0060.0083

13/1/16
0060.0083
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    “Lại như đối với đội Hồi lương và Bắc thuận, là những tù phạm bị phát phối, thì xin biên thành đội ngũ, để ở kẽ nách ; đối với thủ phạm ở Thanh Hoa, Nghệ An vốn là đồ vô lại ở thôn quê, thì cũng kéo đến dưới cờ, nương tựa làm ruột thịt. Còn các lái buôn nhà Thanh đến kiều ngụ, cũng không biết khéo xử, để cho chung chạ lẫn lộn, tiêm nhiễm thói điêu bạc. Các việc dường ấy, đều là nuôi nên mầm họa, chẳng sớm thì chày.


    “Gần đây, vì nguyên Tổng đốc là Nguyễn Văn Quế, già nua đần độn, vô tài, hình giống tượng gỗ. Những quân càn rỡ, mới nhòm ngó được tình hình nông sâu. Thêm vào đó nguyên Phiên ty((1) Phiên ty : ty Bố chính.1) Bạch Xuân Nguyên, trách người thì sáng, trách mình thì quáng : chỉ biết đàn hặc, nêu ra những việc xấu xa của Lê Văn Duyệt và của quan võ dưới quyền, còn tự mình thì khua múa văn tự để làm thoả lòng tham lam khắc bạc, ăn tiền bừa bãi, rất bị người ta không đếm xỉa đến, để đến nỗi nghịch tặc Lê Văn Khôi, nguyên là thủ hạ của Lê Văn Duyệt, cứng cổ, ngang ngược đã quen, khi bị can án, dám rủ nhau họp đảng ở thành Phiên An cũ để phản lại, gây nên cuộc biến loạn đêm 18 tháng 5, lan tràn đến cả sáu tỉnh, thân sĩ và thứ dân bị tai nạn nhiều, nói ra thật đáng căm giận. Đó thực bởi Lê Văn Duyệt gây ra mầm loạn ấy và những người kế tiếp lại là bọn hèn kém, tham ô, để cho phong tục trong hạt ấy rất không được như trước, nên mới không thể không có một phen biến cố này. Tóm lại, là do bổ dùng không được người tốt, lại không sáng suốt thấy từ ban đầu và không ngăn ngừa trước khi việc xảy ra, lỗi ấy ta cũng khó từ chối được.


    “Bởi thế, ta phải tu tỉnh lắm, sửa mình nhiều cách, lần lượt phái đại binh đi, chia đường tiến đánh, mong để cứu dân khỏi nạn nước sôi lửa nóng. May nhờ trời, nhờ tổ giúp cho và nhờ Hoàng khảo ta ở trên trời khôn thiêng phù hộ, tiếng vang đến đâu, lòng người hưởng ứng đến đấy, quan và dân sở tại không ai là không lòng đầy nghĩa phẫn theo đường chính, ghét thù chúng.


    “Nay sáu tỉnh lần lượt thu về, dần dần đã bình định, nhân dân được ở yên như cũ. Duy giặc Khôi hãy còn liều chết, cố giữ cô thành, quan quân vây đánh bốn mặt, thì từ đứa đầu sỏ đến kẻ đi theo, chẳng sớm thì chày, cũng sẽ chụm đầu chịu giết. Vậy nên ban ơn rộng rãi, ai cũng được thấm nhuần mưa móc, để yên ủi lòng dân ta, tỏ ra chính sách đổi mới.


    “Các ngươi là thân sĩ và thứ dân ở sáu tỉnh, cùng khuyên bảo nhau, nên suy nghĩ thấm thía về nghĩa giữ bổn phận, quý Phước đức, bỏ xa xỉ, chuộng cần kiệm, sửa đổi thói điêu bạc, đem lại tục thuần hậu. Tưởng trong hạt các ngươi, đất vốn phì nhiêu, người nhiều trung hậu, nếu sớm biết tu tỉnh thì có khó gì không đến ngay được cảnh giàu thịnh, đem lại được thói thuần lương. Thế thì cuộc biến phen này hầu như trời vì nhân dân trong hạt các ngươi, mở cho cái dịp ăn năn tai hoạ, khiến cho cùng hưởng Phước thăng bình. Nay ban cho 8 điều ân điển sau đây :


    “1 - Tha cho số bạc, tiền, thóc, gạo về thuế đất, thuế đinh, cùng các thuế thổ sản, biệt nạp và thuyền buôn phải nộp năm nay.


