0060.0082

13/1/16
0060.0082
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    chúng có tích trữ, chỉ tiện giúp lương cho giặc, thì nhân cái lương ấy, ta có thể tự tiếp tế được. Khi đại binh đã đến Cao Bằng, giặc tất tan vỡ, ở đấy có kho chứa từ trước, lương của quân càng được đầy đủ. Rồi nhân thế thắng, chuyển đến Lạng Sơn, dẹp yên dư đảng một thể. Bấy giờ sẽ do đại lộ Bắc Ninh, hát khúc khải hoàn, công ấy không gì lớn hơn được. Ta tính kỹ vài bốn lần, muốn đánh giải vây cho Cao Bằng, trước phải đánh dẹp thổ phỉ ở Lạng Sơn, sau mới đến bắt giết tên nghịch Vân. Các ngươi nên kính cẩn tuân theo, chớ xao lãng !”


    Vua bảo Nội các rằng : “Thự Bố chính Phạm Phổ và án sát Lê Bỉnh Trung ở Tuyên Quang vì án nghịch Vân gây nên tai biến, đều phải cách chức, sau vì Phạm Phổ ở trong quân tự tử chết, đã có chỉ cho khai phục quan hàm trước. Nay nghĩ lại bọn ấy là bầy tôi giữ bờ cõi, nhưng vỗ về cai trị không đúng đường, gây nên án lớn, tội đó không thể chối được. Phạm Phổ tuy chết, chưa đủ che được tội, nên cứ theo chỉ dụ trước, cách chức, truy thu lại bằng sắc, Lê Bỉnh Trung cũng phát làm lính ở trong quân của Lê Văn Đức, chịu sai phái làm việc, để làm gương răn cho những quan lại ở biên giới làm hỏng việc”.


    Bọn giặc ở Ninh Bình hơn 200 tên đánh phá trại Cuông Lỗi, đón đường cái quan cướp bóc hành khách và những người buôn bán, lại quấy rối đồn Lý Nhân, cướp lấy khí giới ở đó.


    Việc ấy tâu lên, viên Quản bảo Lê Văn Vượng phải phạt trượng và cách chức, phát đi làm lính ; hộ lý Tuần phủ Lê Nguyên Hi giáng hai cấp, án sát Nguyễn Bá Thản phải giáng một cấp, trách cứ phải nghiêm ngặt đốc thúc biền binh đi đánh dẹp.


    Đình thần bàn lại danh sách xử án mùa thu năm ấy, tâu lên. Vua xét lại kỹ lắm, chuẩn cho giảm tội chết, phát làm quân 70 người, phát đi quân thứ để làm việc 22 người, được tha 10 người.


    Tỉnh Ninh Bình, trước đây, vì nước lụt tràn về, lúa đồng bị ngập, đến mùa gặt, chỉ được độ ba phần mười. Quan tỉnh đem tình hình ấy tâu lên. Vua dụ cho thuế vụ đông năm nay, và tất cả tiền và thóc thuế còn thiếu từ năm trước đáng phải thu vào mùa hạ năm nay, đều cho hoãn đến mùa hạ sang năm đem nộp.


    Tù phạm phủ Thuận An, tỉnh Bắc Ninh phá ngục. Binh dịch thuộc phủ ấy cố sức vây bắt hơn 20 phạm nhân hoặc chém, hoặc bắt, không sót một tên nào. Việc ấy tâu lên, vua sai thưởng cho binh dịch 300 quan tiền. Điển ngục Cai đội Trương Văn Chuẩn phải cách chức, ngục tốt phải phạt trượng, quyền nhiếp Quản phủ Phạm Văn Đức và Tri phủ Nguyễn Văn Lý vì đi việc quan vắng, đều phải giáng một cấp.


    Sai tỉnh Hà Tĩnh triệu tập những biền binh thuộc tỉnh ấy đã mãn hạn về nghỉ đều tựu ngũ, rồi phái 1 Quản vệ, 500 biền binh đi đóng giữ tỉnh Thanh Ba.


    Cho Bố chính tỉnh Hưng Yên Vũ Tuấn làm Bố chính tỉnh Quảng Yên hộ lý ấn quan phòng của Tuần phủ. Còn ấn triện của Bố chính Hưng Yên giao cho thự Tuần phủ Trịnh Quang Khanh kiêm lĩnh.


