0060.0080

12/1/16
0060.0080
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua đi chơi xem kho Vũ khố, thấy súng điểu sang phần nhiều bỏ lẫn lộn hư hỏng. Vua bảo thị thần : súng điểu sang chứa ở kho, là đồ dùng rất quan trọng với việc binh, thế mà người giám thủ bỏ bừa không chú ý ! Ví phỏng gặp lúc có việc, chả hoá ra làm nhỡ việc ư ? Vua liền sai phạt trượng viên giám lâm Hà Thúc Lương và lũ chủ thủ, bắt sữa chữa lại. Còn các khoa đạo đi tuần tra phải truyền chỉ nghiêm sức : sắc cho từ nay về sau, nếu còn có việc giống như thế, mà không biết hạch hỏi, vạch ra, thì tất phải giao về bộ xét.


    Các tỉnh Bắc Kỳ tâu báo về việc sông nước đã được yên.


    Vua bảo Nội các rằng : “Khoảng tháng 6, tháng 7 năm nay, đê điều các nơi, gián hoặc có chỗ bị tràn vỡ, xét ra cũng là tại người làm chưa hết sức, chớ nên đổ cả nước sông làm hại. [Bây giờ] may không lụt nữa, nước ứ đã tiêu đi, chỗ vỡ sớm được hàn khẩu, mừng thấy sông nước được yên. Đó là được nhờ ơn thần linh nhiều rồi. Vậy ra lệnh cho Nội vụ phủ phát cho 3 cây hương vàng, 3 tấm lụa đỏ, phái thị vệ mang đến giao cho tỉnh Sơn Tây sắm đủ lễ phẩm tam sinh tế miếu thần sông.


    Thự Tuần phủ tỉnh Hưng Yên, Trịnh Quang Khanh tâu rằng : “Trong hạt Hưng Yên, lúa mùa gần nay bị nạn lụt, năm huyện Đông An, Kim Động, Thiên Thi ((1) Thiên Thi : sau đổi là Ân Thi.1), Phù Dung ((2) Phù Dung : sau đổi là Phù Cừ.2), Tiên Lữ thì hại lắm ; thứ đến ba huyện Thần Khê, Duyên Hà, Hưng Nhân ((3) Ba huyện này ngày nay đều thuộc tỉnh Thái Bình.3). Vậy số thuế mùa hạ, tiền và thóc còn thiếu, xin triển hạn cho năm huyện trước đến sang năm, nộp làm 2 kỳ mùa hạ và mùa đông ; và ba huyện [sau] đến vụ chiêm sang năm, nộp cả đủ số”. Nhà vua cho được như lời xin.


    Đô sát viện Tả phó Đô ngự sử là Phan Bá Đạt đi phát chẩn ở Hưng Yên về, vua cho cung chức như cũ.


    Vua cho rằng, ở Bắc Kỳ, nước sông lên to quá, là vì đường sông nhiều chỗ bị nghẽn lấp, quanh co, không thể chảy nhanh ra biển ; nay bàn muốn khơi đào [lòng sông] cho vợi bớt dòng nước, mới sai Hộ thành binh mã ty Phó sứ là Trương Viết Suý đi đến Nam Định, hội đồng với Tổng đốc Đặng Văn Thiêm, xem xét tất cả địa hình đường sông, chỗ nào nên khơi sâu, chỗ nào nên để như cũ, khiến cho thế nước thuận dòng chảy thẳng ra biển, đo lường và tính toán thế nào tâu để vua biết. Khi bản tâu dâng lên, họ xin từ địa phận sông làng Thanh Hương, huyện Thư Trì đến làng Đường Sâm, huyện Chân Định ((4) Chân Định : sau đổi Trực Định thuộc tỉnh Nam Định.4), nên khai sâu có 3 đoạn, chạy dài hơn 5.000 trượng, công trình to tát phải đến 3 năm mới có thể làm xong.


    Vua dụ rằng : “Công việc trị hà, lợi, hại rất quan trọng. Ví phỏng tình thế có thể làm được, khó nhọc một bận mà được thong thả mãi thì dù hao tổn đến hàng vạn, lòng ta thực cũng không tiếc ; nhưng chiếu trong đồ bản, sông cũ đã là sâu rộng, thỉnh thoảng mới có khúc quanh co ngoắt ngoéo, thế nước chảy xiết xô ngang, tưởng cũng không hại gì ; nếu sửa lại mà nắn cho thẳng, chắc rằng đường sông đào nhỏ bé chảy đi để chia sức nước ấy cũng không được bao nhiêu, mà các đoạn sông mới khai, chỗ lớn chỗ nhỏ, cách nhau, sau này nước lũ lên mạnh chưa chắc đã khỏi lo về sự vỡ lở ! Thế là khó nhọc mà không ích gì, sao nên làm một việc uổng phí rất nhiều sức người như thế ! Việc ấy nên đình chỉ. Nhưng chiếu hai bên cửa biển Liêu Lác thuộc hạt ấy, có chỗ nào có thể thông ra biển được, khai riêng một đoạn dài độ sáu bảy mươi trượng, rộng độ hai mươi trượng, để khơi dòng sông cho ngày một sâu thêm, dần dần thành một cửa biển to, đó cũng là cách làm thuận theo chiều hướng không sinh sự gì”.