    “2 - Tha cho số bạc, tiền, thóc, gạo về thuế đất, thuế đinh và các thuế thổ sản, biệt nạp đang thiếu từ năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] trở về trước.


    “3 - Về thi hạch học trò ở các hạt, bốn khoá trong 2 năm Minh Mệnh thứ 15 [1834] và 16 [1835] học quan được tùy theo văn lý điểm duyệt, phê lấy, không câu nệ là thể văn nào. Đến 4 khoá về 2 năm Minh Mệnh thứ 17 [1836] và 18 [1837] phải theo văn thức mới định để khảo hạch và tinh suốt cả 4 khoá trước, có trúng mới được kế tiếp. Từ năm Minh Mệnh thứ 19 [1838] trở đi, mỗi 8 khóa trong 4 năm, phải theo định lệ năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] để làm việc.


    “4 - Từ ngày 18 tháng 5, năm nay [Minh Mệnh thứ 14] trở về trước, những người can án về tội tạp phạm, từ tội quân lưu trở xuống, không kể đã kết án hay chưa kết án, đều cho tha cả.


    “5 - Từ mồng một tháng 9 năm nay trở đi, hết thảy các tạp tụng như điền, thổ, hộ, hôn, nợ tiền, lăng mạ và đánh nhau bị thương nhẹ, đều được hoãn khám, đến tháng giêng sang năm sau khi khai ấn mới theo lệ làm việc.


    “6 - Từ trước những quân, dân và chức dịch bị can án phải bồi thường nguyên tang chưa xong, nay gia ân rộng cho được miễn.


    “7 - Các hạt có ai có tài đức, giỏi võ nghệ, do Thượng ty làm danh sách tâu lên, đợi chỉ xét dùng.


    “8 - Con cháu các công thần, có ai tình nguyện ra giúp việc, sở tại cấp dẫn về Kinh để tuỳ tài xét dùng”.


    Nhà vua sai truyền dụ cho các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định rằng : “Hiện nay vây thành là việc cần, chỉ mong ngày giết được nhiều giặc, mà giết giặc thì không gì bằng dùng súng bắn từ đằng xa lại, nhưng hiềm vì giặc ẩn ở trong thành, quân ta không làm thế nào trông thấy được, cho nên súng thường bắn hão, khó trúng. Nay đã ban cho kính thiên lý hạng lớn. Kính này có thể nhòm được trên tầng mây, huống chi chỉ gần trong vài dặm ? Lại nữa, mới cho chuyển đến súng xung tiêu và đạn chấn địa lôi loại to, mỗi phát có thể giết được vài chục tên giặc. Các chòi vọng địch trước đã dựng ở 4 mặt, nay nên đắp cao thêm độ năm sáu trượng, cốt để cúi nhòm được mặt đất ở trong thành, rồi bắc ống kính thiên lý hạng to nhòm vào trong thành xem xét tường tận những chỗ tụ họp, ẩn núp và kho thuốc súng, kho muối gạo của giặc, chỉ bảo cho người bắn súng theo đó mà bắn ; một khi vây cánh của giặc đã chết, kho lương thực lại bị phá sạch, giặc muốn đánh không nơi nương tựa, muốn giữ không có lương thực, quan quân ta mới dễ thành công ; Dụ này đến nơi, phải thi hành ngay, không được trái khác”.


    Truy khai phục lại nguyên hàm cho Phó quản cơ cơ Biên hùng, tỉnh Biên Hoà là Ngô Văn Hóa. Trước kia giặc lại đánh phá tỉnh lỵ Biên Hòa, Hóa đánh nhau với giặc, bị giết tại trận. Thự Tuần phủ Vũ Quỳnh vốn không biết rõ, tâu báo rằng trận đánh ấy quan quân vỡ thua, còn Hóa không biết đi đâu mất ; do đó, vua đã có chỉ giáng Hóa xuống 2 cấp. Đến bây giờ dò hỏi mới biết được sự thực, lại đem việc ấy vào tâu ; nhà vua thương xót, sai cho truy phục nguyên hàm, chiếu theo phẩm, ban cấp tiền tuất, thưởng thêm cho 20 lạng bạc.