    Trao cho Tổng đốc An - Tĩnh Tạ Quang Cự làm Tổng thống quân vụ đại thần, đi lên Lạng Sơn đánh giặc, cho mang theo cả ấn quan phòng cấp cho Tổng thống quân vụ.


    Vua dụ rằng : “Nay bọn giặc Lạng Sơn, thế rất nhông nháo, nên đặc cách sai ngươi đi. Ngươi phải đem ngay các vệ lần trước ở Nghệ An phái đi Hà Nội, ở Hà Tĩnh phái đi Thanh Ba và lính Vũ lâm đồn thú ở Hà Nội chuyển qua tỉnh Bắc Ninh, đốc thúc biền binh của Hà Nội và Nam Định phái đi ngăn chặn, cùng với các hạng binh dõng của Lê Đạo Quảng và Nguyễn Thọ Tuấn, mang nhiều súng ống, khí giới và voi tiến lên Lạng Sơn để đánh dẹp, cốt giết tan giặc ấy, đi thẳng đến Cao Bằng, dẹp nốt dư đảng. Cần phải tập hợp quân lực cho hùng hậu, điều khiển cho hợp nghi, sớm thành công to, để đón lấy phần thưởng lớn nhất.


    “Vả lại, khi đại binh đi tiễu, nên thưởng phạt cho sáng suốt và giữ đức tin, để khuyến khích quân đội. Vậy chuẩn định : không cứ quan, quân hay thủ hạ, nếu ai bắt sống được 1 tên giặc, thưởng 3 lạng bạc, chém được 1 tên giặc, thưởng 2 lạng bạc. Từ Chánh phó quản vệ đến Suất đội, nếu ai nhút nhát, lùi lại thì chém ngay để rao trong quân. Còn ai ra trận hăng hái, can đảm, có khi bị thương hay chết, thì chuẩn cho theo cách thức thể lệ trước mà thưởng cấp.


    “Lại, đến kho tỉnh Bắc Ninh, liệu lấy bạc lạng và ngân tiền Phi long hạng lớn và hạng nhỏ, mang theo đến quân thứ để chuẩn bị làm phần thưởng”.


    Vệ uý sung Lãnh binh Hà Nội là Trần Đức Vịnh tuổi già và ốm, được chuẩn cho : về làng hưu trí với hàm cũ. Cho Vệ uý vệ Cẩm y là Vũ Văn Từ tạm sung làm Lãnh binh Hà Nội đem Cai đội vệ Cẩm y là Phạm Văn Hoà và Nguyễn Văn Ký theo đường trạm, đi trước, đợi hôm Tạ Quang Cự đến Hà Nội, thì đi tòng chinh. Lại ra lệnh cho Hà Nội, Nam Định đều phái 2 Quản cơ, 1.000 biền binh đi đến Bắc Ninh, cũng đợi Quang Cự tiến đến, sẽ lệ thuộc theo đi làm việc quân.


    Cho thự Hữu quân Đô thống phủ Chưởng phủ là Nguyễn Văn Xuân quyền lĩnh ấn quan phòng Tổng đốc An - Tĩnh. Con là Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Văn Hoà ở Hữu sai Nhất đội thuộc trong sổ quân của Tổng đốc đều được chuẩn cho mang theo để sai khiến. Phó vệ uý ở vệ Hậu bảo nhất là Lê Quang Quảng, và Phó vệ uý ở vệ Hậu bảo nhất là Trần Ngọc Cẩn đều đem vệ binh để lệ thuộc vào đó.


    Sai Thống chế Thần sách Hữu dinh là Tôn Thất Bằng quyền lĩnh ấn triện của Hữu quân.


    Nguyên Phó vệ uý vệ Nghiêm võ quân Thần sách hưu trí là Hồ Bôi, đã hơn 70 tuổi, thấy Bắc Kỳ có việc, cố xin đi làm việc quân, được Nguyễn Văn Xuân đề đạt tâu lên. Vua khen là có chí, bèn ưng thuận lại cho Bôi làm Thần sách Phó vệ uý, chuẩn cho mang cả con là Hồ Văn Trường cùng lên Lạng Sơn, theo Tạ Quang Cự đi bắt giặc.