    Sau đó, Đặng Văn Thiêm lại tâu : “Đường sông, trên từ cửa sông Lạch Ngang, một nhánh chảy ra cửa Liêu, dài hơn một nghìn trượng ; bờ mé tây là Kim Sơn thuộc Ninh Bình chạy dài đến cửa biển Thần Phù thuộc Thanh Ba, lau sậy um tùm, địa thế rất xa ; bờ mé đông là Đại An, Chân Ninh ((1) Chân Ninh : sau đổi là Trực Ninh.1) thuộc Nam Định, chỗ tiếp giáp có một nhánh chảy ra cửa Lác, dài hơn bảy trăm trượng ; bờ mé tây là cồn nổi ((2) Thực lục chép là “đột châu” ¬đ ¬w ¡C 2), bờ mé đông thì huyện hạt Chân Ninh liền suốt tận biển, chỗ nào cũng có bùn cát bồi nông. Khi nước triều lên thì thế nước mông mênh, rộng không bờ bến ; khi nước triều rút xuống, thì lộ ra bãi cát, trông không thấy bờ. Xét kỹ địa thế, không một đoạn nào có thể khai đào được. Vả lại, hỏi các thổ dân ở tấn sở và thủ sở thì đều nói: một dải ven biển từ cửa Trà Lý đến cửa Thần Phù, đều là bãi cát bùn lầy, nếu ở nơi này, khai riêng con sông, thì không những việc làm vất vả, mà một trận sóng rồi, bồi lấp lại nông như thường. Đó cũng là việc “không làm được”. Vua mới thôi.


    Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường, tâu : “Tỉnh hạt thần có 2 huyện Duy Tiên và Kim Bảng, đê điều trước đây đã thôi không đắp ; sau khi lụt về mùa thu năm nay, ruộng có phù sa và bùn đọng lại, hỏi các người địa phương ở đấy, thì đều nói đó là lợi lắm. Kể ra, đắp đê phòng lụt cốt để giúp đỡ nghề nông bỏ đê đi mà nghề nông được lợi, thì có hề gì mà không cúi theo nguyện vọng của dân. Về đê điều của hai huyện ấy, xin nên cho bỏ, nhưng tuỳ tiện khai thông đê tháo nước ứ cho kịp thời tiết làm ruộng”.


    Vua ban dụ rằng : “Năm nay nước sông lên to khác thường, đê điều tràn vỡ, chỗ nào cũng có ; lợi hay hại cũng chưa nên vội lấy đó làm đích. Huống chi hai huyện ấy đã gặp một nước lụt, được phù sa bồi, ruộng trở nên tốt, cố nhiên là một điều lợi cho nông dân sở tại. Nhưng hạt ấy là nơi thấp trũng, ruộng chiêm tất cả, nếu có lợi cho nơi ấy, thì các huyện ở thượng du, địa thế cao hơn, nước dâng ngược lên, ngập lây cả ruộng mùa, chả hoá ra đem cái hại cho nơi khác ư ! Người địa phương ấy nói ra, hoặc là nhìn theo một chiều, há nên vội vã căn cứ nhẹ dạ tin ngay ư ? Vả lại, việc đắp đê phòng lụt, có quan hệ đến nguồn sống của dân, lợi, hại không phải là nhỏ, mà nên theo cũ hay nên đổi mới, cũng phải châm chước ý kiến mọi người, mới mong được tốt đẹp. Ngươi là đại thần có chuyên trách lo toan công việc ở ngoài, cần phải thân hành đi khám tận nơi, hỏi khắp cho rộng, hỏi cả các huyện ở thượng du, và hết lòng xem xét đến tình hình thực tại. Nếu đê điều hai huyện ấy, sau khi cắt bỏ rồi, chắc chắn được lợi cả mười phần, chúng khẩu đồng từ, mới được làm theo như lời xin. Nếu lợi, hại không ngang nhau thì tuỳ theo trong đó mà làm cho ổn thoả, rồi làm tập tâu dâng lên”.


    Đoàn Văn Trường đi hỏi tất cả, các huyện ở thượng du đều nói : hai huyện ấy bỏ đê, đối với họ không quan hệ gì đến lợi hại. Lại nữa, đê điều ở năm huyện Chương Đức, Thượng Phước, phú Xuyên, Sơn Minh và Hoài An, dân sở tại cũng xin thôi không đắp, để tiện cho việc làm ruộng. Tâu lên, vua bằng lòng cho.


