0060.0079

12/1/16
0060.0079
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    dõng, 2 chiếc thuyền lê, 3 chiếc bản thuyền trang bị làm thuyền chiến, 17 chiếc thuyền chở lương, đi riêng từ sông Lô đến đồn Ninh Biên.


    Đức thân đem lính dõng và tuỳ tùng hơn 2.500 người, các hạng súng du sơn, đại luân xa, thần công, quá sơn 24 cỗ, voi chiến 10 con, từ sông Lô theo bờ bên tả sông Gâm tiến lên.


    Trứ thân đem lính đõng và thuộc hạ hơn 2.400 người, các hạng súng đại luân xa, quá sơn 19 cỗ qua sông Lô, theo bờ hữu bên sông Gâm tiến đi. Định ngày giáp lại đánh đồn Phước Nghi để lấy đường đánh thẳng vào giữa sào huyệt ở Vân Trung.


    Tờ sớ tâu vào, vua dụ rằng : “Lũ các người nên đồng lòng làm việc nước, bày nhiều mưu hay, sớm báo tin thắng trận, tất có trọng thưởng”.


    Đổi bổ thự Vệ uý vệ Loan giá là Tôn Thất Tường làm Phó vệ uý vệ Tả nhất quân Vũ lâm.


    Thưởng cho ngự y là Nguyễn Tăng Long và Vũ Doãn Tuấn đều gia 1 cấp, lũ y chánh và y phó 11 người đều được kỷ lục 1 thứ.


    Vua dụ Nội các rằng : “Trước đây viện Thái y dâng thuốc Ôn tạng hoàn((1) Ôn tạng hoàn : thứ thuốc viên uống để ngũ tạng (tim, gan, lá lách, phổi, mật) được ấm.1), gần đây, ta dùng thuốc ấy có hiệu nghiệm, thực hay trị được chứng giun để trừ bệnh hoạn tâm Phước. Đáng khen là thuốc hay”. Vua bèn thưởng cho.


    Vua nhân đó cùng với các thị thần bàn về tính chất các vị thuốc, nói : “Phàm các vị thuốc, dùng đúng thì hay, như nhân sâm, cam thảo, dùng lầm thì cũng hại người ; bạch giới, bạch chỉ, khéo dùng thì cũng có công hiệu. Vậy biết trong khoảng trời đất không có vật gì bỏ đi, chỉ cốt ở người ta khéo dùng thế nào đó thôi!”.


    Thự Hữu quân Nguyễn Văn Xuân vào chầu.


    Xuân tuổi hơn 80, vua yên ủi rằng : “Ngươi tuổi tác già nua, sức vóc đã kém, nay gặp tiết trời rét mướt, ngày ngày cố gắng đến hầu, không khỏi nhọc mệt. Đó không phải là điều ta muốn tỏ ý hậu đãi bầy tôi già. Từ nay về sau, chuẩn cho ngày nào tạnh ráo thì vào chầu, nếu gặp ngày mưa rét thì miễn cho”.


    Lại bảo lũ thị thần là Nguyễn Khoa Minh, Phan Huy Thực và Trương Đăng Quế rằng : “Ta vẫn thể tất các bầy tôi, đã sắc sai giải chiếu ở trên đền, để cho người tâu việc lên quỳ, khỏi rét lạnh, thế mà 2 năm nay không ai đến đấy quỳ cả. Ta nghĩ không biết tại sao ? Hôm nọ, nhân gió mưa, sai cuốn đi, thấy dưới có chiếu mây, mới biết vì cớ quỳ thì đau đầu gối, liền sai đổi lại. Lũ các ngươi từ trước đến nay không quỳ cũng không nói, khiến ta mang tiếng là có điều thiếu sót về đạo đối đãi với bầy tôi.


    “Đấy là việc nhỏ ở trước mắt, mà thông minh của ta còn có chỗ không tốt, huống chi việc khác !


    “Ôi ! Trong chốn vua tôi, tình nghĩa cũng như cha con, điều gì nên nói thì cứ nói, chứ đừng giấu”.


    Định lại thể lệ đại thần ban võ vào túc trực.