    Phó lãnh binh Hà Nội là Hồ Văn Vân đem quân tiến lên Lạng Sơn cứu viện dẹp giặc, đi đến trạm Lạng Nhân, nghe nói phía trước có nhiều bọn giặc chặn đường, tự cho là đường xa, quân ít, bèn lui về đồn Quang Lang, vừa đến núi Nhiên Lĩnh, bỗng thấy tên nguỵ xưng Quản cơ của giặc là Hà Văn Vằn đem hơn nghìn đồ đảng xông lại đánh : Vân bị giặc bắn tin, chết tại trận. Cẩm y Hiệu uý Nguyễn Văn Lễ và biền binh cùng đi chuyến ấy đều chạy tán loạn. Giặc bèn lan tràn đến các huyện Hữu Lũng, Lục Ngạn, Bảo Lộc thuộc tỉnh Bắc Ninh. Người giữ đồn Quang Lang là Lê Đình Mưu lui về đồn Tiên Lệ, đem việc ấy báo lên. Bố chính Nguyễn Khắc Hài và án sát Trần Thế Nho phái ngay biền binh đi chống giữ, rồi đem việc ấy tâu lên.


    Vua phê bảo : “Không cần phải phân phái nhiều ngả, quân của tỉnh ít và yếu, nên đã phái sẵn lính Kinh đi rồi”. Lại dụ Nội các : “Hồ Văn Vân, dọc đường gặp giặc, khi đánh nhau, quân ít, không địch nổi, lại hay hết lòng tiết nghĩa, bỏ mình, rất đáng thương tiếc, sao nỡ cho là khinh địch tiến liều hỏng việc, mà mai một lòng trung, chết vì việc nước ư ? Vậy, truy tặng chức Lãnh binh, hàm Chánh tam phẩm, thưởng thêm 50 lạng bạc cấp cho gia đình”.


    Cho Phó vệ uý Hổ oai Hữu vệ là Vũ Đình Quang sung làm Phó lãnh binh ở Hà Nội. Cho viên bị cách là Lê Văn Quý được khai phục làm Phó vệ uý ở Hổ oai Hữu vệ. Quý, trước kia làm thự đốc ở Thanh Ba, có lỗi, phải cách, đến nay lại được dùng.


    Tổng đốc đạo Thái Nguyên là Nguyễn Đình Phổ từ đồn Giang Tiên về đóng ở xã Cuông Vinh huyện Động Hỉ. Được tin bọn giặc chia đường xâm lấn, quấy nhiễu, gần đến bức bách tỉnh thành Thái Nguyên, Thổ, Man, sở tại và người Thanh ở các mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ sắt theo nhiều. Phổ mới tâu xin điều thổ tù ở Sơn Tây là Đinh Công Trọng trích lấy năm, sáu trăm dân Man, ai nấy đeo súng điểu sang, đi theo sai phái để giúp cho được việc. (Trọng người xã Vĩnh Đồng, huyện Mỹ Lương. Những dân Man thuộc quyền của Trọng vốn có tiếng là bắn giỏi).


    Vua dụ rằng : “Thổ binh của Đinh Công Trọng, trước đã được Lê Văn Đức mang đi đánh giặc, hiện nay đã đến Vân Trung, tình thế khó điều đi được. Ngươi nên xem xét các thổ ty, ai là người được việc, không cứ ở thuộc hạt hay ở hạt khác, phàm nơi cận tiện có thể trưng điều được thì chuẩn cho thông tư để điều đi thật nhiều, cấp cho tiền và gạo, mang theo đi bắt giặc, để thanh thế được to.


    “Hiện nay, về mặt Lạng Sơn, đã lựa sai Tạ Quang Cự thống lĩnh đại binh, tiến lên để dẹp. Một khi ngựa đến, tin rằng có thể thành công. Ngươi cũng là một viên Tổng đốc quan to, cai quản biền binh cường tráng tinh nhuệ hơn hai nghìn người, không phải là ít. Thế mà từ trước đến giờ, không từng đánh một trận, chém được một tên, làm nên công trạng gì, nếu không thẹn với lòng, há không sợ phép nước ư? Từ nay phải làm thế nào ra quân kỳ để đánh được giặc, dũng cảm tiến lên bắt giết hết sạch bọn giặc ở một dải Thái Nguyên. Không thế, thì cái tội nhút nhát ấy sẽ bị khép theo quân pháp, quyết khó chối được. Và, trong số vài nghìn biền binh mà ngươi đem đi đó có nhiều quân tinh nhuệ miền Nam, miền Trung, chia ra chống giữ các nơi, dù thấy hơi ít, nhưng nếu tụ lại một nơi thì binh lực thực đã to và nhiều. Hiện nay, bọn giặc chia ra quấy rối nhiều ngả, thế lực của chúng càng tỏ ra ít và yếu. Ngươi nên liệu tính để 1 Quản cơ đắc lực và dăm, ba trăm biền binh ở lại giữ tỉnh thành. Vả lại, tỉnh thành ấy vốn đã kiên cố, thì giữ cũng dễ. Ví phỏng chúng có nhân kẽ sơ hở đến vây, cũng không lo gì. Ngươi phải tập hợp sức quân cho dày đặc, đi thật nhanh, trước hẵng dồn sức vào một đường ập lại bao vây mà đánh dẹp thì thế lực ta nhiều, nó ít, ta chủ, nó khách, khác xa hẳn nhau, có thể muôn phần tất thắng. Nếu làm một trận được to, bắt và chém được nhiều, bọn này đã bị thua thiệt thì bọn khác nghe tin tất phải tan vỡ. Nếu chúng chưa trốn, thì ngươi đem số quân đã thắng trận đó, lần lượt tiến đánh tiễu trừ thực hết ; thế thì không những đã khỏi phải đóng quân lâu ở nơi sơn lam chướng khí, mà cái cơ đánh dẹp mới dễ thành công”.


