0060.0077

12/1/16
0060.0077
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Lại truyền dụ cho Hoàng Văn Quyền ở Lạng Sơn rằng : “Giặc gây sự ở Tuyên Quang, chẳng qua là bọn tiểu yêu, dư đảng của nó lan ra, không có ngón tài giỏi gì. Lê Văn Đức vừa tiến quân đến, chúng quả thua chạy, dễ như bẻ củi mục. Thế mà Hoàng Văn Quyền nhiều lần tâu báo, phần nhiều hoang mang, rầm rộ. Nay thử nghĩ lại, không thẹn chết à ? Từ nay trở đi, nên yên lặng bình tĩnh, không được chỉ sợ hão huyền”.


    Lại thông tư cho lũ Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc nên lập tức chia quân chẹn giữ chỗ hiểm, đón đường chặn đánh mau dẹp tan lũ giặc xâm lấn quấy rối địa phận trong tỉnh. Một khi chúng được tin nghịch Vân thua vỡ, thế tất sợ bóng gió, chạy trốn để cầu sống.


    Lại truyền dụ cho Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc : nên tìm cách thế nào, bắt hoặc chém bọn giặc làm cho ra án, thì còn có thể khoan miễn được tội trước. Nếu để cho giặc chạy trốn, không một tên nào bị chết hoặc bị thương, tức là có lỗi nặng đó ! Vậy ra lệnh cho Binh bộ chia lời dụ đi các nơi cho biết.


    Tuần phủ Lạng - Bình Hoàng Văn Quyền tâu nói : “Số quân ở tỉnh không có mấy, lần lượt phái đi Cao Bằng làm việc bắt giặc, ngăn chặn địa đầu Lạng Sơn và đóng giữ các đồn bảo chỉ còn hơn 200 người. Nay tỉnh Cao Bằng có giặc, đương lúc khẩn cấp. Bọn giặc Thái Nguyên ngày càng lan rộng. Nếu đem số quân ấy đi tiếp ứng cho Cao Bằng, thì tỉnh Lạng Sơn bỏ trống rỗng. Vậy, xin phái ngay cho 1, 2 cơ, vệ quân tinh nhuệ ở các tỉnh đến lệ thuộc để điều khiển”.


    Vua ban dụ quở rằng : “Ngươi là Tuần phủ đại viên gặp chút biến động nhỏ ấy, không thi thố được chút chước mưu gì, chỉ những cuống quýt hoang mang. Trước đã có chỉ ban quở và phạt bổng để răn dạy rồi, nay còn chưa biết sợ hãi hối hận, cứ một niềm sợ hão, thường thường đem việc đã nguội lạnh rồi, cho chạy vào tâu nhàm, làm hãi tai mắt người ta. Thật rất đáng bỉ, đáng ghét ! Ta đã dự trù liệu trước, riêng phái biền binh tỉnh Hà Nội tiến lên Cao Bằng hội tiễu. Chắc rằng có thể hẹn ngày dẹp yên được bọn giặc quèn ấy. Từ nay về sau, không được hoang mang rầm rộ như thế. Nếu còn mãi vậy, tất phải giao cho đình thần nghị tội”.


    Đồ đảng giặc ở Tuyên Quang xâm lấn bức bách đồn Trung Thảng tỉnh Cao Bằng. Thổ ty giữ đồn là Nguyễn Hữu Giản, Suất đội tỉnh phái là Bế Kim Mậu lui về Công Lĩnh.


    Phó quản cơ Cao Bằng là Nguyễn Bá Nhiên, Cai đội là Nông Trí Hậu và Nguyễn Hữu Viên đem quân chống đánh, quân đều tán lạc cả. Lũ Nhiên cũng rút chạy.


    Lãnh binh Vũ Văn Lợi và Suất đội Nguyễn Hữu Thiều cũng từ thôn Bình Lãng, theo đường về tỉnh. Giặc bèn chiếm cứ châu Thạch Lâm, ở gần tỉnh thành.


    Thự Bố chính Bùi Tăng Huy, án sát Phạm Đình Trạc và Lãnh binh Phạm Văn Lưu chia nhau đốc suất phòng giữ để đợi quân cứu viện. Làm giấy phi tâu lên vua.


    Vua dụ quở rằng : “Tỉnh các ngươi hiện có tới nghìn quân. Nếu biết giữ chỗ hiểm yếu, để chặn đánh, thì cũng dễ đánh được quân giặc ô hợp kia. Các ngươi lại phân phái linh tinh, chẳng thành cơ đội gì ! Một khi nghe tin báo nhảm thì rút lui ngay, chưa từng có đối trận đánh nhau bao giờ ! Hèn nhát như thế, thật đáng ghét !