    Lại có Vị nhập lưu thư lại ở Phiên ty là Bùi Văn Hưng, trong khi bối rối một mình ở lại dinh thự, thu thập văn thư, ấn triện, bị giặc giết chết ; cũng được truy thưởng chức hàm Chánh cửu phẩm thư lại, cấp thêm cho 5 lạng bạc.


    Thảo nghịch Tả tướng quân Tống Phước Lương và Tham tán Nguyễn Xuân, tư báo về bộ Binh rằng : “Lần trước, bắt được hơn 800 người nhà Thanh đã giao cho án sát Gia Định là Hoàng Văn Minh tra xét”. Quan ở bộ tâu lên, vua dụ rằng : “Người Thanh hung tợn, chống cự quan quân ta, không theo ngay lời trong tờ dụ mà xử trí, lại đem giao cho Hoàng Văn Minh xét một mình, rất là không đúng ; huống chi bọn giặc đến hơn 800 người, không phải có mấy chục người canh giữ, khó lòng mong được chu tất ổn thỏa mà để chậm đến hơn một tháng không giải quyết, chẳng cũng tốn mất rất nhiều công phu ? Vậy, truyền dụ cho Tống Phước Lương, Nguyễn Xuân hiệp đồng với Hà Duy Phiên đem xét xử ngay số người Thanh hiện bắt được ấy, đứa đầu sỏ dữ tợn, cho đem chém trước, còn những đứa cầm khí giới chống cự lại quan quân, theo như đụ trước, đều chặt 4 ngón bên tay phải, đuổi ra an trị ở nơi biên viễn. Gián hoặc có những trẻ nhỏ, những người già ốm và những người bị hiếp tòng, thì liệu chia ra cho về các xã thôn thuộc Gia Định để quản thúc. Nếu có đứa nào còn dám mưu toan làm việc trái phép, thì cho phép dân sở tại giết chết không cần xét hỏi ; nếu có đứa nào biết yên phận giữ phép, thì cho lưu lại để làm nô lệ”.


    Cho Vệ uý vệ Cẩm y, tạm sung Lãnh binh Hà Nội là Vũ Văn Từ làm Chưởng cơ, sung Tham tán quân vụ, hiệp cùng Tổng thống Tạ Quang Cự đi đánh dẹp bọn giặc ở Lạng Sơn ; cho đi trước đến Bắc Ninh để điều khiển sự vụ quân cơ, phái hơn 20 biền binh Cẩm y, lệ thuộc sai khiến.


    Rồi vua sai thị vệ mang đến ban cho Tạ Quang Cự một áo mổ bụng bằng thượng cẩm đoạn, màu hoa hồng, thêu rồng ở bát bảo toàn bằng kim tuyến ; và cho Vũ Văn Từ một áo mổ bụng bằng cẩm đoạn, màu lam, thêu hoa sen liền cành.


    Các Tướng quân và Tham tán ở quân thứ Gia Định tâu nói : “Gần đây tiếp được bộ Binh tư về việc đưa thư cho Giáo trưởng đạo Gia Tô là bọn Tây Hoài Anh, Phan Văn Kinh sức bắt Lê Văn Hán (là cháu Lê Văn Duyệt) nhận đưa vào thành để dụ những người đã theo đạo Gia Tô, đã uỷ cho Phan Thế Chung, người trong Tả sai Nhất đội trước cùng với Hán gọi giặc giòng dây lên thành mà vào, [nói lại rằng] giặc Khôi thề giữ đến chết, giáo trưởng đạo Gia Tô tên là Du, tức Phú Hoài Nhân, cũng cố biện thuyết và bẻ lý, cuối cùng vẫn không chịu hàng. Bọn Hán lại ra về. Vả lại, giặc Khôi và các người theo đạo Gia Tô đương lúc cùng quẫn buồn bã, ta mở cho con đường sống, tưởng cũng có chỗ chuyển động, thế mà vẫn một mực mờ tịt, cố ý chống lại, thực rất đáng giận. Hiện nay [bọn thần] đương hội đồng, hết lòng tính toán, đặt kế đánh thành ; cốt sao bắt được bọn nghịch tặc để đem hết cách trị tội. Lại, trong bọn biền binh và hương dõng, gián hoặc có người vì đạn bay bị thương mà chết, [bọn thần] chưa dám chiếu lệ cấp thưởng”.


