0060.0081

12/1/16
0060.0081
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    hạt ấy bỗng gặp kém đói, đã mấy lần được triển hạn đóng thuế chính cung, và tăng giá mua cách thoả thuận các vật hạng, cho dân được dư dụ. Thế mà hiện nay giá gạo còn chưa thấy hạ, nên phải mở rộng đường cứu tế để cho dân nuôi được cha mẹ vợ con. Vậy ra lệnh cho thự Tuần phủ Đỗ Khắc Thư hiểu thị cho dân trong hạt : có ai tình nguyện đi đãi vàng ở mỏ vàng, thì mỗi người mỗi tháng đều được cấp tiền 2 quan, gạo 2 phương, đó cũng là cái ý lấy việc làm thay cho phát chẩn. Nếu công trình khó khăn, không muốn thì thôi.


    Bổ Nguyễn Đình Cộng làm Phó quản cơ, vẫn lĩnh Quản phủ phủ Thiệu Hoá ; Lê Phi Ba làm thí sai Phó quản cơ, vẫn lĩnh Quản phủ phủ Thọ Xuân. Hai người vốn được dân thổ địa tin phục, mới đây đi theo đánh giặc, dự có chút công lao, được Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng tâu xin, nên có mệnh lệnh này.


    Quy định lệ cấm cửa thành ở các địa phương và các tỉnh ngoài.


    (1. Về biền binh canh giữ cửa thành, tỉnh lớn, mỗi cửa, hạn là 20 người hoặc 15 người ; tỉnh nhỏ, hạn là 15 người hoặc 10 người. Ban ngày cắt lượt canh giữ để xét hỏi, đêm đến, chia làm 3 phần : 2 phần ở bên trong cửa, 1 phần ở bên ngoài cửa đều đủ khí giới canh phòng nghiêm ngặt. Lại vát thêm dân phu ở gần quanh thành, tỉnh lớn, mỗi cửa vài chục người, tỉnh nhỏ, 10 người, ban đêm cùng với binh lính canh giữ ngoài cửa, ban ngày thì cho về. Còn thành các phủ huyện, mỗi cửa, lính lệ 5 người, thường xuyên canh giữ phía ngoài cửa, cũng liệu lượng vát dân phu ở gần quanh thành, mỗi đêm chia đi tuần tiễu.


    2. Về khoá cửa thành, chuyên do viên Thành thủ uý cầm giữ. Tỉnh nào chưa đặt chức ấy thì phải cẩn thận giao cho người thân tín tạm giữ, biền binh canh cửa không được tham dự vào việc đó. Còn như thành các phủ huyện, để cho các viên phủ huyện kiêm giữ.


    3. Về khám hợp phù, mỗi cái dài 1 tấc 3 phân, ngang 9 phân, dày 2 phân, làm bằng sừng, chế thành 2 mảnh hình vuông dài, hợp lại làm một, quấn chỉ đỏ, một mặt khắc 2 chữ tên tỉnh, một mặt khắc các chữ “mỗ môn, khám hợp phù”. Thí dụ như tỉnh Quảng Bình, một mặt khắc 2 chữ “Quảng Bình”, một mặt khắc “Tiền môn, khám hợp phù”, hoặc “Hậu môn, khám hợp phù”, vân vân. Tỉnh khác cũng thế. Khắc xong, chia làm hai mảnh : một mảnh do quan to hàng tỉnh thủ giữ, một mặt giao cho Thành thủ uý lĩnh giữ, đề phòng khi hợp nghiệm.


    4. Về việc đóng mở cửa thành, hằng ngày đến giờ thu không, viên biền thủ hộ đốc quân lính canh phòng, đến cuối trống canh một, phải đóng chặt cửa thành, viên Thủ uý phải chính mình đi xem xét khoá cửa cho cẩn mật ; đến 8 khắc trống canh năm, thủ hộ các cửa đến viên Thành thủ uý, lĩnh chìa khoá ra mở, xong lại nộp trả ngay. Ban đêm, khi có việc khẩn cấp, cần phái người ra cửa thì các quan to như Tổng đốc, Tuần phủ, hoặc Bố chính, án sát, xét xem phải đi ra cửa nào, thì phát ra nửa mảnh khám hợp phù ở cửa ấy, giao cho người cẩn tín mang theo với người được phái đi, viên Thành thủ uý mới đem nửa mảnh khám hợp phù cửa ấy mà mình đã giữ, hợp lại thấy đúng, mới được mở cửa cho đi. Còn như nhân viên đi việc công từ ngoài thành đến, nếu là việc thường thì chỉ ở ngoài cửa, thông báo vào ; nếu là việc quan trọng khẩn cấp, cần vào thành để trình báo thì viên canh cửa phải hỏi han xét nghiệm, thấy có bằng cứ đích xác, liền đến trình với quan to hàng tỉnh xét thực, cũng theo như trước, đưa khám hợp phù, để Thành thủ uý hợp khám, mới mở cửa cho vào. [Các cửa thành] trên đây, hễ có người ra vào rồi liền phải khoá cửa lại như cũ. Lại, ban đêm có việc quan khẩn cấp, phải mở cửa thành, thì nên vát thêm quân lính đã huấn luyện để canh phòng cho nghiêm, rồi mới mở cửa, để phòng việc bất ngờ ; xong lại cho về trại ngũ.