    “Bùi Tăng Huy và Phạm Đình Trạc, trước đã giáng 2 cấp, nay lại giáng 2 cấp nữa. Lãnh binh Phạm Văn Lưu, Vũ Văn Lợi, Phó quản cơ Nguyễn Bá Nhiên và các Cai đội, Suất đội đều trước phải giáng 2 cấp.


    “Vả, nay bọn giặc lớn Nông Văn Vân đã bị quan quân tỉnh Tuyên Quang đánh tan. Lại đã riêng phái 500 biền binh Hà Nội đến tỉnh ngươi hội tiễu, chắc lũ giặc quèn ấy sẽ bị dập tắt ngay được.


    “Lũ các ngươi ai nấy cần nên hăng hái, đợi quân Hà Nội đến, cùng nhau ra sức giết giặc, lập công, để chuộc tội trước. Và từ nay về sau, việc thua lui nhỏ nhặt như thế, không được cho chạy ngựa chuyển đệ công văn, chỉ uổng để trạm phải nhọc mệt !”.


    Rồi lũ Bùi Tăng Huy lại cho phi tấu nói : “Quản cơ Lạng Sơn là Phan Văn Diệm hiện đã đem biền binh đến tỉnh tiếp viện, nhưng gần đây, lính thổ được phân phái đi ngăn chặn giặc, phải rút lui vì bị giặc đánh và bức bách, hãy còn chưa về đến tỉnh. Nay quân cứu viện tuy đã đều họp cả, nhưng cũng phải có lính thổ để dẫn đường mới có thể tiến đánh được. Vậy nghĩ nên ở lại độ dăm ba ngày nữa, để cho quân cứu viện từ xa đến được nghỉ một chút, và những lính thổ tán lạc lại trở về, rồi sau sẽ phân phái đi đánh giặc”.


    Vua lại dụ quở rằng : “Giặc ấy lấn vào địa phận hạt mình, chẳng qua là bọn giặc nhỏ linh tinh. Lũ các ngươi có chức phận giữ bờ cõi, mà chẳng thi thố được chước gì, mỗi khi nghe tin báo nhảm, tức thì sợ hão, trước sau trong khoảng 5 ngày, đã cho chạy ngựa trạm đệ tâu đến 4 lần rồi ! Nhiều lần đã từng quở bảo, mà vẫn còn cứ theo ý làm càn, thậm chí báo cáo về nhật kỳ bộ biền đến tỉnh cũng cho ngựa chạy trạm ! Sao không nghĩ tới đường sá mưa nắng, lặn lội nhọc nhằn, cung trạm chịu đựng thế nào được ? Nay bất tất phải xét kỹ nữa, đợi sau này sẽ có chỉ dụ răn bảo”.


    Bọn Thảo nghịch Hữu đạo tướng quân Nguyễn Văn Trọng, Tham tán Trương Minh Giảng và Hoàng Đăng Thận ở quân thứ Gia Định tâu nói : “Bọn giặc ở trên thành đêm nào cũng bốn mặt bắn đại bác ra luôn luôn. Quân ta cũng đưa đại bác lên trên núi đất, bắn trả lại. Rồi đó tiếng súng của giặc thưa thớt dần dần, dường có vẻ sợ. Nhưng chúng vẫn ẩn nấp trong thành, chưa rõ bị thương và chết nhiều ít thế nào. Quân ta chỉ có 1, 2 người và 1 thớt voi chiến bị thương thôi.


    “Và ty lại ở Phiên An có nhiều người đã làm những chức lặt vặt của giặc, nay đến trước quân xin thú và hàng phục. Bọn thần đã chia cho họ làm việc viết và tính toán”.


    Vua dụ rằng : “Trước đây ta đã hẹn với các Tướng quân và Tham tán nội trong tháng 8, phải bắt hoặc chém cho được tên nghịch Khôi, sớm báo thành công. Nay đã sang tiết tháng 9, ta đương thiết tha ngóng trông. Khi được tin báo, chỉ thấy nói đêm nào cũng bắn súng để đối địch với giặc, thử nghĩ xem có ích gì không ? Vả lại, quân ta vây đánh 4 mặt, sao không bắn vào lúc sáng rõ để cho súng lớn súng nhỏ có chuẩn đích, chớ bắn vào lúc đêm khuya, thì giặc có bị thương và chết hay không, đã chưa biết được, lại sợ đạn bay vượt qua thành, lỡ làm bị thương quân ta, há chẳng phải lại là không tốt ? Và, voi chiến bị thương 1 con ! Nay giặc đã khốn đốn, đóng giữ cô thành, chứ không phải là dã chiến, sao không chăn nuôi voi chiến ra xa, lại để gần bên thành, đến nỗi súng đại bác của giặc bắn cho bị thương, thế cũng là thất sách !