    Vua bảo Nội các rằng : “Trước đây đã chuẩn định văn, võ đại thần mỗi ngày mỗi ban một viên, luân phiên, lần lượt vào túc trực. Nay đại thần ban võ, phần nhiều được phái đi làm việc bắt giặc. Vậy bắt đầu từ ngày 17 tháng này, đổi lại : đại thần ban võ, cách 1 ngày, 1 viên lên túc trực. Trong ngày miễn túc trực ấy, tấm bài vào túc trực của võ ban quyền giao cho Nội các giữ, khoá và chìa khoá cửa cung lớn, và hòm ấn công đồng đều giao cho viên văn thần đến phiên đi túc trực giữ. Đợi khi việc bắt giặc xong [các đại thần võ ban] trở về, sẽ lại theo như lệ trước”.


    Chuẩn cho Tướng quân, Tham tán đến Suất đội ở quân thứ Gia Định được lĩnh cả tiền lương tháng 9, tháng 10 một lúc. Văn võ làm việc bắt giặc, trước đây, đã được chuẩn y lời bộ bàn, chước lượng cấp tiền, gạo có thứ bậc.


    Vua nghĩ rằng : “Địa phương sở tại, vật giá đắt đỏ, chi dùng có khi không đủ, cho nên đặc cách gia ơn như thế”.


    Tướng quân ở quân thứ Gia Định là Trần Văn Năng và Tống Phước Lương vì ý kiến khác nhau, làm mất hoà khí.


    Vua nghe biết mật dụ rằng : “Ta đem việc quân trọng đại giao cho các Tướng quân và Tham tán. Các ngươi phải nên nghĩ đến việc nước, quên việc nhà, lo việc chung, quên việc riêng. Vậy mà gần đây nghe nói Trần Văn Năng, Tống Phước Lương lâm sự đều giữ ý kiến riêng, đến nỗi người bên nhòm ngó, không biết theo đâu cả. Thậm chí đánh thành là việc lớn mà hiệu lệnh không nhất trí, cho nên nhọc mệt mà không thành công, lại hại nhiều quân lính, trở để giặc chê cười. Rồi chúng liền ra ngoài thành rình lúc sơ hở, quấy rối thêm. Ai nghe thấy mà chẳng tức giận ? Thế thì các Tướng quân, Tham tán không tự biết xấu hổ à ?


    “Vả, Trần Văn Năng và Tống Phước Lương, khi ở Kinh vẫn không có hiềm khích gì, nay chịu trách nhiệm nặng nề này, bỗng sinh chống đối với nhau, là cớ làm sao ? Không nhớ ngày ra đi, ta đã dạy bảo ngay trước mặt, cặn kẽ dường nào ! Huống chi còn một ngày nào chưa dẹp yên nghịch tặc, thì ta còn ăn nằm không yên, càng thêm vất vả phải ăn trưa dậy sớm, người làm tôi con, tâm địa thế nào, lại không nghĩ đến điều đó ? Nếu có một vài ý kiến riêng, cũng chớ nên thắc mắc, mới là người đại thần lo toan việc nước. Huống chi nói năng là việc nhỏ, sao lại đến nỗi bất hòa với nhau ? Thử nghĩ xem giặc phản bội ở trước mặt, mà các Đại tướng, ý kiến lại không hoà hợp nhau thì diệt giặc thế nào được ? Sợ rằng có khi sinh biến, thì uổng công đắp núi còn thiếu một sọt đất, mà bị tội lớn làm hỏng việc quân !


    “Nguyễn Văn Trọng, Lê Đăng Doanh, Trương Minh Giảng, Hoàng Đăng Thận, Nguyễn Xuân, Trương Phước Đĩnh, Trần Chấn, các người tham gia làm việc quân cơ, không phải không nhiều, sao lại cứ xu tay lại đứng ngoài nhìn, mặc cho hai người chống đối nhau ! Vậy các ngươi không muốn gỡ lo cho vua cha, cởi ách cho sinh linh ư ?


    “Các việc nói trên, người nào còn giữ chút ý riêng, thì ban đêm vuốt bụng suy nghĩ, cố hối cải đi. Về việc đã qua, ta cũng không cần xét kỹ lắm. Nay nên cảm khích phấn khởi thêm lên, đồng lòng làm việc nước, góp nhiều trí khôn làm nên bức thành, mỗi ngày hoặc cách một ngày, các Tướng quân và Tham tán nên hội bàn một lần, trù tính việc quân cơ xong, thì đều về nơi đồn tấn, để cho tình nghĩa cảm thông lẫn nhau, chia vui, xẻ lo, không được xa cách như trước, để cho các thiên tỳ((1) Thiên tỳ : phó tướng và tướng nhỏ coi riêng một toán quân.