    Sự mở cửa, đóng cửa ở các phủ huyện và các đài, các ải, các tấn sở, cũng thi hành theo như lệ này).











    chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cviiI



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa đông, tháng mười, ngày mồng một, làm lễ Đông hưởng.


    Tám anh em Nguyễn Khắc Hòa, thổ Tri châu châu Thất Tuyền, tỉnh Lạng Sơn, đi theo giặc, bao vây, đánh úp Tuần phủ Lạng - Bình là Hoàng Văn Quyền ở trạm Lạng Chung. Quyền bị giặc bắt. Thự Cấp sự trung Cao Phục Lễ cùng đi đấy chạy thoát. Quân quan bị thương và chết nhiều, do đấy tan vỡ. Giặc tràn qua phố Bả Hoan, gần đến tỉnh thành, tình thế rất nguy cấp. án sát Trần Huy Phác phi tư sang Bắc Ninh, xin quân cứu viện. Bố chính, án sát Bắc Ninh là Nguyễn Khắc Hài và Trần Thế Nho tâu lên.


    Vua phê bảo : “Không ngờ Hoàng Văn Quyền hèn kém đến thế ! Xem tờ tâu, giận đến nỗi dựng ngược cả tóc. Vậy dụ truyền cách chức, đợi khi bắt được, sẽ trị tội”.


    Bổ Tuần phủ Quảng Yên là Lê Đạo Quảng làm Tuần phủ Lạng Sơn. Ra lệnh cho Quảng phải theo ngay chỉ dụ trước, tiến quân đi dẹp giặc và đến Lạng Sơn cung chức.


    Vua bảo bộ Binh : “Thổ phỉ Cao Bằng, chẳng qua là đồ đảng Nông Văn Vân, sao đến nhông nháo như thế, tóm lại, chỉ tại viên bị cách là Hoàng Văn Quyền hèn kém, vô tài, mới đến nông nỗi thế. Nay một đạo Tuyên Quang hiện đã dẹp yên, thì dư đảng Thái Nguyên cũng tan vỡ, không đáng lo nữa. Vậy, truyền dụ cho Tổng đốc Ninh - Thái là Nguyễn Đình Phổ liệu tính số quân và voi để lại, đủ để ngăn chặn trong hạt của mình, tức thì thống lĩnh quân và voi của Thanh, Nghệ và các tỉnh, đi ngay đến Lạng Sơn để đánh dẹp ; Bố chính Hải Dương là Trần Văn Tuân lượng phái quân của tỉnh ấy năm trăm hoặc bảy trăm và voi trận hiện có, đi theo Đình Phổ để bắt giặc. Lại truyền dụ cho Tổng đốc quân vụ Lê Văn Đức và Tham tán Nguyễn Công Trứ : hiện nay giặc Vân đã đi đến thế tan vỡ, thì việc đuổi bắt cũng dễ dàng. Một mình Lê Văn Đức có thể đương được mặt đó ; còn Nguyễn Công Trứ lập tức chia lĩnh 2.000 hoặc một nghìn vài trăm biền binh, đi đường tắt, gấp đến Cao Bằng để tiếp viện, dẹp giặc. Vả lại, về mặt Lạng Sơn, đã phái Nguyễn Đình Phổ tiến quân đến đánh, Nguyễn Công Trứ nếu từ thượng du đánh ập lại, một mặt để tiếp viện cho Cao Bằng, một mặt để cắt đứt đường sau của bọn giặc ấy, thì càng được việc lắm. Nhưng việc quân khó lòng ở xa mà tính, nếu tình thế hiện nay chưa tiện chia quân thì cứ thực tâu lên để đợi chỉ, cũng không nên miễn cưỡng”.