    “Đến như những ty lại đã theo giặc cũng chẳng phân biệt tình trạng, làm danh sách liệt kê tên người và quan chức tâu lên, chỉ nói lược qua thôi. Thật là mập mờ lộn xộn !


    “Nay tìm cách đánh thành là việc rất khẩn thiết ! Vậy ở bốn mặt sau lũy đều dựng một cái chòi vọng địch, cao ước 3 trượng, hằng ngày sai người mang kính thiên lý lên chòi nhòm vào trong thành, để xem tình hình hư thực của giặc. Còn ở trong lũy thì tuân theo dụ trước, mỗi lũy đắp một ụ đất cao ước hơn 15 thước, có thể nhòm vào trong thành được, tức thì kéo đại bác lên để trên ụ, hễ người đứng nhòm chỉ cho chỗ giặc tụ đông, tức thì sai người bắn giỏi, nhằm bắn ra, thì giặc không chỗ ẩn tránh được.


    “Các Tướng quân và Tham tán nên làm thế nào, phải đồng lòng lo việc nước, chớ chia rẽ nhau, cùng bàn bạc để hội tiễu, sớm thành công to, mới không phụ trách nhiệm ta đã uỷ thác. Nếu lâu mãi không dẹp yên được giặc, thì lấy gì để trả lời ta ?


    “Lại, nay đường thuỷ đường bộ đã liên lạc với nhau, có thể hội quân với nhau được. Vậy từ nay về sau, tâu báo việc quân, nếu đạo nào có công trạng gì, thì cứ tự tâu lên. Đến như kỳ hẹn 3 ngày 1 lần tâu, thì các Tướng quân và Tham tán đều hội đàm tâu chung, chớ nên mỗi đạo riêng một tập”.


    Người Thanh ở phố Lạc Dục, huyện Long Xuyên, tỉnh Hà Tiên là Lâm Đại Mạnh, Lâm Nhĩ, Trịnh Đại Nô tự xưng là Nhất ca, Nhị ca và Tam ca((1) Anh Cả, anh Hai và anh Ba.1) tụ họp đến vài trăm quân giết viên Tri huyện Nguyễn Văn Năng cùng với vợ con và môn thuộc của viên ấy đến 12 người. Người Thanh ở phố Lạc Tân là Trịnh Thần Thông và Trần Biện ((1) Tên này Hán văn viết : Bên tả bộ mộc, bên hữu thạch trên chấp dưới ( ). Tra các từ thư, không thấy có. Vậy chúng tôi tạm phiên âm là Biện ( ) cho tiện đọc.1) nguỵ xưng là Chánh phó thống binh, cùng với bọn trên kết làm bè đảng, rông rỡ cướp bóc.


    Tỉnh phái quyền sai Đội trưởng cơ Hà phú là Nguyễn Văn Thuỵ, họp tập dân phu đánh dẹp tước được 2 chiếc thuyền giặc, bắt sống được Trịnh Thần Thông, chém được Trần Biện và bọn nó hơn 30 đầu. Lũ Lâm Đại Mạnh chạy thoát.


    Cháu họ Mạc Công Du là Mạc Hầu Chấn cũng bắt được 6 tên phạm Thanh thuận, Bắc thuận ở trong đảng nguỵ.


    Quyền biện tỉnh vụ là Hồ Công Chỉ đem việc ấy báo cho viên quan bị cách là Lê Đại Cương để chuyển báo đến quân thứ Thảo nghịch Tả tướng quân, xin chước lượng phái quân tinh nhuệ đến trấn áp.


    Tống Phước Lương đem việc ấy tâu lên và nói sẽ đợi các Hộ phủ, Bố chính, án sát, Lãnh binh tỉnh An Giang, Hà Tiên mới được bổ, đi đến quân thứ, tức thì phái biền binh đi hộ vệ, nhân tiện chia đi tuần tiễu, lùng bắt giặc trốn để dân được yên.


    Vua chuẩn y lời tâu ấy. Ra lệnh thăng Nguyễn Văn Thuỵ lên Cai đội, thự Phó quản cơ, theo tỉnh sai phái.