    Cho Suất đội ở Ban trực Tiền vệ được gia ấm, hàm Phó quản cơ là Đoàn Văn Sách làm Phó quản cơ, theo sự sai phái của Tạ Quang Cự ; Suất đội ở Ban trực Hữu vệ là Ngô Văn Giai được dùng làm Phó quản cơ, theo sự sai phái của Nguyễn Đình Phổ ; đều được chuẩn cho có khuyết thì được bổ. Lại vì Phó vệ uý vệ Uy võ quân Thần sách là Trần Nhữ Đoan ở quân thứ Thái Nguyên bị ốm, bèn cho hiệu lực Đội trưởng là Phạm Văn Tường làm Thành thủ uý, lại làm thự Phó vệ uý, đi thay Trần Nhữ Đoan, quản lĩnh vệ binh, theo làm việc trong quân đội.


    Sai Binh bộ phát cho ba mươi cỗ súng thần công ở kho trong Kinh, mang đi đường trạm, cùng với hai mươi cỗ súng quá sơn ở Hà Nội, đều soạn đủ thuốc đạn, giao cho Tạ Quang Cự mang đến quân thứ.


    Các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định, đem tình hình việc quân tâu nói : “Quân ta luôn luôn giữ núi đất, bắn súng đại bác, cửa thành và chòi canh của giặc bị đánh phá cũng có, đài súng trên thành bị hư hỏng cũng có, nhà cửa trong thành bị phá nát cũng có, trong đó bọn giặc bị chết và bị thương nhiều hay ít, không thể biết rõ giặc, nấp ở trong thành bắn ra, quân ta cũng có một vài người bị thương và chết. Vả lại, thế giặc hiện nay đã cùng quẫn rồi, liều chết giữ ở trong thành, xét ra cũng không có ngón tài gì khác. Duy có điều là hình thế thành ấy hiểm trở kiên cố, nên chưa dễ lập công ngay được, chỉ hằng ngày bắn luôn đại bác, để cho giặc phải kinh sợ tan vỡ, rồi mới thừa cơ đánh phá được. Còn quân ta đi tuần tiễu ở ngoài luỹ, thấy tên giặc nào nhân lúc sơ hở lẻn ra, thì chém hoặc bắt sống đem nộp, liền chiếu theo thể lệ mà thưởng cấp cho. Nhưng đó là những việc tuần bắt tầm thường, không dám tâu nhàm lên.


    “Nay quân ta tiến sát đến tận bên quách mà vây thành, đã sức cho các nơi phải theo phần đồn tấn mà canh phòng nghiêm ngặt, bọn giặc quyết không dám ra để trông nhờ một vật gì. Còn như Quang Hoá là đường chạy trốn của bọn giặc, thì đã tuân theo lời dụ, chọn binh dõng tinh nhuệ phái đi đóng đồn ở các nơi như cầu Tây Hoa (tên cũ là Tham Lương) và Quang Uy, cách thành hơi xa, để phòng bị ngăn chặn nghiêm ngặt hơn”.