    1) nói truyền đi, đừng để cho kẻ tiểu nhân lẻn vào làm phản gián được. Ta nay đã thiết tha dụ bảo rõ ràng như thế, các ngươi đều phải tuân theo, chớ quên, cố gắng hăng hái mưu toan lập công, sớm phá được tổ giặc, tất được ban thưởng bậc nhất. Nếu không thế, ta sẽ thân hành thống lĩnh sáu quân, diệt được giặc ấy, rồi mới ăn cơm sáng, cho yên trăm họ, để thay sự khó nhọc cho các Tướng quân và Tham tán, có nên không ?”


    Vua dụ Bộ binh rằng : “Quân quan vây thành Phiên An, chiến cụ để đánh thành có chấn địa lôi là đắc lực hơn hết. Vậy nên lập ra cách thức ban thưởng, để cho ai nấy trổ hết sở trường của mình.


    “Nay chuẩn định : Ai hay đem đạn ấy bắn vào trong thành, giết chết đích thân nghịch Khôi, thì thưởng bạc 1.000 lạng. Ai bắn vào kho thuốc súng, phát hoả cháy lan ra thì thưởng 300 lạng. Ai bắn trúng vào nhà nghịch Khôi ở, đốt cháy được sào huyệt của nó, thì thưởng 100 lạng. Ngoài ra ai bắn chết được những tên đầu mục trong bọn giặc, thì cũng tuỳ theo tên đầu mục ấy có trọng yếu hay không mà liệu định thưởng”.


    Vua cho rằng Nam Kỳ có việc thì thuộc quốc không khỏi có sự sợ hãi ngờ vực, bèn dụ truyền Bố chính, án sát tỉnh An Giang là Đặng Văn Bằng và Bùi Văn Lý phái người đến nước Chân Lạp dò xét tình trạng để tâu lên. Lại dụ bảo Hộ lý Tuần phủ Hà Tiên là Trịnh Đường thăm dò tăm hơi người Xiêm tâu để vua biết.


    Tuần phủ Lạng Sơn - Cao Bằng là Hoàng Văn Quyền tiến đến phố Cửu Phong, châu Thất Tuyền, nghe nói lũ giặc đã lẻn vào chiếm giữ tỉnh thành Cao Bằng, quân quan ở tỉnh đều dời đến cố thủ ở đồn núi Ninh Lạc. Giặc bao vây bốn mặt, lại chia đồ đảng lấn đến Tiêm Lĩnh (đầu địa giới tỉnh Lạng Sơn). Quyền bèn đóng quân ở đồn Na Lãnh rồi làm sớ tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Ngươi có trách nhiệm đốc suất việc quân, trước vì có giặc, tự xin đi đánh, chí khí hăng hái biết nhường nào ! Nay dọc đường, nghe tin báo, chí khí đã nhụt ngay, vội đóng quân lại ; việc làm không đúng với lời nói như thế há không tự thẹn à ? Vậy, truyền chỉ ban quở : nay nên hăng hái tiến lên, đến thẳng Cao Bằng đánh cho sớm tan lũ giặc ; nếu cứ rụt rè mãi mãi, đã có quân luật đấy !”


    Cho Vệ uý Tả vệ dinh Hổ oai là Vũ Văn Giải làm Phó vệ uý vệ Hậu nhị quân Vũ lâm, vẫn lĩnh chức Thượng trà viện sứ kiêm quản các vệ, viện, đội : Thị vệ, Dực võ, Thượng thiện, Hoà thanh, Thanh bình. Cho Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị thuộc Hữu quân là Trần Bá Vinh làm Phó vệ uý vệ Ban trực hậu quân Thần sách ; Cai đội đội Cẩm y là Nguyễn Văn Vân làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhị thuộc Hữu quân ; Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất là Tô Văn Trực làm Phó vệ uý vệ Nghĩa võ quân Thần sách vẫn mang hàm Kiêu kỵ đô uý ; Cai đội đội Cẩm y là Lê Quang Quảng làm Phó vệ uý vệ Hữu bảo nhất.