    Vua dụ nói : “Bọn binh dõng ấy tuy không sánh được với người đánh trận mà bị chết, nhưng đều là dự vào hàng trận, vậy gia ân cho họ đều được chiếu lệ chết trận mà thưởng cấp, từ nay cứ theo thế mà thi hành”.


    Tướng quân và Tham tán lại tâu : “ở trong quân hai lần phái thám tử người đạo Gia Tô là Hồ Văn Chiến vào thành để dụ giặc”.


    Vua bí mật dụ bảo rằng : “Bè lũ giặc Khôi, hiện nay, thế cùng, sức ngặt, cố chết giữ cô thành, chính là lúc nó đang nơm nớp sợ hãi. Hồ Văn Chiến nguyên là người ngoài, nếu không có tình ý thông nhau, sao hay đi lại dễ dàng như thế được ? Huống chi xét lời nói của hắn rất tỉ mỉ, hệt như giặc đã mớm lời, khiến cho lời không phải là do chân tình nói ra. Vậy chưa nên khinh thường tin vội. Vả lại, từ trước đến giờ, trong quân thứ động làm việc gì, hình như giặc đã biết trước, tưởng không khỏi không có người ngoài ngầm thông tin tức cho chúng. Lại nghe đồn các hàng quà bánh, cá thịt ở chợ, thỉnh thoảng có những phụ nữ theo đạo Gia Tô ngầm bỏ thuốc độc vào trong, quân ta có khi nhỡ ăn phải. Nếu đúng như tin đồn, thì sự lo về đạo Gia Tô, không phải chỉ ở trong thành Gia Định, lại sợ bên ngoài, có khi bè lũ nó cũng không ít. Cần nên để ý đề phòng hơn nữa không để cho bọn kia gây sự ở trong, mà lỡ việc quân cơ không phải là nhỏ.


    “Còn như ở trong quân, đối với người nào đã theo đạo Gia tô, cũng nên mật sai dò xét, phòng giữ trước khi xảy ra, khỏi để lo về sự bất ngờ. Vả lại, việc này có quan hệ đến quân sự, cần phải cẩn thận kín đáo mười phần. Các ngươi nên tùy tiện liệu tính, đã không nên coi thường chút nào, cũng không nên để lộ ra nét mặt hoặc lời nói, thì mới mong mọi việc có phòng bị sẵn, không lo ngại”.


    Cho thự Viên ngoại lang bộ Hộ là Hồ Công Hi được lưu lại quân thứ Gia Định, theo các Tướng quân và Tham tán, làm việc giấy tờ. (Hi trước kia được phái đi quân thứ Biên Hòa, làm việc chi phát tiền lương trong quân).


    Xuống chiếu ban ơn cho 16 tỉnh Bắc Kỳ. Lời chiếu rằng :


    “Các hạt ở Bắc Kỳ là nơi mở mang cư tụ hàng nghìn trăm năm nay, nhân dân vui hưởng yên ổn, phong tục vốn gọi thuần hậu. Từ khi kỷ cương nhà Lê đổ nát, giặc Tây Sơn chiếm ngôi, nhân dân chịu sự tàn ngược, phong tục càng không được như trước. Nhờ Hoàng khảo ta, Thế tổ Cao hoàng đế, đem đức thánh vũ, mở nghiệp trung hưng, gồm có nước Đại Việt, sau khi một chiếc áo trận, định xong thiên hạ, yên ủi những nơi bị điêu tàn, vỗ về những người đau ốm, hết lòng nhân từ, đem dân bị lầm than đặt lên chăn chiếu. Những thói điêu bạc dần dần được thuần hậu lại. Thực là công lớn về dẹp loạn và trị bình.