    Vua dụ rằng : “Nay sáu tỉnh Nam Kỳ đều đã lấy lại được, giặc giữ cô thành đã như cá ở trong nồi, sớm chiều đợi chết. Quân ta vây đánh bốn mặt trổ sức cũng dễ. Hiện nay Tướng quân Tham tán, Tuần phủ và Tán tương đến hơn 10 viên, thì tướng có thừa người ; quan quân và hương dõng đến hai, ba vạn thì quân có thừa sức ; nhiều lần chở đến súng xung tiêu và quả chấn địa lôi thì đồ dùng của quân cũng thừa rồi. Nay sự vụ quân cơ ở Kinh đương khẩn cấp cần người để sai phái cũng nhiều. Vậy Tham tán Lê Đăng Doanh, Hoàng Đăng Thận, Tán tương Trần Chấn, Trương Phước Đĩnh đều cho đi đường trạm, về Kinh trước để cung chức. Biền binh các vệ nguyên phái theo Phan Văn Thuý trước, đã khó nhọc lâu ngày, nên trích trước lấy 2 vệ, cho về hàng ngũ ở Kinh. Còn như các hạng thuỷ quân, phần nhiều hiện nay chỉ là trông coi thuyền bè, đợi sang năm, thuận gió, chạy về mà thôi, không quan hệ đến việc đánh dẹp nữa. Vậy nên liệu tính để lại độ năm trăm người cốt đủ coi giữ thuyền. Còn thì cũng đều cho rút về tất cả. Các Tướng quân, Tham tán lập tức phải chiếu theo số biền binh hiện để lại, chia đặt đồn canh, không chút trễ tràng sơ hở, nhưng vẫn thừa cơ, nghĩ cách chiếm lấy thành trì, cho chóng xong việc.


    “Lại, xét tờ tâu có nói ; bọn giặc bắn ra, quân ta cũng có bị thương và chết một hai người. Kể ra, ở dưới mũi tên hòn đạn, sao cho giữ được không thiệt hại ? Khi có người bị thương hay chết, càng chứng tỏ rằng ba quân vâng theo mệnh lệnh ; sao không kể rõ thực số, trở nói những lời hàm hồ như thế ? Lại có nói : quan quân đi tuần tiễu, có khi chém được bọn giặc, nhưng cho đó là việc thường, không dám tâu nhàm, thử nghĩ xem việc ấy tuy là công trạng tầm thường, nhưng cũng là việc bắt hoặc chém được giặc, chả hơn là cứ theo kỳ tâu lên, nói sơ qua một lượt ư ? Lại như nói : đã sức cho biền binh đi tuần tiễu bốn mặt, bọn giặc quyết không dám lại ra để trông chờ một vật gì. Nhưng gần đây, nghe nói trong bọn giặc còn có bốn năm tên kết thành bọn, dòng dây mà ra, đội lá chuối và cỏ vào thành ; thế mà quan quân không từng bắt chém được một đứa. Nếu tin đó quả là đúng thì lời tâu về việc này hình như chưa thực. Nay phải làm thế nào, để ý canh giữ chặt hơn, khi có bọn giặc lẻn ra, thì phải chặn giết ngay. Chúng mất vây cánh, ngày càng quẫn ngặt, thế tất chóng chết”.


    Lời dụ đến quân thứ, Tham tán Lê Đăng Doanh vì ốm, chưa thể lên đường được, dâng sớ xin triển hạn.


    Vua dụ cho Đăng Doanh được lưu lại ở quê nhà để chữa bệnh khi khỏi bệnh rồi, lại giữ chức Tham tán, hợp với các Tướng quân và Tham tán khác cùng bàn tính làm việc, đợi đến sang năm sẽ lại ban chỉ tuyên triệu.


    Thự Tuần phủ Hưng Yên là Trịnh Quang Khanh tâu nói : “Việc công trong tỉnh hạt, phải phân phái đi nhiều ngả, vậy xin cho để biền binh 3 cơ Hữu tiệp, Hậu tiệp, Hữu kính thuộc tỉnh Hưng Yên được cứ lưu lại tại ngũ, đợi sau này việc ít lại chiếu lệ chia ra từng ban”. Vua bằng lòng cho.


    Cho Cai đội thuỷ quân là Lê Văn Luận làm Phó vệ uý ở vệ Tiền thuỷ ; Nguyễn Văn Cần làm Phó vệ uý thuỷ quân ngạch ngoại.


    Bãi việc trồng đay ở các địa phương từ Hà Tĩnh trở ra Bắc.


    Trước kia vua cho vỏ đay cần dùng nhiều, nên dụ cho các quan địa phương trong Kinh và ngoài các tỉnh chọn đất ưa đay để trồng. Từ Hà Tĩnh trở ra Bắc gần đây chưa thấy thành hiệu, có khi làm khổ cho dân. Vua biết cái tệ đó, liền ra lệnh bãi bỏ việc ấy.