    Những người cùng đi đánh trận ấy, dân phu thì thưởng tiền 300 quan. Mạc Hầu Chấn thưởng 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn.


    Sau đó, Lâm Đại Mạnh và hơn 20 tên tòng đảng bị viên phủ Ba Thắc bắt được, đều giết đi cả.


    Các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu nói : “Nay quân ta bao vây bốn mặt. Giặc ở trên thành, đặt liền những ngựa gỗ lớn. Gần đây, các hạng biền binh Nam Kỳ trước ở trong thành, có người leo thành trốn ra, có người nhân ra ngoài thành cắm chông, cắt cỏ, thừa cơ sơ hở, đến thú và đầu hàng quân ta. Hỏi ra thì chúng đều nói : “Tám cửa thành giặc đều đóng chặt, duy có cửa Gia Định, thì thỉnh thoảng lén lút mở, cho đồ đảng ra nhặt lấy ván gỗ và rơm cỏ ở bờ hào. Còn kho thuốc đạn thì chung quanh đắp luỹ đất, trên ghép tấm ván để che đỡ đạn súng lớn. Nghịch Khôi và các đầu mục giặc đều đào hầm che ván để ở. Trong thành vẫn còn voi mạnh 20 con. Bọn Hồi lương, Bắc thuận, người Thanh, tín đồ đạo Gia tô ước trên dưới 1.000 người, theo giặc cố chết giữ. Đến như các hạng quân và dân ở Nam Kỳ trước bị giặc cưỡng ép dụ dỗ ước hơn 300 người, có nhiều phụ nữ bị cùng khốn, muốn trốn ra. Nhưng giặc giữ rất kỹ, chưa thoát ra được.


    “Lại có nguyên Quản cơ cơ Vĩnh nhuệ hữu người Chân Lạp là Sơn Tốt, đem 50 quân Chân Lạp lẻn ra thú, nói rằng : “Trước đây, theo Lê Phước Bảo đi đánh giặc, trận thua ở Cầu úc, bị giặc bắt được, cho làm nguỵ đô quản lãnh, để ở trong thành, còn lính thì chia ra, lệ thuộc đồ đảng giặc quản thúc. Người Chân Lạp, vì lấy tiếng nước mình thông báo cho nhau, nên nhân đêm lẻn trốn ra. Bọn thần đã ưng cho họ đầu thú rồi, lại đem lính Chân Lạp đi tòng quân để họ đua sức làm việc. Còn các hạng quân dân đều cho về nguyên ngạch, tuỳ việc sai phái.


    “Và lũ giặc nay đã thế cùng, chiếm giữ cô thành, tạm được lúc nào hay lúc ấy. Nhưng muốn đánh thắng mà quân mình được toàn vẹn thì cần phải xem xét mà lựa thời cơ. Nếu đánh thành gấp quá, thì dưới mũi tên, những hạng như lũ Bắc thuận, Hồi lương, Gia tô và người Thanh chết sạch cũng chẳng sao, nhưng còn những dân bị giặc bắt hiếp phải theo, hoặc giả đến nỗi mắc tai vạ lây, và những biền binh xông pha đánh thành không khỏi nhiều người bị thương tổn. Vì thế bọn thần còn phải hội đồng bàn bạc, định ngày sớm mang cờ đỏ báo tin thắng trận để làm phỉ lòng vua”.


    Vua dụ rằng : “Mở xem sớ tâu, vẫn biết đảng giặc đã như hồn cá lượn lờ ở đáy nồi, chẳng mấy ngày nữa cũng sẽ tới chỗ bị giết ! Quan quân đem thân mình xúm xít vào nhau để tiến công, thì không khỏi tổn thương nhiều, lòng ta không nỡ. Duy có điều là bọn giặc hãy còn ngày nào thì lòng ta càng thêm lo lắng ngày ấy, và nhân dân cũng không được nằm yên trên chăn gối ngày ấy. Các ngươi nên : trên thể theo lòng ta, dưới giúp yên dân chúng, nếu cầm cự kéo dài, thì vừa lòng ta thế nào được? Huống chi, đối với những lũ ở trong thành, ta hiểu rõ điều thuận, điều nghịch, thì đã đầu hàng rồi, lại còn đợi gì nữa ? Đến như đàn bà con gái, phần nhiều là vợ con giặc, đáng thương nỗi gì ?