    Bổ Nguyễn Văn Kỳ làm Vệ uý vệ Diệu võ quân Thần sách.


    Bắt đầu ban Nhật lịch ((1) Nhật lịch : đây có nghĩa như “hiệp kỷ lịch”, một loại âm lịch để xem ngày tháng, do “thượng quốc” ban cho nước chư hầu để tỏ ra rằng, trên tinh thần, nước chư hầu ấy bị lệ thuộc phải theo chính sách của thượng quốc. “Nhật lịch” đây không có nghĩa là cuốn sổ của sử quan ghi những sự việc hằng ngày của triều đình phong kiến.1) cho nước Chân Lạp (1 quyển quan lịch, 100 quyển dân lịch). Ra lệnh : do tỉnh An Giang chuyển cấp [cho Chân Lạp]. Việc này được định làm thường lệ.


    Bọn phỉ Sơn Tây lén lút nổi lên ở địa hạt huyện Yên Lạc. Có người lính ở vệ Định võ do tỉnh phái đi, tên là Vũ Dụng Trực, xông lên trước, bắn súng giết được một tên giặc. Giặc đều sợ hãi, lẩn chạy vào rừng. [Trực] đuổi theo, bắt được 2 tên phạm và khí giới.


    Việc ấy đến tai vua. Vua khen lắm, cho Vũ Dụng Trực làm Đội trưởng, thưởng bạc 10 lạng. Vua dụ bộ Binh đem việc ấy truyền bảo các địa phương biết : “Trực là một người lính nhỏ mọn, giết giặc, lập công, tức thì được hậu thưởng. Các tướng, biền binh sĩ khi ra trận, nếu biết hăng hái giết giặc, tất sẽ được cất nhắc, không phải buộc theo thứ bậc. Ai nấy đều nên cố gắng lên !”.


    Thự Tuần phủ tỉnh Hưng Yên là Trịnh Quang Khanh tâu nói : “Những chỗ vỡ ở 11 đoạn hưu đê ((1) Hưu đê : đoạn đê gần sông, khi nước to bị vỡ, khi nước rút xuống phải đắp một đoạn đê mới ở phía trong đê ấy để giữ nước. Còn đoạn đê đã có chỗ vỡ ấy vẫn để nguyên và đắp hàn liền lại, gọi là hưu đê, tức là đê bỏ đi.1) ở bên ngoài thuộc các hạt trong tỉnh đều đã đắp liền lại rồi”.


    Vua ra lệnh cho các viên tỉnh, phủ, huyện trước can án [về việc vỡ đê] đã bị xử giáng chức hoặc cách chức ấy đều được khai phục. Lại thưởng 500 quan tiền cho dân đi hộ đê, đắp đê.


    Thống chế Tiền dinh quân Thần sách Quảng công bá Phạm Văn Lý chết.


    Vua dụ Nội các rằng : “Phạm Văn Lý theo hầu đã lâu ngày. Có nhiều lần lập được chiến công rõ rệt. Trước đây ta đã nhớ công siêng năng khó nhọc của Lý, hậu gia phong tước cho rồi. Vừa rồi ta giao cho trông coi tất cả việc quân, vì già ốm, Lý làm không được việc, đã phải quở trách giáng chức để răn dạy. Sau đó làm xong việc lớn, đem công đền tội, ta đã liệu lượng rộng ban ân điển. Nay được tin Lý vì ốm chết, ta rất xót thương. Vậy gia ơn : dưới chỗ tên Lý, hễ trước đây đã chua bị giáng, hoặc bị phạt, đều cho khai phục cả. Lại thưởng cho 100 lạng bạc và 3 cây gấm Trung Quốc.


    Ra lệnh cho Thống chế Hữu dinh quân Thần sách là Tôn Thất Bằng tạm quyền lãnh ấn triện Tiền dinh.




















    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cvii



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, Minh Mệnh năm thứ 14 [1833], mùa thu, tháng 9.