    Bố chính Bắc Ninh là Nguyễn Khắc Hài, án sát là Trần Thế Nho tâu : “Trước kia, đê Đông Xá và Phương Trạch bị vỡ, bọn thần đã điều dân phu đi đắp, công việc vất vả khó nhọc”. Vua ra lệnh thưởng cho họ ba trăm quan tiền.


    Kẻ đầu mục trạm Thanh Khoa tỉnh Thanh Ba là Hoàng Trọng Kiều, nguỵ xưng là Trung võ dinh Chánh tổng quản cùng với người đạo Gia Tô là Nguyễn Văn Xuân mưu làm giặc, kêu gọi tụ họp côn đảng ở địa hạt Ngọc Sơn, Nông Cống, hẹn đánh phủ thành Tĩnh Gia. Quân sắc lấy khăn đỏ làm dấu hiệu.


    Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng được tin dò thám trình báo, mới uỷ Bố chính Nguyễn Đăng Giai và thự Lãnh binh Vũ Văn Huân đem quân đi bắt. Rồi tâu việc ấy lên vua.


    Vua dụ ra lệnh cho Nghệ An tập hợp tất cả biền binh đã mãn ban về nghỉ hưu đều phải lưu lại tại ngũ, rồi phái ra một Quản vệ, bốn năm trăm biền binh, gấp đi hội tiễu. Giặc nghe tin quan quân đến, đều tan tác chạy trốn. [Quan quân] bắt được Hoàng Trọng Kiều, giết đi ; con cháu nhà Trịnh là Trịnh Trinh, lại viên ở tỉnh là Lê Thạc Đức ngầm thông với giặc, việc phát giác ra, đều phải bắt. Nguyễn Khả Bằng và Nguyễn Đăng Giai đều được thưởng kỷ lục 1 thứ ; Vũ Văn Huân được thực thụ ngay chức Lãnh binh. Người tố cáo được thưởng 200 lạng bạc.


    Người đạo Gia Tô ở Nghệ An là Trần Danh Nguyên tụ họp đồ đảng để mưu tính làm việc phi pháp. Cai đội thuộc tỉnh ấy là Phạm Đình Trâm thông đồng với Nguyên, bị người ta tố cáo ra. Tổng đốc Tạ Quang Cự bí mật phái biền binh đi lùng bắt, bắt được Nguyên và Trâm cùng 14 tên đồng bọn, luôn với giấy tờ, ấn tín nguỵ.


    Việc đó tâu lên, vua dụ Nội các rằng : “Phạm Đình Trâm là quan võ hàng tỉnh, lại dám thông đồng với bọn nguỵ, ngấm ngầm mưu tính kia khác, thế mà từ lâu quan tỉnh không biết, thật là thiếu sót, đáng lẽ phải giao cho đình thần nghị tội. Nhưng nghĩ một khi có người tố giác, liền bắt được ngay, để cắt hết mầm ác, vậy nên rộng tha cho tội trước, mà gia ân cho : Tạ Quang Cự được thưởng thêm một cấp; Nguyễn Đình Tân, dưới tên có ghi bị giáng 2 cấp, nay được khai phục một cấp; Phó vệ uý vệ Tráng võ phái đi trước là Tống Phước Minh được thưởng thêm hàm Vệ uý ; thự Vệ uý ở Tuyển phong Tiền vệ phái đi sau là Nguyễn Tình Lộc được thưởng tiền lương một tháng ; người tố cáo được thưởng một trăm lạng bạc. Các tên nguỵ đã bị bắt là Trần Danh Nguyên và Phạm Đình Trâm phải xử tử bằng tội tùng xẻo, còn thì đều phải chém cả”.


    Tổng đốc Định - Yên là Đặng Văn Thiêm tâu : “Giá gạo trong tỉnh hạt đã hạ dần, lúa cấy sớm đã chín, dân không muốn lĩnh tiền vay”.


    Vua phê bảo : “Ta cốt muốn cho dân đen đều được no ấm, nay sự sinh sống của nhân dân được đầy đủ, không muốn vay tiền của Nhà nước, chứng tỏ phong tục còn thuần, lòng người trung hậu, nên truyền chỉ khen ngợi”.