    “Các ngươi cầm quân đánh giặc, nên nghĩ làm cho oai linh truyền xa, chớ mang lòng nhân như đàn bà con trẻ, mà giữ ý dùng dằng. Nay nên nghiêm túc tuân theo lời dụ trước : đắp thêm ụ đất, bắn đánh vào thành, cốt sao giết hết lũ giặc, sớm thành công to, không thể kéo dài mãi được.


    “Và quân quan bao vây bốn mặt, ban đêm sao không nghiêm sức tuần tiễu, để đến nỗi ở trong bọn giặc, bọn kiếm gỗ, cắt cỏ, còn có thể ra vào dưới thành ? Phòng bị như thế rất là sơ suất !


    “Lại như nguyên Quản cơ Sơn Tốt là người Chân Lạp đã chịu chức nguỵ, nay lại đầu hàng, thì hãy tha cho tội chết để khuyến khích kẻ sau này. Còn Sơn Tốt và lính Chân Lạp thì nên liệu tính chia cho lệ thuộc [quân ta] để chúng đua sức làm việc, nhưng phải bí mật kiềm chế quản thúc”.


    Rồi vua lại sai Binh bộ truyền dụ rằng : “Trước đây, ta hẹn với các ngươi nội trong tháng 8 có thể làm thành công được việc đánh dẹp ở Nam Kỳ. Gần đây, tưởng đã có cờ đỏ báo tin thắng trận ; không ngờ nay đã ra ngoài tháng, lại gần hơn 1 tuần, thế mà vẫn chưa tiếp được tin mừng. Trông ngóng lại càng nóng nảy tha thiết.


    “Vừa đây, cứ như lời tâu, nếu gấp đánh thành, thì sẽ có sự bị thương và chết nhiều, vân vân… Vẫn biết các Tướng quân có lòng nhân hậu, không nỡ giết nhiều. Nhưng đáng tiếc rằng lòng nhân hậu ấy không áp dụng ở khi vô sự bình thường, mà lại đem thi thố ở lúc đánh giặc.


    “ Ôi ! Đạo làm tướng cốt lấy trí, dũng làm đầu, chứ có cần chăm lo đến nhân hậu nhu mì đâu ? Nếu kéo dài cho giặc được chậm chết, thì trăm họ không yên ở, quân lính bị nhọc nhằn, thế là bất nhân mà lại không khôn nữa !


    “Vả, mưu chước đánh thành, như : đặt liền súng đại bác, bắn phá cửa thành, và nhân đêm, chất lửa đốt các cánh cửa, và ném chấn địa lôi đánh phá trong thành. Giặc dẫu đào hầm mà nấp, cũng không có chỗ ẩn mình ! Những lời ta đã lần lượt dụ bảo từ trước đến nay đã thi hành chưa ? Nếu cho lời ta nói là vô ích ; để đấy không làm, thì cũng nên tâu lại, sao cứ im đi ?


    “Lại nữa, ngoài các phương lược ấy ra, nên lén đào đường hầm, có thể vào suốt trong thành, hoặc nhân ban đêm, chọn lấy những tay dũng sĩ, lén khoét hoắm chân thành sâu độ 3, 4 thước, lấy ván gỗ đỡ, dưới chống bằng cột, nhét đầy vào vài mươi trăm cân thuốc súng. Châm lửa vào ngòi sợi dây có thuốc thả vào, thì thành vỡ ra, đất bay tung, quan quân huơ gươm, sấn vào. Đó cũng là một cách cần làm. Sao không bí mật bàn tính với nhau mà làm, để lập được công lạ ? Huống chi trong chuyến đi đánh này, tướng biền, binh sĩ có nhiều, há lại không một ai có thể bày mưu chước lạ để hạ thành ru ! Sao không hỏi han cho rộng, nếu có người nào bày mưu lập chước lấy được thành ấy thì liền thưởng cho 1.000 lạng bạc, hoặc họp những người dũng cảm lại, nhân ban đêm xông lên thành, quân quan theo sau tiến vào, thì cũng thưởng 1.000 lạng bạc. Cốt sao ai lấy tự mình thi thố, để sớm thành công, chớ nên chỉ đóng nhiều quân, để ngầm ngập kéo dài. Còn một ngày chưa diệt được giặc, thì ta còn một ngày ăn uống không ngon ! Vả lại, sợ rằng lâu ngày quân lính sinh lòng trễ tràng, để cho giặc nhân chỗ sơ hở lẻn ra, hoặc giả lại xảy ra sự biến khác, thì công trước của các ngươi sẽ đổ đi hết, mà đình thần nghị tội, các ngươi sẽ làm thế nào ?