    Tuần phủ Lạng - Bình Hoàng Văn Quyền đem quân đóng ở đồn Na Lãnh, sai Cai đội Dương Văn Phong và Trần Đình Vân đem bốn trăm lính dõng đến đánh giặc ở Tiêm Lĩnh. Thự Cấp sự trung Cao Phục Lễ đi thị chiến ((1) Thị chiến : kiểm tra giám sát sự chiến đấu của tướng sĩ và lực lượng tranh chiến của hai bên.1). Hai bên bắn nhau từ giờ Tỵ ((2) Tỵ : khoảng từ 10 giờ đến 11 giờ.2) đến giờ Thân ((3) Thân : khoảng từ 16 giờ đến 17 giờ.3). Quyền thân đến tận nơi để tiếp ứng. Giặc lùi, quân của ta cũng về đồn. Đêm hôm ấy, giặc lại đến, vây đánh ba mặt, đại bác bắn tứ tung. Quân ta có chết và bị thương. Quyền phải lui về đóng ở châu lỵ Thất Tuyền ; Cao Phục Lễ đánh mất ấn đồng quan cấp. Việc đó tâu để vua biết.


    Vua dụ Quyền rằng : “Ngươi, Hoàng Văn Quyền, chính mình đem biền binh đi đánh dẹp, khi gặp giặc, đánh nhau, giặc đã phải lùi, vậy mà không biết nhân lúc thắng thế, sấn vào đánh cho thật mạnh ; lại điều khiển không đúng, để đến nỗi bọn giặc nhân kẽ sơ hở, đánh khép lại, trở bị chúng đánh bại. Vậy chuẩn cho cách chức ngay, nhưng được lưu lại cho đi đánh dẹp để chuộc tội”.


    “Cao Phục Lễ, Dương Văn Phong và Trần Đình Vân đều bị cách chức, nhưng cho tòng quân, trổ sức làm việc để chuộc tội.


    “Vả lại, bây giờ, Hà Nội đã phái đi một số biền binh có sinh lực hiện nay, chắc đã đến tỉnh thành Lạng Sơn rồi. Bọn ngươi nên biết cảm kích, xấu hổ, cổ vũ khuyến khích hàng ngũ quân đội mình, nếu có thể thẳng đến Cao Bằng để tiễu trừ bọn giặc ấy, thì không những được tha tội trước mà còn được ban ơn dồi dào nữa ; nếu lại rụt rè thụt lùi như lần trước, sẽ chiếu theo quân pháp trị tội”.


    Vua lại bảo các thị thần : “Hoàng Văn Quyền ngày thường hay nói khoác lác, thường tự ví mình với Khổng Minh ; nay gặp bọn giặc cỏ, chịu thua, không chống nổi ! Nói thì giỏi làm thì tồi như thế còn mặt nào đối với quân phụ nữa không ?”


    Sai Phó lãnh binh ở Hà Nội là Hồ Văn Vân theo đường trạm, lên Lạng Sơn, cai quản số biền binh đã phái đi từ trước đến sau, đốc thúc đánh dẹp. Hoàng Văn Quyền đã bị cách chức, chuẩn cho làm việc dưới quyền điều khiển của Văn Vân. Phàm các quan quân thổ dõng đi trận, nếu có ai nhát sợ, rụt rè, sẽ chém ngay ở trước quân, để nghiêm quân luật.


    Rút số biền binh ở Tuyển phong Hậu vệ quân Thần sách, đóng tại Hà Nội về đồn thú cũ ở Hải Dương. Lại sai các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, Nam Định, Hưng Yên đều chiểu số quân hiện có trong tỉnh, nếu theo lệ, chia ban để sai phái, không đủ thì chuẩn cho đến kỳ tháng 10, châm chước trích lấy số quân lưu ngũ để dùng, sau này ít việc, lại chia ban như lệ trước.


    Phạm nhân thứ yếu trong bọn nghịch tặc Phiên An là nguỵ Hậu quân Phó tướng Nguyễn Văn Bột đã bị áp giải đến Kinh. Giao đình thần nghiêm tra, nó thú nhận hết. Chỉ có điều nó nói, khi ra đầu thú, là nhân trốn đến chỗ Ngô Bá Tuấn, đã được khoản đãi mấy ngày, mới giải đến quân thứ của Nguyễn Xuân, chứ vốn không biết tên, biết mặt Trương Sùng Hi là người thế nào.