    Cho thự Tả tham tri bộ Hình là Nguyễn Kim Bảng được điều làm thự Tả tham tri bộ Lại ; Thương trường Thị lang là Trần Danh Bưu thăng thự Hữu tham tri bộ Lại vẫn kiêm lĩnh công việc ở Thương trường.


    Đổi bổ Nguyễn Khoa Minh làm Hiệp biện Đại học sĩ lĩnh Thượng thư Hộ bộ kiêm quản Hàn lâm viện và Khâm thiên giám. Còn ấn triện của bộ Lại thì giao Nguyễn Kim Bảng và Trần Danh Bưu tạm giữ, không nên kiêm lĩnh.


    Bộ Binh tâu rằng : “Các quân hiệu ở tỉnh Phiên An trước đều đặt ở đầu bằng chữ “Phiên”. Nay tên tỉnh đã đổi làm Gia Định, thì quân hiệu cũng nên đặt chữ “Gia” ở đầu để cho hợp với danh sắc”.


    Vua cho lời tâu ấy là phải, bèn đổi : cơ Phiên võ làm cơ Gia võ, cơ Phiên thuận làm cơ Gia thuận, 2 cơ Phiên bình tả hữu làm hai cơ Gia tiệp tả hữu ; 4 cơ Phiên dũng tiền, tả, hữu, hậu, làm 4 cơ Gia dũng tiền, tả, hữu, hậu ; cơ Phiên an làm cơ Gia Định ; tượng cơ Phiên an làm tượng cơ Gia Định ; thuỷ cơ Phiên an làm thuỷ cơ Gia Định ; 3 đội Phiên an pháo thủ Nhất đội, Nhị đội, Tam đội. Ra lệnh cho hữu tư đổi lại, chế các đồ ký cơ hiệu khác để cấp cho. Lại còn danh hiệu các trạm trên sông, trước đây chữ đầu đặt bằng chữ “Phiên”, nay đều đổi làm chữ “Gia”, đổi cấp trạm bài khác.


    án sát Phiên An trước là Nguyễn Chương Đạt, Lãnh binh là Nguyễn Quế đều phải tội chết. Lúc giặc Khôi mới khỏi biến, bọn Đạt đều chạy vào Bình Thuận, đến đây bị giải về Kinh ; đình thần nghĩ xin chiếu theo luật để mất thành trì, phải khép vào tội trảm hậu ((1) Bị tội chém nhưng được giam để đợi xét lại.1).


    Vua nói : “Nguyễn Chương Đạt, thân làm án sát, Nguyễn Quế cũng chức Lãnh binh là quan to ; khi giặc Khôi can án, đã không nghiêm cấm, lại không dự phòng trước khi xảy việc, thế là có lòng dung túng. Đến khi biết có sự biến, lại lẻn trốn, không thi thố được một mảy nào. Vậy không kể bề trong có tri tình hay không, nhưng xét việc gây ra vụ án to này đến nỗi để vạ cho dân, làm phiền nhà nước phải dùng binh lực, thực là chết cũng chưa đáng tội. Vậy Nguyễn Chương Đạt và Nguyễn Quế đều phải xử chém ngay. Lại nữa anh em ruột của Chương Đạt là bọn Nguyễn Trọng Vũ, Nguyễn Trọng Ngọc và Nguyễn Minh Khiêm, anh em một nhà, đều nhờ lộc nước, thế mà không biết lấy điều phải khuyên răn nhau, cảm kích lo báo đáp đến thế thì thật mất hết thiên lương, phụ ơn quá nặng ! Quan chức của triều đình, là để khen thưởng người trung nghĩa, còn dùng bọn ấy làm gì nữa ! Vậy bọn Vũ đều phải cách chức, mãi mãi không được bổ để làm gương răn cho các bầy tôi không hết lòng trung”.


    Hình bộ lại tâu : “Con của Vũ là Nguyễn Trọng Lượng hiện đang hậu bổ ở Sơn Tâty, vậy có nên chăng xoá bỏ tên trong ngạch làm quan bắt về quê quán ?”. Vua nói : “Nguyễn Trọng Vũ tội chỉ đến cách chức, chứ không đến phải liên can bị tội. Con Vũ là Nguyễn Trọng Lượng vốn do cử nhân xuất thân, cũng không phải như hạng người được tập ấm. Vậy chuẩn cho ở lại tỉnh để hậu bổ”.