    “Ta đã bảo đi bảo lại đến vài bốn lần, nói nhiều cũng không quản ngại. Vậy các ngươi phải nghiêm cẩn tuân theo, chớ xao lãng !”


    Ra lệnh cho lũ Hộ vệ Cảnh tất ty Cai đội là Phạm Văn Đàm và Đội trưởng là Nguyễn Cửu Thân 5 người đi đường trạm, đến tỉnh Gia Định, thuộc dưới quyền điều khiển của các Tướng quân, ném chấn địa lôi để đánh phá tổ giặc. Mỗi người được cấp tiền lộ phí 2 lạng bạc. Lại phái biền binh thuỷ quân đi thuyền Tuần hải Nhất hiệu chở thuốc đạn (chấn địa lôi hơn 700 quả, tán đạn 1.000 cân, thuốc súng 30.000 cân) đến quân thứ.


    Vua bảo bộ Binh rằng : “Hai chiếc thuyền lớn Thuỵ long và An dương, năm ngoái phái đi nước ngoài, vừa rồi mới về, lại phái đi làm việc bắt giặc ở Nam Kỳ, hằng năm sai phái mãi, tưởng các vật kiện phụ tùng vào thuyền như buồm, dây dầu và thừng kéo, không khỏi hư hỏng. Nay đại đội bộ binh đã thấy nhiều rồi, có thừa sức đánh thành được. Biền binh thuỷ quân để nhiều ở đấy cũng không làm gì. Vậy truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán : sức ngay cho biền binh nguyên trước ngồi ở hai thuyền ấy, trích lấy hai chiếc thuyền ô và thuyền lê, phối hợp với thuỷ quân và 60 người ở vệ Cẩm y lần trước đã phái đi, chia ra mà ngồi thuyền, đi trước về Kinh. Nếu thuận gió đến Kinh hoặc tấn sở Đà Nẵng thì tốt. Nhược bằng không thuận buồm xuôi gió, thì đi đến những chỗ như loại cửa biển Bình Định, đậu lại, tuỳ tiện tu bổ, cho được thuận tiện, để đợi sai phái cũng được. Còn những biền binh nguyên trước ngồi ở 2 thuyền lớn ấy đóng ở hạt nào vẫn cứ lưu lại ở đấy để phòng thủ. Ngoài ra thuỷ quân và biền binh vệ Cẩm y, chuẩn cho đi đường bộ về Kinh, trở lại hàng ngũ”.


    Truy tặng Phó vệ uý Hổ oai Trung vệ là Trần Đình Uẩn làm Vệ uý, hàm Chánh tam phẩm, cấp tiền tuất gấp đôi.


    Uẩn trước đã đi làm việc bắt giặc, có chút công lao, đến bấy giờ ốm chết, nên được truy tặng.


    Đổi bổ Vệ uý ở Tiền bảo nhị là Giáp Văn Tân làm Phó vệ uý ở vệ Hổ oai trung. Ra lệnh cho thự Phó vệ uý ở vệ Tiền bảo nhị mới được bổ là Tôn Thất Bật đi đường trạm đến tỉnh Sơn Tây, quản lĩnh vệ binh lưu thú ở đấy. Chuẩn cho Giáp Văn Tân tức thì chuyển đến chỗ quân thứ ở tỉnh Ninh Bình để cung chức.


    Cho Giáo thụ phủ Lý Nhân là Nguyễn Duy thăng thự Đốc học tỉnh Hưng Yên.


    Thự Tổng đốc tỉnh Hải Dương Nguyễn Công Trứ tâu nói : “Đối với những dân xiêu giạt ở trong tỉnh, đã vâng lệnh chẩn cấp hậu cho một lần rồi, nhưng trong đó có nhiều người gầy yếu, không thể đi được ; vậy xin hằng ngày nấu cơm để chẩn cấp cho”. Vua y cho.


    Bọn phỉ Tuyên Quang 500 tên từ châu Lục Yên lấn chiếm đồn Trấn Hà tỉnh Hưng Hoá.


    Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn được tin báo, tức thì phái Quản cơ cơ Hữu dũng là Lâm Uy đem quân đi đánh. Rồi đem việc ấy tâu lên và xin : “Đợi án sát Trịnh Văn Nho tới tỉnh, tức thì đem quân và voi đi tiễu”.


    Vua dụ rằng : “Đấy chẳng qua là lũ tiểu yêu lẻ tẻ. Nay bọn lớn nghịch Vân đã bị quan quân đánh thua, chắc chẳng mấy ngày lũ ấy sẽ bị dẹp tan ngay. Nếu những bộ biền ngươi đã phái đi ấy có thể đánh giặc được thì thôi, nhược bằng tình hình hiện tại, chính ngươi tất phải đi, thì cũng chuẩn y lời ngươi đã xin”.