    “Ta noi theo phép lớn, kính nối nếp trước. Từ khi lên ngôi đến giờ, trong lòng thường nghĩ coi dân như con, tức như những việc ; phát chẩn cho người nghèo, nuôi người già, công bình trong việc ngục tụng, hoà hoãn trong việc hình phạt, tha tô thuế, phát thóc gạo cho dân vay, ban ơn dồi dào cho những người kêu la rên rỉ. Những việc làm đó, ai cũng thấy và nghe biết cả, có phải nói không đâu ?


    “Thế mà, từ xuân đến thu, những tai biến thường xảy : từ Hà Tĩnh ra Bắc đến Lạng Sơn, tất cả 16 tỉnh, nơi thì bị đại hạn, nơi thì vỡ đê ; các tỉnh Ninh Bình, Hưng Hóa, Tuyên Quang lại gặp thổ phỉ quấy rối, dân không được ở yên ! Việc đó tuy tại các quan trấn giữ địa phương không biết tuyên dương đức hoá, làm trái đường lối trị yên, mà thực cũng tại ta chính sự lầm lỗi, đức độ mỏng manh, chưa thể cảm động đến trời để đem lại thời tiết thuận hòa được. Ta đã xét mình, tự tu tỉnh lại, càng lấy làm sợ hãi, hiện đã giảm mức ăn, bỏ âm nhạc, buông thả chim muông, ruồng bỏ đồ quý báu, đình chỉ tất cả các việc không cần. Và hết sức suy nghĩ, tìm nhiều cách cứu chữa. Lương ăn của dân có hơi khó khăn, thì phát ngay tiền gạo trong kho để phát chẩn hoặc cho dân vay ; trộm giặc lén lút nổi dậy, thì sai quan quân dẹp hết đi. Phàm việc gì có thể giúp cho dân đầy đủ lương ăn, yên chỗ ở thì không việc gì là không làm đến nơi đến chốn.


    “Nay nhờ trời giúp và Hoàng khảo ở trời khôn thiêng, mưa nắng hoà thuận, hằng năm được mùa ; giặc giã trong Nam ngoài Bắc dần dần sẽ bị tru diệt. Giặc Khôi tuy kéo dài hơi thở cuối cùng, đã thành con cá trong nồi ; giặc Vân thì sớm muộn cũng bị bắt nộp, khó thoát, cái cảnh như con thú ở rừng bị đuổi đến cùng ! Duy nghĩ dân ta không may gặp lúc sau khi có việc, tình hình chắc là bách thiết, nuôi nấng, vỗ yên, chính là việc cần. Phải nên gia ơn cho khắp, để yên lòng dân.


    “Các ngươi, tất cả nhân dân 16 tỉnh, đều nên cảm phát lương tâm, kính giữ bổn phận ; noi theo đường thẳng, cùng chịu đức mà ăn uống thuận hoà ; cùng nhau nhân nhường, biết theo điều phải mà tránh tội lỗi ; sẽ được nhờ sự thương giúp, càng ngày càng được phồn thịnh yên vui, để cùng hưởng Phước thăng bình, thế chẳng tốt lắm ư ?” Nay ban 7 điều ân điển sau đây :


    (1 - Tiền thuế đất, thuế đinh đáng thu năm nay, bớt cho 5 phần 10.


    2 - Tiền thuế đất, thuế đinh còn thiếu đọng từ năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] trở về trước, đều được tha cả ; còn thuế phải đong bằng thóc gạo được giảm cho một nửa [5 phần 10] ; một nửa còn lại ấy sẽ cho nộp vào năm sau.


    3 - Thuế thổ sản để thiếu từ năm Minh Mệnh thứ 13 trở về trước, giảm cho một nửa [5 phần 10] ; một nửa còn lại ấy sẽ cho nộp vào năm sau.


    4 - Năm Minh Mệnh thứ 15 [1834] thuế cửa ải, thuế bến đò đều được miễn cả.


    5 - Từ cuối tháng 9 năm nay [1833] trở về trước, phàm những tội phạm can án còn trốn, đều cho ra thú, sẽ được liệu lượng khoan giảm ; đến cuối tháng 3 sang năm là hết hạn.


    6 - Từ tháng 10 năm nay [1833] trở đi, các việc tạp tụng đều được hoãn khám đến sau kỳ khai ấn sang năm, mới theo lệ làm việc.