    Bố chính Hải Dương là Trần Văn Tuân tâu nói : “Dân xiêu giạt đến kiếm ăn ở tỉnh này, mấy lần nhờ được chẩn cấp, đều đã có vẻ khá trở về quê hương rồi, duy còn lại đến vài trăm người già, trẻ con và ốm yếu. Vậy, xin theo như dụ trước, ưu hậu chẩn cấp cho một lần nữa thôi”.


    Vua nghe theo lời xin ấy, nhân hỏi thị thần là Phan Huy Thực, Trần Danh Bưu: “Các ngươi nghe tình trạng dân Bắc Kỳ gần đây thế nào ?” Thị thần tâu : “Gần đây, người ở Bắc Kỳ đến, đều nói năm tỉnh Nam Định, Hải Dương, Hà Nội, Sơn Tây, Bắc Ninh, lúa mùa đã chín, dân đã có lương ăn ; duy chỉ có tỉnh Hưng Yên bị hại vì nước lụt, dân còn kém đói”. Vua nói : “Tỉnh Hưng Yên mất mùa đói kém, may còn có kho chứa của 5 tỉnh lớn ấy có thể tùy phương cứu chữa được ; nếu các hạt đều thế cả thì kho tàng nhà nước, đâu có thể giúp tất cả được ?”


    Bãi thể lệ các trạm chạy đệ công văn theo kỳ hạn hàng tháng đã định.


    Năm trước, chuẩn định : cứ nửa trước tháng, miền Bắc thì Hà Nội, miền Nam thì Gia Định đều phát cho chạy giấy về Kinh một lần ; nửa sau tháng, ở Bộ phát đi một lần, để người và ngựa được quen ; đến bấy giờ tin quân báo tới tấp, ngựa chạy trạm đã quen, nên mới bãi bỏ lệ trên.


    Lại cho Nguyễn Hữu Tố quyền Đốc học tỉnh Quảng Nam. Tố, trước ở Quảng Nam, vì có mẹ già, được nhờ ơn cho ở nhà nuôi mẹ để trọn đạo hiếu ; đến bây giờ, vào Kinh hậu bổ, gặp khi Đốc học Lê Đình Dư ốm chết, nên lại được về nơi làm việc trước.


    Bỏ chức Quản đạo ở 3 đạo Phan Rang, Phô Hài, Ma Ly và chức thủ ngự ở cửa biển Phù My thuộc tỉnh Bình Thuận. Địa hạt 3 đạo đã có các quan phủ huyện chia trị ; cửa biển Phù My nông hẹp, từ trước không có thuyền bè ra vào. Thự Tuần phủ là Hoàng Quốc Điều đem tình hình ấy tâu lên, nên vua sai bỏ bớt mấy chức đó.


    Cho Tạ Quang Linh làm Phó vệ uý ở Hổ oai Tả vệ ; thự Phó vệ uý ở Long võ Hậu vệ là Nguyễn Văn Gia làm Phó vệ uý ở Hổ oai Hậu vệ, đều đem vệ binh và 5 đội Tả sai nhất, Tả sai nhị, Tả sai tam, Tả sai tứ, Tả sai ngũ, một đội Hậu sai tứ, đi theo Nguyễn Đình Phổ để bắt giặc. Lại phái người thông thạo về súng đại bác là bọn Tôn Thất Bảo 10 người phụ thuộc vào để sai khiến.


    Cho Cai đội Trương Đình Bành làm Phó vệ uý vệ Võng thành mang vệ binh đi đóng giữ ở Thanh Ba. Sai truyền dụ cho Tuần phủ Nguyễn Khả Bằng không phải chờ đợi quân Võng thành đến tỉnh, nên thúc đẩy trước Quản vệ vệ Vũ lâm Trung nhất là Nguyễn Văn Mỹ đem biền binh cả vệ ấy đi gấp đến đóng giữ Hà Nội. Khi Mỹ đã đến Hà Nội, thì Tổng đốc Đoàn Văn Trường cũng thúc đẩy thú binh ở Ban trực Trung vệ đi gấp đến Bắc Ninh, để theo Tạ Quang Cự đi bắt giặc.