    Thự Lang trung bộ Lại là Lê Sĩ Thường bị nhục vì Bộ trưởng Nguyễn Khoa Minh mắng, mới gửi thư nặc danh đưa đến triều đình, đại khái nói : các nhà đương đạo vì lòng đố kỵ, thường hay chèn ép, ngầm hại người khác. Vua truyền chỉ sức hỏi, Thường đã bày tỏ thú nhận. Vua xét về tội viển vông, càn bậy, ra lệnh cách chức, phát đi quân thứ Lạng Sơn, trổ sức làm việc để chuộc tội ; Nguyễn Khoa Minh bị phạt bổng sáu tháng.


    Sai Quản vệ vệ Trung nhất quân Vũ lâm là Nguyễn Văn Mỹ đem 500 biền binh ở 2 vệ Trung nhất, Trung nhị đi đóng giữ Hà Nội. Hôm đến Hà Nội, chuẩn cho Tổng đốc Hà - Ninh Đoàn Văn Trường lập tức phái Quản vệ vệ Tiền nhị quân Vũ lâm là Lê Văn Thảo đem toàn vệ binh đi gấp đến Lạng Sơn, hiệp cùng Phó lãnh binh Hà Nội Hồ Văn Vân đi bắt giặc ; còn những lính trong vệ Ban trực trung, khi trước có Chỉ phái đi đóng giữ Hà Nội thì rút lui rồi lưu lại ở Thanh Ba để sai phái. Sau đó vì vệ Ban trực trung đã đi rồi, nên vua lại dụ sai Tuần phủ Thanh Ba là Nguyễn Khả Bằng hễ tiếp thấy Nguyễn Văn Mỹ đi qua, thì lập tức tuyên chỉ lưu lại, rồi trích lấy hai trăm biền binh sai đi Hà Nội cùng với vệ Ban trực trung đóng giữ.


    Tổng đốc đạo Thái Nguyên là Nguyễn Đình Phổ tâu : “Bọn giặc ngày càng lan tràn, một toán từ Chợ Mới, Bạch Thông lấn đến Chợ Đô, Phú Lương ; một toán từ Chợ Chu, Định Châu lấn đến xã Hạ Lãm, Văn Lãng, cách tỉnh thành đều một ngày đường ; một toán từ các đồn Cảm Hoá, Lương Hạ, Xuân Dương lấn đến mỏ Son, Động Hỉ, cách tỉnh thành ước hơn ba trống canh. Thổ dân sở tại, phần nhiều theo giặc, thần đã thân hành đem quân và voi, do đường Quan Triều, tiến đóng ở đồn Giang Tiên để tuỳ cơ đánh dẹp”.


    Vua dụ nói : “Trước đây ta thấy giặc Vân đã bị tan vỡ, tưởng mặt Thái Nguyên đã được yên ổn, nên mới có chỉ sai ngươi đi đến Lạng Sơn để tiếp viện đánh dẹp. Nay, cứ tình hình này, thì ngươi từ trước đến giờ, việc đi đánh giặc thực không làm nên công trạng gì. Vậy truyền Chỉ nghiêm quở, nhưng chuẩn cho ở lại Thái Nguyên để dẹp giặc. Ngươi nên hăng hái cố gắng càng hơn, sớm trừ bọn giặc ấy để chuộc tội trước, nếu chậm trễ kéo dài, để đến nỗi cắm quân, tốn lương, tướng sĩ mỏi mệt, thì phép nước rất nghiêm, quyết khó cầu xin rộng tha mãi được”.


    Vua lại cho việc bắt giặc ở Lạng - Bình đang rất cần, sai tỉnh Hải Dương phái thêm 300 thú binh và 300 cơ binh, 15 cỗ súng thần công quá sơn, và thuốc đạn, giao cho Phó lãnh binh Nguyễn Thọ Tuấn đi gấp đến Lạng Sơn hiệp cùng Hồ Văn Vân đánh dẹp. Còn quân và voi do Nguyễn Đình Phổ đã phái đi lần trước, chuẩn cho đặt cả dưới quyền cai quản của bọn Hồ Văn Vân để sự trách cứ thành công được chuyên nhất.


    Lại sai Cai đội được dùng làm Quản cơ là Tạ Quang Tri, Vũ Văn Ngôn, Vũ Văn Điềm và Cai đội được dùng làm Phó quản cơ là Nguyễn Quang Tửu đi đường trạm, đến quân thứ Lạng Sơn, lệ thuộc để sai phái.


    Lại dụ bọn Hồ Văn Vân rằng : “Tra rõ những viên Quản cơ trong chuyến đi theo Hoàng Văn Quyền làm hỏng việc này, tình hình nhút nhát thế nào, phân biệt từng người mà tham hặc, tâu lên”. Rồi vua cho bọn Tạ Quang Tri được bổ sung vào những chân Quản cơ bị khuyết ấy.