    Cho quyền lĩnh Thảo nghịch Hữu tướng quân ấn triện là Nguyễn Văn Trọng làm Thảo nghịch Hữu tướng quân ; Vệ uý Trần Văn Trí làm Chưởng cơ, thự Thống chế sung Tham tán đại thần, hiệp cùng Trương Minh Giảng tham dự giúp đỡ việc quân với Nguyễn Văn Trọng, chuẩn cho vẫn giữ lấy Thần cơ Hữu vệ đã quản lĩnh trước, và hai vệ Nghiêm uy, Tráng uy mới đặt, làm thân binh trong sổ quân mình, những binh dõng do Thái Công Triều và Lê Đại Cương cai quản và những hương dõng các tỉnh đi tòng chinh, đều lệ thuộc cả. Lại, hiệp cùng Tuần phủ Hà Duy Phiên, Lãnh binh Lê Sách, Nguyễn Văn Hoà và Mai Công Ngôn quản lĩnh quân tỉnh Gia Định đi đánh dẹp và canh giữ.


    Vua lại cho rằng một đạo quân của Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương, đã có Nguyễn Xuân làm Tham tán, Trương Phước Đĩnh làm Tán tương ; duy đạo quân của Bình khấu tướng quân Trần Văn Năng chỉ có quan văn là Lê Đăng Doanh làm Tham tán, bèn sai Thống chế Hoàng Đăng Thận lấy tư cách là Tham tán đại thần đổi sang giúp việc quân với Trần Văn Năng ; các bộ binh do Đăng Thận quản lĩnh thì giao ngay cho Nguyễn Văn Trọng, Trương Minh Giảng. Còn Tán tương Trần Chân thì hiệp cùng Trần Văn Trí giúp đỡ sự vụ quân cơ. Như vậy, đại binh bốn đạo đều đủ quan to văn võ, để sự trách cứ thành công được coi trọng.


    Sai bộ Binh lấy ra 5 thứ thước đo bắn đại bác mới chế, và bản ghi chép bắn theo thước đo bắn súng do vua làm ra, phái thự Phó vệ uý ở vệ Loan giá là bọn Tôn Thất Tiềm mang đến giao cho quân thứ Gia Định, truyền dạy các pháo thủ học tập, để ứng dụng làm chuẩn đích trong khi bắn. Lại ban cấp cho thiên lý kính loại to, khiến các tướng quân và tham tán liệu tính, ở ngoài luỹ, làm chòi vọng địch, cao độ 3 trượng, cách thành 5, 6 trượng hoặc 1.000 trượng ; còn ụ đất đặt pháo thì cao hơn 10 thước, sai người tài ngắm mang kính ấy lên chòi, trông ngắm vào trong thành xem chỗ nào bọn giặc tụ đông và ở đâu là nhà kho thuốc đạn, thì chỉ ngay cho pháo thủ đối chiếu phương hướng để bắn, cốt sao cho trúng. Vua lại phái mang thuốc ở kho trong nội để chữa cho những người ốm đau ở trong quân.


    Tỉnh Biên Hoà gạo kém. Vua biết tin, dụ sai tỉnh Vĩnh Long, Định Tường hiểu thị cho các nhà buôn trong hạt chở nhiều gạo đến đây để bán.


    Tổng đốc Định – Yên là Đặng Văn Thiêm tâu : “Con sông Hoàng Giang ở phía tả tỉnh thành, nước sói dữ dội, xin đặt thêm mỏ kè, và tuỳ theo thế nước đắp thêm để ngăn ngừa”. Vua dụ nói : “Tỉnh thành xây dựng đã xong, thành trì cao đẹp, nếu gặp thế nước xung yếu như vậy, thì tất phải một phen ra công sửa trị. Trước đây đã khai con sông mới, để chia sức nước, đào rộng cửa sông để đưa dòng nước ra biển, cần giữ cho tường thành được vững là điều cốt yếu. Hiện nay sở dĩ chưa thu được hiệu quả, là chỉ vì lòng sông nông hẹp chứ chưa nên một mực đổ tại thế nước. Nếu không tính lại, làm kỹ, thì công trước đã là mất không, mà sức nước ở dòng sông chưa phân tán bớt được, thì sự sụt lở lại càng ghê gớm. Vậy thì tỉnh thành sau này có thể giữ được khỏi lo không ? Vả, nay nước lụt mới xuống, lương thực của dân còn khó khăn, chính nên lấy việc làm để thay cho phát chẩn, giúp cho dân qua cơn ngặt nghèo. Ngươi nên lập tức thuê mướn dân chúng khơi rộng lòng sông 5 trượng ở một quãng sông mới từ Phụ Long đến Lương Xá, cửa sông cũng liệu mở rộng thêm, và những nơi xung khích ở sông cũ nên đắp mỏ kè, và đắp phụ vào đê. Làm những công trình ấy là để giảm bớt nước chảy sói ngang mà giữ vững được cả cái nữ tường của thành. Huống chi khai sông nhánh để chia sức nước đã là một việc chủ chốt quan trọng trong công cuộc trị hà ; mở việc làm, để tập hợp được dân nghèo, lại là một chính sách hay về việc cứu đói. Thật là làm một việc được ba cái lợi. Ngươi nên cố gắng thúc làm, để xứng đáng với sự đã được giao phó”.


