc bỏ sào huyệt, chực đến bình địa tranh phong với quân quan ta. Chúng bỏ cái trội, nắm cái kém, thế là tự đưa mình đến chỗ chết đó thôi ! Ta tức thì phê dụ cho Lê Văn Đức mau chómg tiến đánh để kịp cơ hội làm việc. Nay đại binh vừa đến thì giết được giặc, giải được vây, chiến thắng được luôn mấy trận, quả không vượt ra ngoài điều ta đã liệu trước.


    “Lê Văn Đức điều khiển thì được hợp nghi. Vậy thưởng cho quân công gia một cấp, một chiếc nhẫn vàng mặt kim cương lớn bằng hạt đậu, một đồng kim tiền Phi long hạng nhỏ.


    “Những người cùng đi đánh trận ấy : Lãnh binh Tống Văn Uyển, Nguyễn Văn Quyền, Quản cơ ở cơ Hậu hùng gia hàm Vệ úy là Hoàng Văn Hậu, Phó quản cơ ở cơ Trung hùng là Nguyễn Văn Long, Phó quản cơ ở cơ Võ dũng là Nguyễn Văn Thìn, Phó quản cơ ở Tượng cơ tỉnh Sơn Tây là Đặng Văn Hoán, Thành thủ uý tỉnh Sơn Tây là Bùi Văn Đức, Tri phủ Đoan Hùng là Nguyễn Đức Tân và Lãnh binh Tuyên Quang là Trần Hữu án hiện có ra ngoài thành đánh giặc rồi bị thương, đều được thưởng gia quân công kỷ lục một thứ và năm đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Các Suất đội thuộc đạo quân của Lê Văn Đức dự có công trạng, mỗi người đều được thưởng 3 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Nguyễn Văn Biểu, Lương Đình Thiêm và Phan Bá Lịch đắc lực trong việc dẫn đường, đều được thưởng 2 đồng. Lính, dõng và thủ hạ được thưởng chung 2.000 quan tiền.


    “Cai đội chết trận là Hồ Văn Vạn được truy tặng Phó quản cơ, cho thêm tiền tuất gấp đôi, lại thưởng 30 lạng bạc. Lính chết trận mỗi người được thưởng 2 lạng bạc. Dân phu và thủ hạ chết trận, người Kinh cũng như người Thổ, mỗi người đều được thưởng 1 lạng bạc.


    “Lính bị thương, nặng thì thưởng tiền 5 quan, nhẹ thì 2 quan. Dân phu và thủ hạ bị thương, người Kinh cũng như người Thổ, nặng thì thưởng 3 quan, nhẹ thì 1 quan.


    “Hiện nay, giặc đã tan vỡ trốn đi, Lê Văn Đức, ngươi nên đốc sức, tướng biền, lính dõng, nhân đà thắng trận này, hết sức đuổi đến cùng, phải bắt hoặc chém chết tên đầu sỏ đảng nghịch Nông Văn Vân và tra xét rõ trong bọn giặc, xem ai là kẻ đầu mục giúp giặc làm sự bạo ngược, cần phải đánh một phen rất dữ, phá tan sào huyệt chúng đi, khiến chúng sợ oai lực quân ta mãi mãi không dám lại làm phản nữa, mới là xong việc”.


    Vua lại bảo Nội các rằng : “Nay Lê Văn Đức tiến đánh thổ phỉ ở Tuyên Quang, thắng luôn mấy trận, đánh tan 4, 5 nghìn phỉ, đầu sỏ đảng nghịch Nông Văn Vân đã ôm đầu chạy trốn, khí thế mạnh mẽ của quan quân lên gấp trăm lần, nhân đà, đuổi đánh, có thể hẹn ngày thành công được. Vậy truyền dụ cho Nguyễn Đình Phổ ở Thái Nguyên biết : Lê Văn Đức là quan văn, đi coi việc quan, thế mà mới đánh một trận, đã thắng được bọn giặc. Nguyễn Đình Phổ, là võ biền được giao cho việc quân, nay nên nhân cơ hội này, kíp tiến quân, để sớm trừ được bọn giặc ở đồn Bắc Cạn và đồn Tượng Đầu, không được trùng trình nghe ngóng”.
  • Chia sẻ trang này