    án dâng lên, vua dụ Nội các rằng : “Nghịch tặc Nguyễn Văn Bột nguyên là quan triều đình, lại cam tâm theo giặc, làm phản, xưng chức tước nguỵ giết hại quan lại, gây vạ đến sinh dân, thực là tội ác đầy dẫy, thần và người cùng giận. Phải nên lập tức dùng hết phép trừng trị, để răn dạy kẻ loạn thần. Vậy giao [tên Bột] cho Thống chế Tôn Thất Bằng và Đại lý Tự khanh Nguyễn Công Hoán đem quân và voi áp đến pháp trường, trị tội để cho phép nước được nghiêm chỉnh. Cần phải dùng đủ năm thứ cực hình, trăm dao cưa cắt, bêu đầu ba ngày ở địa phương nó làm giặc, rồi ném xuống sông. Nguyễn Văn Lượng, con của tên phạm ấy đã bị quan quân bắt được, phải lập tức chém ngay ở trong quân.


    “Còn việc tên Bột ra thú, cứ như khẩu cung nó khai, đối chiếu với tập tâu trước đây của Ngô Bá Tuấn nói là do Trương Sùng Hi và Đỗ Văn Nghị bắt được, thì hai đằng không ăn khớp với nhau trong đó chưa khỏi có tình tiết mạo nhận để lấy công lấy thưởng. Vậy, ra lệnh cho Ngô Bá Tuấn phải cứ theo sự thực, tâu lại đầu đuôi việc ấy, xem nó tự ra thú, hay là bị bắt ở chỗ nào”. Khi tâu lên, lời tâu phần nhiều màu mè chống chế. Đình thần nghị xin chiếu theo luật dối trá, khép vào tội đồ. Vua phê bảo : “Đợi sau sẽ lại hạ chỉ định đoạt”.


    Sai Hộ bộ thự Hữu thị lang là Đặng Chương và Thị vệ Tôn Thất Nghị đi vào Nam Kỳ để truyền chỉ uý lạo các tướng sĩ. Khi đi, vua dụ bảo bọn họ : “Các ngươi đến chỗ quân thứ, đối với các Tướng quân và Tham tán, tuyên chỉ hỏi han yên ủi, nói rằng Tướng quân và Tham tán ở lâu trong doanh trại, vua ở chốn cửu trùng, vẫn nghĩ đến công khó nhọc chưa từng ngủ yên. Vậy các tướng nên đồng lòng giúp nhau, cho nên việc để đỡ sự lo của quân phụ. Còn đối với các tướng, biền, quân sĩ, có ai ra trận bị thương, thì đi hỏi thăm tất cả, ra lệnh cho chữa thuốc gấp rút để chóng khỏi. Lại đến chỗ quân các tướng biền chết trận, sai sắm đủ hương sáp, truyền chỉ ban cho ba tuần rượu, để yên ủi các vong hồn.


    “Lại truyền họp các hương mục tòng chinh, yên ủi vỗ về tận nơi, nói đại lược rằng hạt này bỗng gặp cơn biến loạn, thế mà lòng người vẫn giữ được như cũ, tha thiết nghĩ đến tôn thân. Nhà vua rất khen ngợi ; hằng ngày vẫn mong cờ đỏ báo tin thắng trận. Ai theo đi việc quân thì chiểu theo công trạng khen thưởng ; còn dân gian thì xuống dụ, đóng góp, ra ơn đầm thấm khắp nơi. Vậy mọi người cùng báo cáo cho ai nấy đều biết.


    “Lại, những quan quân và hương dõng đang đi trận đây không phải là ít, lẽ nào lại không ai có mưu mô dũng lực có thể phá được thành, giết được giặc hay sao ? Vậy, truyền chỉ : không cứ là Phó tướng hay binh dõng, ai có mưu lạ, kế hay,đều được trình bày với các Tướng quân, Tham tán hoặc đương đêm vào thành mở cửa, dẫn lối cho quan quân ; hoặc họp đảng xông lên trước, cướp lấy thành trì ; thì đều theo dụ trước, trọng thưởng cho nghìn vàng. Triều đình quyết không để mai một đi công lao của ai, chớ nghĩ rằng phận mình hèn mọn, không chịu tự hiến mưu sức của mình. Còn như mưu kế đánh thành, hoặc đương đêm chọn quân cảm tử, đem chấn địa lôi đặt ở dưới cửa thành, nối liền ngòi thuốc châm ngòi thả ra, rồi chạy đi ; hoặc nhằm chòi cửa thành mà oanh kích, làm cho quân giặc canh gác lộn xộn khiếp sợ, thì giặc chân đứng không vững, ta không phải đánh, chúng cũng tự tan vỡ. Đó là điều ta nghĩ đến nhân tiện truyền bảo cho các Tướng quân, Tham tán biết.