    Tuần phủ Lạng - Bình Lê Đạo Quảng đem biền binh và thủ hạ từ Quảng Yên theo đường thủy, tiến đến châu Tiên Yên. Tâu xin tuỳ tiện chiêu tập hào mục dân tráng ở đấy nhằm đường tiến đến Lạng Sơn để dẹp giặc. Vua dụ rằng : “Bọn giặc quấy rối, hãy còn lan tràn, ta đã lựa chọn phái Tổng thống Tạ Quang Cự thống lĩnh đại binh tiến đánh ; ngươi đi đường tắt, nếu có thể tùy tiện triệu tập thổ hào dân dõng đến hơn nghìn người, mới nên chia đường tiến đánh ; không được thế, chớ nên khinh thường tiến đến, phải tuân lời đụ trước, theo đường cái lớn từ Hải Dương chuyển qua Bắc Ninh, hợp lại cùng đi đánh dẹp”.


    Lại dụ Tổng thống Tạ Quang Cự : “Hai tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng lâu không tâu báo gì, ta ngày càng nóng ruột lắm ! Hôm nọ, đã dụ sai Hà Nội, Nam Định, Hải Dương trưng điệu hơn ba nghìn quan quân đến đóng ở Bắc Ninh, chắc đã tập hợp đủ cả. Hôm nào tờ dụ đến nơi, ngươi không phải chờ đợi biền binh ở Nghệ An, Hà Tĩnh, nên lập tức đem Quản vệ Kinh binh là bọn Nguyễn Tiến Lâm cùng theo đường trạm, đi trước, khi qua Hà Nội, lại mang theo cả thú binh Vũ lâm tiến ngay đến Bắc Ninh, mưu tính việc cứu viện đánh dẹp, để kịp sự cơ”.


    Hai tỉnh Thanh - Nghệ, lúc trước vì ít mưa, ruộng lúa hỏng nhiều, bây giờ thuế vụ đông đến nơi, quan tỉnh đều tâu xin cứu giúp cho. Vua dụ chuẩn cho số thuế phải nộp mùa đông năm nay và mùa hạ năm nay, cùng với thóc tô, thóc vay còn từ năm trước, đều được hoãn đến mùa hạ sang năm mới nộp.


    Ban áo rét cho các người ở Đô sát viện và khoa đạo. Lệ cũ, ban cho áo rét, phải là các quan văn từ Tứ phẩm trở lên mới được ; nay vua ưu đãi các Ngôn quan((1) Ngôn quan : quan chức có nhiệm vụ can ngăn vua và đàn hặc các quan.


    1), nên đặc cách ban cho.


    Cho Binh bộ Chủ sự là Hồ Công Chỉ làm Binh bộ Viên ngoại lang, vẫn làm công việc ở thành Nam Vang như cũ. Khi mới thu phục lại được Hà Tiên, Lê Đại Cương phái Chỉ tạm làm việc ở tỉnh ấy ; đến bấy giờ, Bố, án ở Hà Tiên cất đặt các chức sung vào làm việc, vua cho Chỉ là người xứng đáng làm được, nên mới có mệnh lệnh này.













    chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cIX



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa đông, tháng 10.


    Cho Quản phủ Kiến Xương là Nguyễn Văn Vân làm Phó vệ uý, trật Tòng tam phẩm, sung chức Phó lãnh binh Nam Định.


    Vua nghĩ rằng thổ phỉ Bắc Kỳ chưa dẹp yên, muốn biết tất cả tình trạng của nhân dân, sai bộ Binh mật dụ cho các Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, án sát các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Ba, Hà Nội, Ninh Bình, Sơn Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên phải gia tâm hỏi kỹ xem nhân dân trong hạt của mình có được yên ổn hay không ? Giặc cướp đã im hơi chưa ? Đều cứ sự thực mật tâu lên vua biết.


    Ban cấp áo trận cho Quản vệ, Suất đội ở 5 vệ Ban trực và ở 10 vệ các bảo ; cứ 5 năm một lần đổi.