    Sau đó, Đặng Văn Thiêm tâu: “Một quãng sông mới, lúc bất đầu khai sâu, hai bên bờ đều có lưu không một trượng, đất đã dồn chứa cao đến hai trượng. Nay nếu mở rộng thêm lòng sông, tất phải súc chỗ đất chứa ấy đi, mới có thể khai sâu được, tốn công rất nhiều. Vả lại, bên cạnh cửa sông, có một đoạn cồn nhọn dài hơn 140 trượng. Vậy xin cho đào chỗ ấy mà mở cửa sông, thì nước ở trên chảy xuống có thể bớt đi, và công trình cũng bớt được”. Vua y lời tâu đó, sai gọi 1.000 người dân ở gần đấy để làm việc, cấp cho tiền gạo một cách ưu hậu.


    Chuẩn định từ nay trở đi, phàm các tượng dịch ((1) Tượng dịch : người thợ làm việc thủ công cho nhà nước phong kiến.1) thường xuyên làm ở xưởng thợ kho Vũ khố, và các Tượng cục ((2) Tượng cục : một cục sở có các thợ làm việc ở thời phong kiến.2) thuộc các tỉnh, chưa được lượng giảm, đến kỳ, vẫn cứ theo lệ, làm danh sách để chi lương ; còn các Tượng cục thuộc Thừa Thiên, không nên cho dự vào trong danh sách ấy, đợi khi có công việc, mới châm chước tính công ngày gọi làm, phải do bộ Công xét thực, làm tập tâu lên, xin truy cấp. Việc này được đặt làm lệ thường.


    án sát Định Tường Trương Văn Hoà chết. Đổi bổ Binh bộ thự Thị lang Nguyễn Công Tú làm án sát Định Tường.


    ác man ở Quảng Ngãi lẻn xuống đồn ở biên giới, giết hại người Kinh. Việc ấy tâu lên viên thủ ngự ở tấn sở, bị giáng bốn cấp, Quản cơ giáng hai cấp, Lãnh binh Trần Văn Hựu vì ngày thường không biết răn bảo, đề phòng, giáng một cấp. Ra lệnh cho tỉnh thần nghiêm sức đặt kế hoạch lùng bắt.


    Giá gạo ở Kinh kỳ mỗi ngày một cao. Chuẩn cho kỳ lương tháng 10 của binh lính và lại dịch ở trong Kinh được lĩnh một nửa bằng thóc.


    Quân hai đạo của đạo Tuyên Quang, Tổng đốc Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ đã tiến đến đồn Phước Nghi. Trước kia quân ta chia đường theo hai bên bờ sông Gâm tiến lên, đi đến đâu, giặc đều bỏ đồn trốn trước. Thổ dân ở gần quanh đấy đem nhau đến chỗ quân đóng xin đầu thú. Duy đạo quân của Lê Văn Đức đi qua Khê Lĩnh (chỗ tiếp giới với Đại Man, Hàm Yên), dò thấy trên núi có 3 trại giặc, độ vài chục tên. Tiền đạo Lãnh binh Nguyễn Văn Quyền sấn đến, chém được một đầu giặc, còn các phỉ khác thì chạy vào rừng sâu. Khi bọn Đức đến Phước Nghi, giặc biết tin, cũng đã chạy trốn cả. Bọn Đức đem tình hình ấy tâu lên, lại nói : “Lần này thổ phỉ nổi loạn, là do tên nghịch Vân xướng suất lên trước, tù trưởng các châu phụ họa theo. Các tổng, lý, động, sách, không theo không được. Nay tên đầu sỏ giặc chưa từng bị bắt, mà rừng rậm nhiều lối linh tinh, những đứa theo giặc chẳng chóng thì chầy, tự nó phải đến, không nên dừng quân đóng lại để lùng bắt. Thần đã dò hỏi từ Đài Mãn ngược lên đến Tín Lĩnh (ở tả ngạn sông Gâm, chỗ có đồn đá lởm chởm đứng dựng như vách thành, chỉ có thể nghiêng mình mà đi. Dòng sông chảy xiết, đá ghềnh chướng ngại. Đường thuỷ không tiện cho việc vận tải quân lương. Nếu sai quân tự mang lấy lương, thì tính ngày, tính đường đi, sợ khó tiếp tế, thần đã lựa phái ngay thổ huyện và thổ binh đóng đồn canh giữ ở Đài Mãn và Phước Nghi để ngăn chặn. Hẹn ngày cho các quản lĩnh và biền binh trước sau lần lượt nối nhau tiến lên qua Đại Man chuyển về phía tả, do châu Vị Xuyên đến đồn Ninh Biên. Khi đến giáp địa giới Bảo Lạc thì lập tức chia đường đến thẳng Vân Trung.