    “Chuẩn cho các ngươi ở lại quân thứ vài hôm, dò hỏi cho hết tình trạng, rồi về Kinh trả lời cho ta biết”.


    Bọn Bố chính Đoàn Khiêm Quang và thự án sát Doãn Uẩn ở Vĩnh Long tâu nói : “Tỉnh thành thu lại được những người dân ứng nghĩa được thưởng tiền 700 quan, nhưng đều cố xin nộp lại để cung vào việc quân”. Vua dụ nói : “Đó là dân thích làm việc nghĩa, sốt sắng việc công, thực đáng khen ngợi ; nhưng triều đình thưởng người làm thiện, khuyên người có công, vẫn có phép thường, họ dự có chút công lao, không nên để im mà không xét đến. Nay việc bắt giặc chưa xong, số tiền xin nộp lại, tạm để cho chi dùng ở tỉnh ấy, đợi khi nào yên ổn, sẽ xét số người mà thưởng cấp. Trong những người đầu mục, ai là xuất sắc, nên chia loại hạng, làm thành danh sách, tâu lên, đợi chỉ”.


    Bọn Khiêm Quang lại tâu : “Trước kia, bọn giặc trộm giữ tỉnh thành, các thôn, ấp ở gần tỉnh bị đốt cướp hết cả. Sau đó đã dò xét từng hộ, lấy tiền ở kho chia cấp đến hơn một nghìn quan. Nay các dân ấy xin đem nộp trả đủ số tiền ấy”. Vua nói : “Các thôn ấp ấy, trước đây bị ngọn lửa tàn ngược của giặc làm hại, tình hình đau khổ, thực đáng thương, nên miễn cho”.


    Thự Bố chính Đỗ Huy Cảnh và thự án sát Hoàng Văn Tú ở Sơn Tây tâu lên : “Trong hạt có ba người nhà giàu xin bỏ của nhà, giúp cho những người nghèo thiếu”.


    Vua dụ nói : “Họ là dân quê bé mọn, vừa được lay tỉnh, đã có lòng sốt sắng làm điều thiện : có người bỏ tiền ra đến 1.000 quan, có người 500 quan. Vui làm điều hay, thành phong tục tốt, rất đáng khen ngợi. Nhưng hạt ngươi trước đây, nhân mùa thu bị lụt đã lần lượt chẩn cấp, mới được hơi khá trong sự ăn dùng ; huống chi ngày nay, đê điều đã lấp kín, nước lụt đã rút xuống, chỗ nào ruộng lúa cũng tốt, có hi vọng được mùa. Tình hình trong dân gian, so với trước, không ngặt nghèo lắm. Số tiền của họ xin bỏ ra, không phải là cần thiết. Các ngươi nên truyền cho họp ở công đường, tuyên chỉ khen ngợi, nhưng trả lại tiền ; đợi đến khoảng đông xuân, là lúc giáp hạt, dân trong hàng tỉnh nếu có gieo neo, cần chẩn cấp, sẽ lại cứ thực tâu lên, đợi chỉ”.


    Tuần phủ Quảng Yên là Lê Đạo Quảng tâu : “Xin mộ dân ngoại tịch sung bổ làm người thuộc nhân đầu mục ((1) Thuộc nhân đầu mục : tức như hạng thí sai lại mục, người bản thổ.1) và thuộc nhân ((2) Thuộc nhân : tức như hạng thông lại giúp việc ở nha môn các châu, các huyện.2) ở các châu, huyện để thừa hành việc quan”.


    Vua bảo Lại bộ : “Việc xin này không hợp lệ. Nhưng tạm nghĩ : hạt này ở miền bãi biển, sai phái cũng cần người, ba châu huyện ở Yên Hưng, Vạn Ninh và Tiên Yên, mỗi nơi đã có một người Thổ lại mục, không nên đặt thêm. Duy chỉ có hai huyện Ba Phong ((3) Ba Phong : tức Hoa Phong, sau đổi Nghiêu Phong. Thực lục vì kiêng tên huý, nên đổi Hoa làm Ba.3), Hoành Bồ, xin bổ hai người thuộc nhân đầu mục thì đổi làm thí sai Thổ lại mục ; xin bổ 20 người thuộc nhân ở các châu, huyện thì đổi làm thông lại.