    7 - Các hạt nếu có người ẩn dật ở núi rừng và kẻ sĩ tài giỏi, thì cho phép cấp dẫn về Kinh, qua bộ sát hạch, tâu lên, sẽ tuỳ tài bổ dùng).


    Vua sai bộ Binh triệu tập những biền binh ở Hổ oai Tả vệ mãn ban về nghỉ, đúng ngày 20 tháng này, đến Kinh, có mặt tại ngũ để phòng sai phái.


    ở kinh đô, gạo kém. Vua dụ : cho các hạng, thợ ((1) Nguyên văn là “các sắc công tượng” ¦U ¦â ¤u ¦K .1) ở Kinh, phàm những người được thực thụ là thợ cả ((2) Nguyên văn là “tượng mục” ¦K ¥Ø.2), chưa được dự vào lệ lương tháng, thì được hưởng thóc mỗi người 2 hộc ; các thợ bạn ((3) Nguyên văn là “tượng dịch” ¦K §Đ .3) mỗi người 1 hộc ; các cục tượng các tỉnh vào Kinh làm thợ cũng được như thế.


    Cho : Vệ uý vệ Tiền nhất quân Vũ lâm là Lê Thuận Tĩnh được quyền thự Đề đốc ở Kinh thành, kiêm quản công việc ở phủ Thừa Thiên ; thự Phó vệ uý ở Long võ Trung vệ là Nguyễn Trọng Tính quyền lĩnh các đội Túc trực, vệ Cẩm y, kiêm quản Trấn phủ ty, lĩnh chức Thị vệ.


    Tỉnh Bắc Ninh có bọn cướp đến hơn nghìn tên, lén lút ở huyện hạt Đông Ngạn, đốt cháy nhà dân, cướp bóc của cải đồ vật. Phó quản cơ cơ Tiền thắng thuộc Hậu quân là Nguyễn Văn Anh đem 300 quân, 2 thớt voi, do tỉnh phái đi tuần tiễu trong địa hạt ; chợt được tin báo, lập tức sấn lại để đánh bắt. Bọn phỉ phải rút lui, chạy. Văn Anh thúc quân đuổi, giết chết và làm bị thương rất nhiều. Phỉ phải bỏ tang vật, khiêng thây nhau mà chạy. Ngày đã về chiều, bắt sống được 5 tên phỉ và lấy được khí giới.


    Việc ấy tâu lên, vua dụ Nội các : “Đương lúc tỉnh bên có việc, hạt này lại có bọn cường đạo kết thành đảng to, cướp bóc dân gian, mầm ác thực không thể lớn lên được. Vả lại, gần đây quân đi bắt giặc phần nhiều không được việc, mà Nguyễn Văn Anh lấy ít chống được nhiều khiến cho chúng phải tan vỡ, không đến lan rộng thêm. Việc bắt giặc này thực là xuất sắc. Vậy thưởng ngay cho Văn Anh làm Quản cơ và thưởng thêm cho một chiếc áo nhung hàng Tây dương. Các Suất đội trong chuyến đi ấy và các Tổng lý có đến tiếp ứng, đều được thưởng áo và bạc lạng có thứ bậc ; các biền binh được thưởng chung 500 quan tiền”.


    Lại sai bộ Binh đem việc ấy truyền bảo cho các địa phương ở Bắc Kỳ, để cho các biền binh đi tuần tiễu và các dân xã sở tại biết cách thưởng của triều đình rất hậu, ai nấy đều nên suy nghĩ, đua nhau hăng hái lên.


    Giảm bớt giấy tờ của các bộ, viện.