    “Lại nữa, hôm nọ nghe nói các xã Lịch Hạ, Tòng Lệnh ở Lục Yên tiếp giáp Thu Châu còn có bọn giặc lén lút tụ họp, quấy nhiễu bắt dân Sơn Dương phải đưa lương thực. Việc báo này tuy chưa rõ hư thực, nhưng Sơn Dương ở liền với tỉnh lỵ, cũng là chỗ địa đầu quan yếu, không nên không phòng bị nghiêm cẩn. Thần hiện đã sai Lãnh binh Trần Hữu án đem quân và thuyền phái đi lần trước quay về Tuyên Quang để theo sự sai phái của tỉnh”.


    Vua dụ rằng : “Xem tờ tâu thấy rằng, một đạo quan quân, đi đến đâu không ai ngăn được, đủ biết giặc đã sợ hãi trốn xa. Bọn ngươi cốt phải đến thẳng Vân Trung, phá tan sào huyệt của giặc, để oai nhà vua toả khắp phương xa, nơi biên giới được yên ổn mãi mãi, ta sẽ không tiếc ban ơn để đền công khó nhọc”.


    Lãnh binh tỉnh Hưng Hoá là Bùi Văn Đạo lấy lại được đồn Trấn Hà, chém được một đầu giặc, bắt sống được một tên, còn thì chạy trốn cả vào rừng. Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn tâu để vua biết.


    Vua sai rút quân về, nhưng liệu lượng phái thổ dõng sở tại đóng để canh giữ.


    Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm phái biền binh Nam Định đi làm việc bắt giặc ở Lạng Sơn, đã không cấp khẩu phần lương ăn đi đường hàng ngày, lại không chi cấp tiền lương, chiếu theo lệ đi việc quan. Vua nghe biết việc đó, bèn phạt Văn Thiêm lương bổng một năm, ban dụ cho tỉnh Lạng Sơn theo đúng số tiền lương truy cấp cho các biền binh ấy.


    Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền từ khi thua ở Tiêm Lĩnh, rút lui về Thất Tuyền, lại rút lui về trạm Lạng Chung thuộc châu Thoát Lãng. Bọn giặc vây đánh bốn mặt rất gấp. án sát Trần Huy Phác tâu lên, có nói : “Lạng Chung cách tỉnh thành quá nửa ngày đường, mà quân đóng giữ chỉ có hơn một trăm, lại đều già ốm, thần đã tư ngay cho tỉnh Bắc Ninh để chuyển tư cho các tỉnh lớn ở gần, gấp phái biền binh đến cứu”.


    Vua truyền dụ cho Tuần phủ Quảng Yên Lê Đạo Quảng lập tức mang theo 500 biền binh và thủ hạ đi tiếp viện. Nếu giặc đã tan vỡ, thì chuẩn cho cùng với Hồ Văn Vân và Hoàng Văn Quyền nhân thế thắng, đuổi theo, thẳng đến Cao Bằng, dẹp yên bọn giặc.


    Vua lại truyền dụ cho Tổng đốc Ninh - Thái Nguyễn Đình Phổ trích phái 500 biền binh Thần sách đang đi trận và 10 cỗ súng quá sơn thần công, thuốc đạn đầy đủ, theo đường tắt, đi gấp đến quân thứ Hồ Văn Vân để theo đi đánh giặc ; Tuần phủ Thanh Ba Nguyễn Khả Bằng, khẩn sức cho Quản vệ vệ Ban trực trung đang đồn thú là Lê Bá Dần đem vệ binh đi đóng giữ Hà Nội ; khi đến nơi, Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường liền trích phái 200 biền binh ở vệ Tiền nhị thuộc quân Vũ lâm đóng giữ tỉnh hạt ấy đi theo Hồ Văn Vân sai phái. Khi tờ dụ đến nơi, ai nấy phải lập tức tuân hành, không được chậm trễ một phút.


    Bố chính Bắc Ninh là Nguyễn Khắc Hài và án sát là Trần Thế Nho tâu xin cứ để những biền binh Hậu quân thuộc tỉnh Bắc Ninh, khi hết hạn, vẫn được tại ngũ, đề phòng khi trưng điều. Vua ưng cho.


    Tên tội phạm trốn tránh ở Ninh Bình là Quách Phước Thành tụ đảng quấy rối cướp bóc các nhà dân ở xã Trung Hoàng thuộc Lạc Thổ. Lại có bọn giặc lén lút ló lên ở xã Chân Lại thuộc Phụng Hoá, đòi dân phải đưa tiền và lương thực. Hộ lý Tuần phủ Lê Nguyên Hi liền phái Phó lãnh binh Nguyễn Văn Tương đem 200 quân đi đến phủ thành Thiên Quan để canh phòng, nhưng sức cho Quản phủ Vũ Thế Giới đến gần nơi để truy nã rồi đem việc đó tâu lên.