    Trấn thủ cũ ở Cao Bằng đã về hưu là Vũ Văn Tình xin đi đánh giặc ở Bắc Kỳ ; Thống chế Nguyễn Tăng Minh đề đạt tâu lên. Vua bằng lòng cho, sai đi đường trạm đến Lạng Sơn, theo Hồ Văn Vân và Nguyễn Thọ Tuấn đem quân đi đánh dẹp.


    Sai tỉnh Quảng Trị chọn 10 con voi trận do Kinh phái ra đóng giữ, giải đi giao cho tỉnh Quảng Bình, tỉnh Hà Tĩnh mỗi tỉnh 5 con. Quảng Bình đổi phái voi trận ở tỉnh 5 con, giải đi giao cho Nghệ An 3 con, Thanh Ba 2 con, thay thế cho đủ số voi. Hà Tĩnh đổi phái voi trận ở tỉnh 5 con, giải đi giao cho Hà Nội ; Hà Nội lại chọn voi trận ở tỉnh 5 con phái lên Lạng Sơn đi trận.


    Sai thị vệ mang thuốc ở kho nhà vua chia đi các quân thứ Thái Nguyên, Tuyên Quang ban cấp để chữa cho quân sĩ nào đau ốm.


    Vua bảo bộ Binh : “Trước đây, thổ Tri châu châu Thất Tuyền, tỉnh Lạng Sơn là Nguyễn Khắc Hoà a dua theo giặc bao vây đánh úp Hoàng Văn Quyền ; vả lại, hắn đã nhận quan chức triều đình, trở nảy dã tâm, đi theo giặc, chống lại quan quân, rất là đáng ghét ! Vậy, truyền dụ cho bọn Hồ Văn Vân, Nguyễn Thọ Tuấn nên treo giải thưởng : hễ ai bắt hay chém được Khắc Hoà thì được thưởng 100 lạng bạc, và cho làm quan Thất phẩm. Lại tra rõ xem ai là thủ nghịch từ Cao Bằng xâm lên đến Lạng Sơn, hễ ai săn bắt được tên ấy, sẽ được thưởng 300 lạng bạc và cho làm quan Lục phẩm.


    “Vả lại, thói cũ của người thổ phần nhiều hay chứa súng điểu sang, một khi bị khua lên và dụ dỗ thì dễ đi theo giặc. Vậy ra lệnh cho bọn Hồ Văn Vân cùng với Nguyễn Đình Phổ ở Thái Nguyên : phàm quân đi đến đâu, trước hết truyền bảo cho thổ ty, thổ mục và thổ dân : nếu có ai trước đã theo giặc nay muốn quay đầu quy thuận, thì đem nộp tất cả súng điểu sang sẽ được khỏi tội, cho về để yên nghiệp làm ăn, mãi mãi không được làm súng ấy nữa. Kẻ nào vi phạm thì phải tội chết. Nếu ai cố ý giấu giếm, sẽ giết không tha.


    “Lại truyền chỉ cho Đốc, Phủ, Bố, án các tỉnh Tuyên Quang, Thái Nguyên, Cao Bằng, Lạng Sơn cấm người dân không được cùng với thổ dân đổi bán diêm tiêu, lưu hoàng làm thuốc súng ; các thổ dân còn dám cùng nhau mua bán diêm tiêu, lưu hoàng thì từ 1 lạng trở lên cũng bị khép vào tội chết”.


    Suất đội Thuỷ quân Phan Văn Bối, cai quản biền binh và 2 đội Ngân sang đi chiếc thuyền hiệu chữ “Định” để vận chở súng đạn, diêm tiêu, lưu hoàng và tiến đến nơi quân thứ Gia Định (súng đồng phá địch trung tướng quân 10 cỗ, súng đồng xung tiêu 6 cỗ, chấn địa lôi 3.600 quả, diêm tiêu 200 cân, lưu hoàng 40 cân, tiền kho ở Kinh 10.000 quan). Thuận gió, thuyền đi nhanh, vừa 5 ngày đã đến cửa biển Cần Giờ.


    Vua biết tin, bảo thị thần : “Việc này nếu không có thần giúp, sao được như thế?”. Liền sai bộ Lễ sửa lễ tạ miếu Nam hải Long vương ; thưởng cho Phan Văn Bối kỷ lục một thứ, ngân tiền Phi long hạng lớn 5 đồng ; biền binh mỗi người được thưởng tiền lương một tháng ; hai đội Ngân sang được lưu lại ở quân thứ, theo các Tướng quân, Tham tán làm việc bắt giặc.