    Tuần phủ Lạng - Bình Hoàng Văn Quyền tâu nói : “Bọn phỉ lấn bức Cao Bằng, đã gần đến tỉnh thành rồi ! Việc đương nguy cấp. Tỉnh thần tỉnh ấy tư xin vát thêm biền binh đến cứu, thần đã kíp tư cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ ở Thái Nguyên gần đấy thì đến để điều khiển. Vâng xin gấp phái 1, 2 đại đội quân tinh nhuệ ở các tỉnh đến nhanh tiếp ứng, để giữ cho khỏi xảy biến cố gì khác”.


    Vua dụ rằng : “Vừa tiếp được tờ tâu của Cao Bằng, báo rằng viện binh Lạng Sơn đã đến, đủ nhờ để phân phái đi đánh giặc. Nay tập tâu của ngươi lại trình bày rằng Cao Bằng tư nói việc kíp, lại xin quân cứu viện. Thế thì lời tâu và lời tư đều lờ mờ, không có chuẩn đích gì cả. Ngươi cũng không hay dò xét cho xác thực, chỉ một loạt cuống quýt hoang mang, uổng công chạy trạm nhọc nhằn, thật rất đáng chán ! Đến như việc phái biền binh, trước đã có chỉ dụ rồi.


    “Vả lại, lũ giặc Cao Bằng nổi lên, chẳng qua là quân ô hợp, thế mà từ trước tới nay, quan viên và võ biền một tỉnh, vì lòng nhút nhát, luống sợ hão huyền. Ngươi khá đem ngay ấn triện Tuần phủ giao cho án sát và Lãnh binh hoặc Quản cơ trông coi hộ, để giữ tỉnh thành, còn chính ngươi thì gấp đi đốc sức các biền binh trước sau đã phái đi đó luôn với quân lính hiện có ở Cao Bằng, hăng hái đánh dẹp giặc ấy, thì có thể chuộc lại tội trước một chút và lại được nhờ ơn nhà vua nữa. Nếu để giặc kia còn lan rộng ra, thì ngươi khó từ chối được lỗi nặng”.


    Rồi đó, sớ tâu xin đi đánh giặc của Quyền liền được đưa lên. Vua lại dụ rằng : “Đã có chỉ dụ cho ngươi thân đi đánh giặc, nay đã tiến đi rồi, chính là cơ hội tốt, cần nên thi thố mưu lớn, đem bọn giặc ấy đánh giết một phen thật nặng, bắt hoặc chém, làm cho ra án. ấy là trách nhiệm của ngươi, không được nói một đằng làm một nẻo”.


    Lãnh binh Bắc Ninh Trần Văn Duy đánh nhau với giặc ở đồn Chợ Mới tỉnh Thái Nguyên bị thua, quân bị thương và chết nhiều, để mất súng ống, khí giới và một thớt voi chiến, phải rút đóng ở Chợ Đô.


    Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ, từ tỉnh thành Thái Nguyên, thân đem quân và voi tiến lên, vừa đến xã Quan Triều (thuộc huyện Phú Lương), được tin báo, lập tức phi đệ tờ tâu lên, và nói : “Chợ Mới là nơi cổ họng xung yếu, lần lượt đã phái đến nhiều quân, voi, súng và khí giới. Nay đồn ấy thất thủ, thần xin chịu tội điều khiển không được đến nơi đến chốn”.


    Vua dụ rằng : “Giặc ấy chỉ là một trong đảng nghịch Vân, số lượng dẫu nhiều, nhưng chẳng qua là quân quần tụ ô hợp. Trước đây, phân phái quân đi linh tinh, đã là thất sách, ta đã xuống đụ bảo tập hợp đông lại, xem chỗ nào hiểm yếu, ra quân kỳ để chiến thắng giặc, dẹp cho sớm yên. Không ngờ ngươi là Tổng đốc đại viên, được giao cho thống lĩnh biền binh đi đánh dẹp, điều khiển lỡ làng, hoàn toàn không có thao lược một người làm tướng, nên nỗi bị thua ! Vậy chuẩn cho lập tức cách chức, nhưng vẫn cho ở lại làm việc.