    Vua quở Nguyên Hi rằng : “Trước đây ở địa phận rừng phủ Thiên Quan, bọn giặc lén lút ló lên, ngươi tự xin đem quân đi dẹp, hầu đã đầy tháng, không bắt được lấy một đứa, chỉ uổng công khó nhọc mà không được công gì ; đến khi có chỉ sức hỏi, thì lại nói giặc đã tan, dân được yên ổn, mong cho tắc trách. Đến nay, chưa bao lâu, lại thấy bọn giặc quấy rối cướp bóc, thì lời nói trước chả gần như dối trá ư ? Vậy hẵng truyền chỉ nghiêm sức : ngươi nên đốc thúc binh dõng thế nào, phải dẹp tan giặc ấy, và lùng bắt tên giặc trốn là Quách Phước Thành để làm cho ra án, thì không những chuộc được lỗi trước, lại còn được hậu thưởng ; nếu để cho bọn kia cứ quấy rối thêm thì nhất định không thể tha thứ”.


    Bọn Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu nói về tình hình trong quân : “Gần đây bọn giặc liều chết giữ thành. Bọn thần đã sức cho biền binh ở bốn mặt ngoài, giữ trên ụ đất cao, đều bắn đại bác vào. Giặc bị thương và chết nhiều, sợ hãi phải nép ở mặt trong thành, dọc theo chân thành đào hầm, đắp đất, che ván, để đề phòng súng bắn, 8 cửa thành đều xếp đá ong thành đống, xây chèn bằng đất, hình thế rất vững bền. Còn như việc hoả công, vẫn chưa thi hành.


    “Lại, tiếp tờ tư của tỉnh Biên Hoà nói : giặc Thanh ((1) Nguyên văn là “Thanh phỉ” ²M ê , chỉ một số Hoa kiều dưới triều Thanh bấy giờ sang kiều ngụ ở ta rồi nổi lên làm giặc.1) lén lút nổi lên ở Kiên Giang ; giặc Đồ Bà cũng ẩn hiện ở mặt biển. Vậy xin liệu lượng phái quân và thuyền đi tuần tiễu, nã bắt. Lại nữa, kho của tỉnh, hiện tiền còn hơn ba vạn quan, gạo chỉ có hơn bốn trăm phương. Xin chước lượng xem hạt nào chứa còn dư dụ đôi chút thì vận tải gấp cho một vạn hộc để phòng việc chi ra. Bọn thần nay đã cùng nhau hội đồng và lấy quyền sai Phó vệ uý Ngô Văn Loan ở vệ Hoà dũng đem 200 quân, 7 chiến thuyền đi bắt giặc ; còn tiền và thóc thì sức tỉnh An Giang cấp cho”.


    Vua dụ rằng : “Bọn nghịch tặc nay đã thế cùng, đóng cửa thành, liều chết cố giữ, tạm kéo dài kể từng ngày thôi. Việc đánh vào thành, chớ nên nóng vội, hãy tạm nghỉ ngơi để bớt sức nhọc cho quân, nhưng đắp thêm ụ đất cho thêm cao, thêm rộng, cốt nhòm được vào trong thành để tiện chiếu bắn, thì giặc không còn trốn vào đâu được nữa, tất phải chết hết, bấy giờ quan quân ta càng dễ hoạt động. Vả lại, bốn phía ở trong thành, chỗ nào có mặt thẳng thì giặc đắp đất che ván, chỉ có thể giữ được đánh tạt ngang ; ví phỏng từ mặt thẳng ấy bắn vào thì trốn vào đâu ? Nay ở bốn góc ngoài thành, ngay chỗ mặt thẳng giặc vẫn núp, đắp một ụ đất ở hai đầu mỗi mặt, vận chuyển đại bác, nhằm mặt thẳng phía trong thành, bắn vào trong hầm, thì bọn giặc hết đường sống thoát. Lại, các cửa thành, giặc đã nấp cả ở ngoài, mặc ta làm gì thì làm, có trở ngại gì, sao không đem củi lửa, đêm đến, đốt phá cánh cửa gỗ. Một khi cánh cửa đã bị hỏng, thì đất đá đắp ở trong không dựa vào đâu được, tất phải sụp đổ theo.


    “Còn như phái quân và thuyền đi đến Biên Hoà làm việc bắt giặc, cũng hợp ý ta. Có điều là Biên Hoà hiện có tiền nhiều đến ba vạn quan, mà An Giang thì ít hơn. Vậy, nên ra lệnh cho An Giang vận chuyển bảy, tám nghìn hộc thóc sang Biên Hoà. Biên Hoà lại giao một vạn năm nghìn quan tiền sang An Giang, thì chỉ làm một cuộc di chuyển mà cả hai tỉnh đều đủ cả tiền và lương thực”.