    Vua sai truyền dụ cho bọn Tướng quân, Tham tán ở quân thứ Gia Định : “Mấy lần căn cứ vào lời người phái đi tâu trình và công việc đánh thành, thì hình như có người ngầm thông tin với giặc, như tháng trước, ta định đánh phá thành, thì giặc đã biết trước để phòng bị ; gần đây, định đốt lửa để phá thành, thì giặc lại biết được, lập tức chất đống đất và đá để lấp. Các việc như thế, nếu không có người ngầm thông tin tức, sao có thể biết được ? Vậy phải lập tức bí mật dò xem đích ai, tra bắt để trừng trị, không để cho bọn ấy ở trong tiết lậu ra, làm hỏng việc không phải là nhỏ.


    “Lại, trước kia, theo lời bọn Tống Phước Lương tâu, xin làm ra chấn địa lôi để đủ dùng cho việc quân, và chấn địa lôi ấy thực là lợi khí đánh thành, ở Kinh cũng đã mang thêm đi hơn 700 quả rồi. Nếu ở trong quân có thể làm ra, để khi cần dùng được đầy đủ thì càng tốt. Nhưng cách làm ngòi thuốc cốt phải cẩn thận, giữ kín đừng để cho người khác bắt chước mới được. Vả lại, các hạng đại bác bắn ra, viên đạn còn nhặt lấy để dùng được, duy phóng chấn địa lôi thì đắc lực hơn hết, vì đã giết được giặc, mà giặc lại không thể nhặt để dùng được nữa. Hiện nay phải đắp núi đất đem tất cả các hạng đại bác lên để bắn. Duy các hạng súng chỉ bắn thường thì đành rằng nên từ trên cao bắn xuống. Còn như súng “xung tiêu” vốn có thể bắn vọt bay cao, nếu ở chỗ đất phẳng, cũng không lo không lọt vào thành được, huống chi tiếng nổ lại rất dữ dội. Cần nên đặt ở đất phẳng, hoặc đắp bệ súng chỉ cao dăm ba thước, cốt được bình ổn để khỏi đổ nhào, chứ không nên mang để trên núi. Núi đất lại thấy chưa tiện đâu. Lại nữa, ở trên núi đất, về phía 2 bên khẩu súng, nên ken tre làm cái ụ, trong đổ đầy đất, để cho người bắn súng có chỗ ẩn nấp, không lo súng đạn bên địch, thì yên tâm mà bắn, mới có thể giết được giặc.


    “Nay, lại định thêm cách thưởng về việc đánh bằng bắn chấn địa lôi. Khi nào bắn, thì sai người mang thiên lý kính lên chòi vọng địch để xem, viên đạn nào sịt, thuốc không nổ, hoặc vỡ ở trong khoảng không mà rơi xuống, thì đem người chế tạo và người điểm phóng ra trừng trị ; viên đạn nào bắn vào thành, rơi xuống đất nổ ngay, thì mỗi viên đạn được thưởng một đồng ngân tiền Phi long hạng lớn. Và gián hoặc có đốt phá được nhà cửa trong thành, và làm bọn giặc bị thương, sẽ tuỳ theo nhẹ nặng, chước lượng khen thưởng”.


    Bổ Hoàng Văn Viện làm Phó vệ uý vệ Túc võ, quân Thần sách.


    Cho Phó lãnh binh tỉnh Bắc Ninh là Trần Văn Di làm Lãnh binh tỉnh Bắc Ninh; Hiệu uý vệ Cẩm y, ấm thụ Phó vệ uý là Nguyễn Văn Thu làm Phó vệ uý vệ Tráng võ quân Thần sách. Cai đội ở Hổ oai Tiền vệ là Nguyễn Văn Ưng làm Phó vệ uý vệ Trung võ, Cai đội ở Ban trực Hậu vệ là Lê Phước Thư làm Phó vệ uý Tuyển phong Hữu vệ.


    Chuyển bổ : án sát Tuyên Quang là Nguyễn Hữu Gia làm án sát Hà Nội ; án sát Hà Nội là Hồ Sĩ Lâm làm án sát Tuyên Quang.


    Triệu Bố chính Quảng Ngãi là Lê Nguyên Trung và án sát Khánh Hoà là Hồ Hữu Thẩm về Kinh đợi chỉ, cho án sát Quảng Ngãi là Nguyễn Đức Hội thăng thự Bố chính.