    Cho Cai đội vệ Cẩm y là Hoàng Văn Quý làm Quản cơ thự Phó vệ uý vệ Định võ Tả dinh quân Thần sách phải đi ngay Sơn Tây đốc suất vệ binh đóng lại, đồn thú ở đấy.


    Tổng đốc đạo Thái Nguyên là Nguyễn Đình Phổ tâu nói : “Trước kia, thua trận ở Chợ Mới, nhờ ơn được cách chức lưu lại làm việc, thần và các tướng biền đi trận ấy đều biết cảm kích, xin hăng hái cố gắng giết giặc để chuộc tội trước”.


    Vua dụ bảo : “Đã biết cảm kích, cố gắng, sao không sớm tiến quân ngay, thế thì lời nói cố gắng giết giặc chả hoá ra nói hão ? Vả lại, ở Tuyên Quang, Lê Văn Đức đã nhiều lần giết tan bọn giặc, hẹn ngày đánh thẳng vào sào huyệt của giặc ở Vân Trung. Ngươi nên nhân cơ hội này, cổ vũ tinh thần quân sĩ sớm chém chết được bọn hôi tanh ấy đi, mới hòng chuộc được tội trước, lại được hậu thưởng. Nếu còn lề mề, nghe ngóng, không làm đúng như lời, thì đã có tội lại còn tội thêm”.


    Lãnh binh Hưng Hoá là Bùi Văn Đạo đánh giặc ở Thập Khê và Trọc Khê, đều được luôn, chém được ba đầu giặc, bắt sống được một tên. Bọn giặc tan chạy. Quan quân lấy lại được đồn Đông Quông ; lại ở bến đò thuộc đồn ấy tước được 6 chiếc thuyền thoi, trong thuyền có hơn 30 tên, đều bị bắt sống cả. Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn tâu để vua biết.


    Vua dụ bảo : “Trận này tuy nhỏ, nhưng mà quan quân cố gắng hăng hái xông lên, lấy lại được đồn bảo, cũng đáng khen thưởng. Bùi Văn Đạo và những người dự đi trận này như Quản cơ Lâm Uy và Nguyễn Hữu Giu đều được thưởng 5 đồng ngân tiền Phi long hạng lớn, các Suất đội mỗi người được thưởng 3 đồng ngân tiền hạng nhỏ, các biền binh được thưởng chung 300 quan tiền. Còn những người hiện bị bắt ở trong các thuyền, tra ra, nếu quả là bọn giặc thì trị tội ngay ; nếu là lái buôn và dân thường thì tha ngay”.


    Chia huyện Thanh Xuyên ở Hưng Hoá đặt làm 2 huyện Thanh Sơn và Thanh Thuỷ.


    Vua bảo bộ Lại : “Thanh Xuyên là huyện lớn của tỉnh Hưng Hoá, gần với tỉnh thành, từ trước đến giờ chỉ đặt thổ ty, thổ mục kẻ trong người ngoài, họ thông lẫn nhau, gây ra sự việc rắc rối như cái gương trờ trờ của Đinh Công Tiến trước đây hãy còn không xa. Phải nên chia đặt làm hai huyện, mới mong được tốt. Vậy sai thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn xét xem các tổng trong huyện ấy, liệu lượng chia làm hai : một huyện gọi là Thanh Sơn, một huyện gọi là Thanh Thuỷ. Còn tên cũ gọi là Thanh Xuyên thì bỏ đi. Rồi chọn các chức viên trong tỉnh người nào thanh liêm, tài cán, chăm chỉ, được việc, hiểu hết tình hình sở tại, tạm đặt làm Tri huyện 2 huyện ấy, chọn chỗ để huyện đóng. Lúc trước đã có chỉ tạm quyền cho thí sai thổ Tri huyện Hà Thế Mỹ làm thổ Huyện thừa ở Thanh Sơn ; về sau có khuyết, không nên đặt nữa. Lại chọn một người thổ mục đã từng có công đi bắt giặc, lại được dân địa phương tin phục, và Hà Viết Loan trước đây đã có chỉ cho làm thí sai Thổ lại mục, để chia bổ làm Thổ lại mục hai huyện, lệ thuộc làm việc trong huyện.
  • Chia sẻ trang này