    Vua bảo các thị thần : “Giặc Khôi liều chết để giữ cô thành, bọn ngươi liệu tính xem mưu kế của chúng sẽ ra sao ?” Thự Binh bộ Thượng thư Trương Đăng Quế tâu rằng : “Ngu thần cho rằng bọn chúng tự liệu hết đường chạy trốn, nên cố bám vào cái cô thành ấy để tạm kéo cái sống từng ngày thôi !” Vua nói : “Phải đấy, nay những đứa cố giữ với giặc Khôi kia, chẳng qua chỉ có quân Hồi lương và Bắc thuận thôi, còn bọn đạo Gia tô vốn là dân ta, chỉ vì triều đình nghiêm cấm đạo ấy, nên chúng mang lòng oán mà đi theo giặc, chứ không phải chúng cam tâm cùng với giặc cố giữ đến chết, huống chi bọn giặc ấy ở trong thành, chẳng qua đến một nghìn người là cùng, ăn chỉ có gạo với muối, chậm là ba, bốn tháng, thế bức, kế cùng, tất phải tự ra xin hàng”.


    Bình khấu Tướng quân Trần Văn Năng và Tham tán Lê Đăng Doanh tâu nói : “Dân ở hạt Gia Định và An Giang tình nguyện bỏ của nhà để giúp vào quân lương tiền năm nghìn quan, gạo một nghìn sáu trăm phương”. Vua sai truyền chỉ khen thưởng ; số tiền gạo đã quyên ra ấy giao cho Tuần phủ Gia Định Hà Duy Phiên, chứa vào kho, khi nào trong quân cần dùng, sẽ đem số tiền và gạo ấy để chi cấp. Đến lúc trong nước được yên, sẽ chiểu theo số, trả lại. Lại sai bộ Hộ ghi tên, đợi sau này sẽ chước lượng khen thưởng.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Bọn người Thanh ngụ ở Phiên An trước đều là nghèo túng không có chỗ nương tựa, sang nước ta là đất yên vui để làm ăn sinh sống đã lâu, lại không yên lành, đi theo bọn giặc, bọn quân chống lại quan quân, đến nỗi chụm đầu chịu giết, đó đều chúng tự làm ra. Còn như người Thanh ở các tỉnh, từ trước chưa hề dính líu đều được vô can, chắc rằng có thể giữ được không xảy ra việc gì ; nhưng e rằng trong đó còn có một vài người còn sợ và ngờ, phải nên săn sóc bảo ban cặn kẽ. Vậy, truyền dụ cho các Đốc, Phủ, Bố, án ở các tỉnh Vĩnh Long, Định Tường, An Giang, Hà Tiên phải hiểu dụ cho các người Thanh ở trong tỉnh mình : ai nấy yên tĩnh giữ phép, yên tâm làm ăn, không được mang lòng ngờ vực. Từ các quan quân đến dân chúng cũng không được bậy bạ trỏ mặt chê bai, hùa nhau doạ nạt, đến nỗi làm chúng không được ở yên ; việc phát giác ra, sẽ trị tội nặng”.


    Bọn Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương và Tham tán Nguyên Xuân tâu rằng : “Các hạng súng đại bác, trong đó có thứ súng xung tiêu bắn bằng đạn chấn địa lôi thì giặc ở trong thành đều tan tác, đào hầm náu mình, sợ hãi hơn hết. Duy [số đạn chấn địa lôi] lĩnh trước thì ít, không đủ để bắn. Vả lại, thần là Tống Phước Lương này biết qua phép chế tạo, lại có Chánh đội trưởng ở đội Cảnh tất là Tống Văn Bình cũng đã tự tay làm được. Vậy xin cho thu mua dược liệu, gọi thợ đúc đến, đem những súng gang đã cũ đã hỏng, chế ra đạn ấy để đủ dùng cho việc quân”.


    Vua cho được như lời xin. Lại phái thợ đúc là Dương Ngọc Dưỡng đến hiệp cùng Tống Văn Bình chỉ bảo phép đúc. Vua dụ sai mua nhiều nồi gang nát của dân, và đem những đạn gang hỏng để làm.


    Giá gạo ở Quảng Nam còn cao. Vua dụ Nội các : “Mỏ vàng vụn ở huyện Hà Đông, tỉnh Quảng Nam, hiện đã lấp lại không khai. Vả lại, nhà nước có thiếu, không phải vì của, phàm đã ban ơn cho dân, thì dù tốn đến hàng nghìn hàng vạn, cũng không hề tiếc, huống chi cái lợi nhỏ mọn, đâu phải là việc cần ? Ta nghĩ rằng
  • Chia sẻ trang này