    Phỉ mục ((1) Phỉ mục : người cầm đầu bọn giặc.1) Lạng Sơn là Nguyễn Khắc Hoà, cùng với phỉ mục Cao Bằng là Bế Văn Huyền đem đồ đảng đến bao vây tỉnh thành Lạng Sơn, quân chúng đến hơn một vạn. Phía ngoài thành, giặc lập đồn đóng giữ khắp núi, đầy đồng. án sát Trần Huy Phác hoả tốc đưa thư đến Bắc Ninh để cáo cấp, nói : dân 7 châu thuộc hạt Lạng Sơn theo giặc đến quá nửa, mà quân trong thành vừa ít vừa yếu, thực khó giữ nổi. Vậy xin gấp phái quân đến cứu và xin phi báo các tỉnh lớn đến tiếp ứng. Bố, án Bắc Ninh là Nguyễn Khắc Hài và Trần Thế Nho đem việc này tâu lên.


    Vua bảo bộ Binh : “Trước đã có chỉ cho Tổng đốc An - Tĩnh Tạ Quang Cự phái ra 1 Quản vệ, bốn, năm trăm biền binh đi đến Thanh Ba để bắt giặc, nay việc bắt giặc ở Lạng Sơn cần hơn, hẵng phái Vệ uý Long võ Hữu vệ là Nguyễn Tiến Lâm đem Cai đội Cẩm y là Hoàng Cung, Đoàn Lâu, theo đường trạm đi gấp. Nếu biền binh Nghệ An trước đây phái đi đã lên đường, mà người cai quản là Phó vệ uý, thì chuẩn cho Tiến Lâm sung là Vệ uý ; nếu người được phái đi là Vệ uý thì hiệp với quản suất cùng đi Lạng Sơn, hội đồng với Hồ Văn Vân và Nguyễn Thọ Tuấn để đánh dẹp. Việc được yên Nguyễn Tiến Lâm sẽ được lấy tư cách là Vệ uý, trật Chánh tam phẩm, tạm sung làm Lãnh binh tỉnh Lạng Sơn”.


    Vua lại truyền dụ cho Tuần phủ tỉnh Lê Đạo Quảng : “Nếu đã theo chỉ dụ trước, đi tắt đến Lạng Sơn, thì phải xem cơ hội mà làm, nếu chưa lên đường thì nên giục ngay thổ ty, thổ mục và thủ hạ đắc lực ở Quảng Yên, chi cấp cho tiền gạo mang theo, do đường cái lớn, đi sang Hải Dương, Bắc Ninh, rồi hội với lũ Hồ Văn Vân mang nhiều súng, gươm, quân, voi, đi nhanh đến tiếp viện đánh dẹp, để sức mạnh của quân được nhiều, chóng được thành công, không được chậm trễ”. Lại sai Hà Nội phát ra 10 cỗ đại bác quá sơn và thuốc đạn, vận chuyển đến quân thứ bọn Hồ Văn Vân ; bộ Binh chọn trong quân Hộ vệ, và Cảnh tất lấy 5 người bắn giỏi, đi đường trạm để theo đánh giặc.


    Cho Phó vệ uý vệ Trung võ quân Thần sách là Nguyễn Văn Ưng làm Vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung làm Phó lãnh binh tỉnh Bắc Ninh, chuẩn cho ngay hôm ấy, phải đi đến quân thứ Thái Nguyên, theo Nguyễn Đình Phổ đi bắt giặc. Ưng năm nay đã hơn 60 tuổi, vào bệ kiến, từ tạ xin đi.


    Vua thấy người khoẻ mạnh, nhanh nhẹn, cho chiếc áo trận hàng màu, có lót và bảo : “Ngươi tuổi già mà sức còn mạnh. Nay tỉnh Thái Nguyên có việc, giao cho cầm quân, không sợ ngươi nhút nhát, mà chỉ lo ngươi táo bạo, khinh địch, nên phải thận trọng càng hơn, mới có thể thành công, phải nghiêm kính nhé !”


    Ra lệnh cho các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, Nam Định, Sơn Tây và Hưng Yên chiếu theo số biền binh thuộc hạt mình đã mãn ban về nghỉ đều phải lưu lại tại ngũ để sai phái.


    Truy đoạt quan chức nguyên Tổng đốc Long - Tường là Lê Phước Bảo.