    Truy tặng Bố chính thự lý Tuần phủ Hà Tiên là Phạm Xuân Bích làm Tuần phủ, hàm Tòng nhị phẩm ; án sát là Trần Văn Quản làm Bố chính, hàm Chánh tam phẩm. Trước kia, giặc Khôi gây biến loạn, bọn Bích họp quân và dân, đắp luỹ đất, để làm kế chống giữ. Đến khi tỉnh An Giang thất thủ, bọn giặc chưa đến thì hai đội Hồi lương và Biên lương thuộc tỉnh ấy họp nhau làm loạn. Đương đêm, vây dinh Tuần phủ. Bích nghe có biến, tuốt gươm đi ra, chỉ có người đầy tớ là Nguyễn Văn Vi cầm binh khí đi theo. Bích đánh nhau với giặc, bị thương, bị chúng bắt được. Giặc dụ Bích hàng. Bích quát mắng rằng : “Giết thì giết, khi nào lại hàng chúng mày là lũ tù”. Giặc bèn giết Bích. Rồi chúng lại đến dinh án sát. Quản cầm dao ngồi trong màn. Giặc xông vào, Quản đâm luôn được mấy tên. Người đầy tớ là Trần Văn Vạn cũng cầm dao cự chiến, đều bị chúng giết cả. Nguyễn Văn Vi nài xin với giặc cho đem thi thể bọn Bích để khâm liệm chôn cất. Giặc khen là có nghĩa, bằng lòng cho. Đến bấy giờ, Hộ phủ Trịnh Đường dò hỏi được tình trạng, đem việc ấy tâu lên.


    Vua dụ rằng : “Bọn Bích, ngày thường sơ hở về việc phòng bị, để đến nỗi biến sinh ngay ở kẽ nách, đành rằng có lỗi, nhưng sự việc xảy ra lúc bối rối đều biết căm giận về việc nghĩa, mắng giặc, đâm giặc, bỏ mình chết vì nạn nước : thật rất đáng thương. Vậy nên đặc cách cho truy tặng chức ấy, được chiếu hàm mới truy tặng để cấp tiền tuất. Lại thưởng thêm cho Phạm Xuân Bích 100 lạng bạc, Trần Văn Quản 80 lạng bạc, đưa cho gia đình, Trần Văn Vạn và Nguyễn Văn Vi đều được thưởng 10 lạng bạc, để khuyến khích những người đày tớ có nghĩa”.


    Vua nghĩ rằng Nam Kỳ có việc, các trạm chạy giấy khó nhọc, thưởng cấp cho tiền và gạo có thứ bậc. (Trạm Thuận Phú, Bình Thuận, trở vào Nam đến trạm Biên Long thuộc Biên Hoà, công việc rất nhiều, mỗi trạm đều được 80 quan tiền, 30 phương gạo ; thứ đến, từ trạm Thuận Võng đến trạm Thuận Lai, mỗi trạm đều được 60 quan tiền, 20 phương gạo. Ngoài ra, các trạm từ Kinh trở vào Nam đến các trạm ở Khánh Hoà, mỗi trạm đều được 50 quan tiền, 20 phương gạo).


    Xuống chiếu ban ơn cho sáu tỉnh Nam Kỳ.


    Lời chiếu rằng : “Nguyên thành Gia Định, từ các liệt thánh ; gây dựng mở mang đến nay, phong tục thì chuộng nghĩa khí, học trò thì nhiều hiền tài. Trước đây, vì giặc Tây Sơn gây biến, ngọn lửa tàn ngược hun đến tận trời, Hoàng khảo ta, Thế tổ Cao hoàng đế, đem quân đi tuần miền Nam, nhờ đó mà có lương quân, thu dùng được người tài giỏi, Gia Định bèn trở thành nơi dấy nghiệp. Rồi [Cao hoàng ta] gây dựng lại được dư đồ, gồm có cả nước Đại Việt. Việc đó dù do trời giúp nhưng phần nhiều cũng nhờ có công sức của Gia Định.


    “Từ khi ta lên nối ngôi đến nay, cùng với nhân dân nghỉ ngơi, hưởng sự an nhàn, kể cũng đã lâu. Chỉ vì những người làm tướng chuyên giữ trách nhiệm ở ngoài như Hoàng Công Lý, Lê Văn Duyệt, không biết tuyên dương đức hóa, chỉnh đốn quan, dân, để công việc ngày một bê trễ, nhiều người kiêu ngạo lười biếng, đánh bạc chơi bời liên miên, mắc phải nọc độc thuốc phiện, thường thường khám phá ra những vụ gian phi phạm pháp, phong tục ngày càng hư hỏng, đã làm cho tạo vật phải ghét !


    “Lê Văn Duyệt thì lại chứa nuôi ban hát, dung túng bộ hạ tức như Lê Văn Khôi trước kia mạo xưng họ vua, quen tính hung tợn, thế mà được Văn Duyệt che chở gây dựng, để lại họa hoạn về sau.
  • Chia sẻ trang này