    “Lãnh binh Trần Văn Duy coi một đạo quân lính, voi, súng ống khí giới cũng không phải ít, thế mà không mạnh dạn tiến lên, chỉ toan lùi bước, để cho bọn giặc rông rỡ ngang ngược đến nỗi quân lính, súng ống và khí giới bị tổn hại nhiều, thậm chí con voi chiến cũng bị phỉ tước mất. Tội ấy thực không thể tha được. Vậy cũng lập tức cách chức, bắt làm lính, nhưng vẫn cho ở trong quân đua sức làm việc để chuộc tội.


    “Những người cùng đi chuyến ấy : Quản cơ cơ Tiền thắng là Trần Đại Tựu, Phó quản cơ cơ Lạc dũng là Nguyễn Luyện cũng đều cách chức, nhưng vẫn cho ở lại làm việc.


    “Vả, bọn lớn nghịch Vân, trước bị Lê Văn Đức đánh dẹp, đã ôm đầu chạy trốn như chuột, không thi thố được một nghề gì, thì tin rằng một bọn ở trong đảng nó chắc không phải đánh cũng sẽ tự tan vỡ, thế mà chúng lại còn hung hăng như thế, đó đều bởi lũ các ngươi vô tài quá lắm, mà lũ Lãnh binh, Quản suất đều là hèn nhát, để đến nỗi biền binh chỉ sợ giặc, không sợ tướng, nên mới bị thua như thế !


    “Trước đây, ta đã phái thêm biền binh, có sinh lực của tỉnh Hà Tĩnh tiến ra hội tiễu, hiện nay chắc cũng đến tỉnh rồi. Ngươi nên tự hăng hái cố gắng thêm lên, chấn chỉnh hàng ngũ quân lính, tuỳ thời cơ, liệu cách chiến thắng, bắt hoặc giết sạch bọn giặc ấy đi. Từ Lãnh binh đến Suất đội khi ra trận, nếu có người nào nhút nhát lùi bước, chuẩn cho tức thì chém đầu đem rao ở trong quân”.


    Lại truyền dụ cho Lê Văn Đức trích lấy biền binh ở Nhất vệ quân Thần sách tỉnh Nghệ An là lính đang tòng chinh ấy đi mau đến Thái Nguyên đặt dưới quyền sai phái của Nguyễn Đình Phổ.


    Cho Thành thủ uý phủ Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị là Tống Văn Trị, thăng thự Lãnh binh tỉnh Thái Nguyên. Ra lệnh cho lập tức đi mau đến tỉnh lỵ cung chức.









    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cvi



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 9.

    án sát tỉnh Vĩnh Long Doãn Uẩn tâu nói : “Trước đây, tỉnh thành thất thủ, nguyên Tổng đốc Lê Phước Bảo chạy đến thủ sở Yên Thái, thủ ngự ở đó là Hoàng Văn Sương cùng dân trong hạt là Nguyễn Văn Nguyên bắt đưa cho đồ đảng giặc là Hoàng Văn Thông, nhận tiền thưởng của giặc là 500 quan. Hiện nay chúng đã bị bắt. Vậy xin trị tội cho phép nước được nghiêm chỉnh”.


    Vua dụ rằng : “Lê Phước Bảo là Tổng đốc đại viên, chính mình trông coi đại đội binh thuyền, đã không hay ra sức giết giặc, để đến nỗi bị thua xiểng liểng, lại không hay chiêu tập quân nghĩa dũng, để toan tính việc khôi phục, ôm đầu chạy trốn như chuột, thực thừa đáng tội chết. Nhưng, Phước Bảo là quan chức của triều đình, thế mà lũ Hoàng Văn Sương và Nguyễn Văn Nguyên không đem giải nộp cho quan, lại đưa cho giặc, rất đáng ghét. Vậy xử tử Sương và Nguyên bằng tội lăng trì, rồi chém đầu đem bêu cho mọi người biết”.


    Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường tâu xin : “Phàm những phạm nhân ở 2 tỉnh Hà Nội, Ninh Bình can án mà trốn tránh, không kể phạm đã nhiều lần hay mới phạm, nếu là phạm chính yếu thứ yếu của giặc lại bắt được những tên phạm chính yếu thứ yếu của giặc, đầu sỏ cướp lại bắt được những tên đầu sỏ cướp mà giải đến, hoặc tố cáo hay chỉ dẫn bắt được, cùng là đem hết khí giới của bọn giặc ra đầu thú, thì đều được khoan miễn. Những tòng phạm giặc cướp bắt giải được bọn đầu sỏ, hoặc tố cáo để bắt được thì tha tội, lại chiếu theo luật, liệu lượng thưởng cấp thêm
  • Chia sẻ trang này