    Vua dụ bộ Binh rằng : “Lê Phước Bảo khi giặc Khôi mới nổi loạn, đem Lãnh binh đi đánh giặc, giao cho con là Lê Phước Đồng, đi đường thuận tiện, đến Kinh tâu báo. Ta đã giáng dụ khen thưởng và trao cho Lê Phước Đồng chức Cai đội, hàm Chánh lục phẩm. Không ngờ Phước Bảo hèn kém, vô tài, đã để mất thành trì, lại để giặc bắt được, làm đổ quân, nhục nước, không tội gì to bằng. Vậy, chuẩn cho truy đoạt quan chức ngay ; còn Phước Đồng cũng phải cách chức, giao cho đi quân thú Gia Định, trổ sức làm việc để chuộc tội”.


    Hộ lý ấn quan phòng của Tổng đốc là Bố chính Đặng Văn Bằng, án sát Bùi Văn Lý và Lãnh binh Nguyễn Đăng Huyên, tâu nói : “Cha con anh em Mạc Công Du trước đã nhận quan chức của giặc, sau lại mưu bắt cả người và thuyền đi sứ của giặc. Như vậy tâm tích đen trắng lẫn lộn, chưa được rõ ràng lắm”.


    Vua dụ cho Hộ lý Tuần phủ Hà Tiên là Trịnh Đường phái dẫn Mạc Công Du, Mạc Công Tài, Mạc Hầu Diệu đến Gia Định, do Tướng quân, Tham tán cho gộp cả lại với Mạc Hầu Hi (Hi trước theo ở quân thứ Thái Công Triều), phái người giải về Kinh để hỏi rõ tâm tích. Du chưa lên đường, đã bị ốm chết. Bọn Tài, sau khi đến Kinh, bị giao cho bộ Binh tra hỏi. Hi bị tống ngục ; Tài, Diệu chuẩn cho do bộ chờ chỉ định đoạt.


    Ra lệnh cho Bố, án Bắc Ninh là Nguyễn Khắc Hài và Trần Thế Nho phái đi dò xét quân thứ Lạng Sơn ; Bố, án Tuyên Quang là Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm phái đi dò xét quân thứ Tuyên Quang. Tất cả đều căn cứ vào tình hình, ba ngày một lần tâu lên.


    Lại vì quan quân ở Tuyên Quang đi sâu vào biên giới, vua bèn sai chiếu theo từ tỉnh thành đến quân thứ tính đường đất, liệu lượng đặt vọng canh ở bên đường, cho thổ binh, thổ dân canh giữ, cốt cho liên lạc không ngừng để thông tin tức.


    Vua sai đình thần truyền dụ cho Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang Lê Văn Đức, Tham tán Nguyễn Công Trứ rằng : “Tháng trước bọn ngươi đem đại binh đi dẹp giặc ở Vân Trung, đến đâu không ai dám chống, bọn giặc đã sợ bóng gió, chạy trốn rồi. Nay hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng hiện bị bọn giặc bao vây. Về mặt Lạng Sơn, lần lượt đã trưng điệu biền binh ở các tỉnh hợp lại để dẹp, tin rằng có thể hẹn ngày thành công được. Duy ở Cao Bằng, đã lâu không có tin tức gì ; nay bọn ngươi đem đại đội binh dõng, đã đến Vân Trung, nếu bắt được tên nghịch Vân đóng cũi đưa về Kinh sư, càng tốt ; nếu hắn đã trốn tránh trước rồi thì ta cũng không phải truy lùng khắp rừng, chỉ nên phá tan sào huyệt là đủ. Rồi, theo như chỉ dụ trước, sức cho thổ dân đem nộp hết súng điểu sang : cái còn tốt thì để dùng, cái đã hỏng thì hủy bỏ đi, để cho chúng sợ oai quân ta mãi mãi, thế là xong việc. Nhưng cũng tuỳ tiện mà làm việc, chớ nên để chậm. Cần phải gấp đường đi chóng đến Cao Bằng, đánh giải vây cho đồn núi Ninh Lạc, thì biền binh sẽ khỏi phải xông pha lâu ở nơi sơn lam chướng khí, mà tỉnh thành Cao Bằng cũng chóng lấy lại được, mà việc đánh dẹp ở Lạng Sơn cũng được dễ dàng. Thực là kế hay nhất.


    “Còn như lương quân, nên cho mỗi người mang theo lương ăn 10 ngày. Gián hoặc có thiếu thốn, ở đâu thì lấy ở đấy. Vả lại, thổ dân xứ này phần nhiều theo giặc,
  • Chia sẻ trang này