    Vua dụ nói : “Đường lối chính trị cốt ở giản yếu. Từ trước, vẫn thấy giấy tờ ở các nha dâng lên, làm theo lề lối phần nhiều phiền phức, vụn vặt. Nếu không chước lượng giảm bớt, thì giấy tờ xiết bao bề bộn : trâu kéo đến toát mồ hôi, chất đống phải cao đến xà nhà ! Lại sợ làm việc nhiều quá, có khi sơ sót lầm lẫn đến những công việc to tát. Vậy ra lệnh cho các nha môn ở các bộ, viện đều tuỳ theo sự việc văn án của nha mình, như trước dùng tấu tập, tấu sách, thì nên đổi làm tư sách để đủ xem xét ; hoặc trước hằng tháng một lần tâu, thì nên đổi làm 3 tháng hoặc 6 tháng một lần, hoặc trước làm riêng từng số mục kể tỉ mỉ thì nên đổi làm một tổng số kể chung. Những án còn lại cho theo từng khoản trình bày tâu lên, đợi chỉ thi hành. Việc này cốt muốn cho công việc được giản tiện, châm chước cho thích hợp với sự nghi. Các ngươi là ấn quan ở các bộ, viện, nên bàn bạc cho kỹ lưỡng và thoả đáng. Nhưng, trong việc tỉnh giảm cũng nên lưu lại những bản đương án ((1) Đương án ÀÉ ®× : tức là “lệ án”, những bản án giữ lại năm này qua năm khác để lưu chiểu.1), chớ sơ lược quá, để đến nỗi không tra xét vào đâu được, thì là uốn cong quá ngay, lại là không tốt”.


    Đến khi các nha lần lượt nghĩ các điều xin tâu lên, vua đặc cách chuẩn định cho thi hành.


    (1 - Theo lời xin của bộ Lại : quan ở các tỉnh ngoài, văn chức từ thự Chánh tứ phẩm trở lên, sớ báo ngày đến lỵ sở, nay đổi làm tư bộ ; quan ở trong Kinh hay quan các tỉnh ngoài, người nào phạm tội tư, phải phân xử giáng, phạt, dưới tên có biên cấp, kỷ ((1) Cấp, kỷ : tức là gia cấp và kỷ lục.1), nên khấu trừ cho tiêu án hay không, phải tâu lên để chờ chỉ ; còn tội công thì chiếu theo lệ khấu trừ, số thừa sẽ trả lại cho. Những nhân viên được thăng thụ hoặc thực thụ nguyên được nghị tự, gia cấp, kỷ lục và ân thưởng kỷ lục, do bộ kiểm tra thu lại, còn ân thưởng gia cấp cũng chiếu lệ trả lại cho kỷ lục, không nên tâu xin nữa. Viên nào can tội gì để giáng phạt, thì cứ chiếu lệ tư lên mà làm, không cần đề tâu xét lại.


    Lại chuẩn định : ở trong Kinh thì ấn quan các nha, ở các tỉnh ngoài từ án sát trở lên, có ai trước phải giáng lưu, sau nhân án khác phải giáng điệu, thì được tâu lên đợi chỉ ; còn thì đều chiếu xem các cấp phải giáng từ trước đến sau, rồi đem cấp ấy đổi đi bổ dụng ở nơi khác.


    2 - Theo lời xin của bộ Hộ : số nhân đinh, số ruộng đất ở các địa phương, cứ đến cuối năm làm thành tấu sách, nay đổi làm 5 năm một lần hội tu, lấy năm duyệt tuyển làm hạn. Còn năm không phải là năm hội tu, mà trong năm ấy có thêm hay bớt, chỉ trích số ấy tư vào bộ để lưu chiểu.


    Bản tư sách về chi tiêu tiền lương hằng tháng, đổi làm 3 tháng 1 kỳ. Bản tư sách về xuân phục trong kỳ đầu xuân, nên cùng một sổ sách, không nên đệ thêm sớ riêng.


    Lại chuẩn định tập tâu về việc đi khám ruộng cấy lúa, chỉ kể qua sự tích, còn như mẫu sào, số mục, thứ bậc thì làm bản tư sách riêng. Tập tâu do Nội các phê, giao cho bộ bàn rồi chiếu theo tư sách chép từng khoản mục, theo lệ châm chước nghĩ định phân số được tha hay giảm, đóng thành tập tâu lên chờ chỉ.


    Việc thu chi lá dừa hằng năm, đã có sổ tay hết hay còn của kho, việc lĩnh hay nộp đều do Bộ xét lại cho làm, không phải nhất nhất đề tấu.


    3 - Theo lời xin của bộ Lễ : hằng năm, các sớ văn về việc tế hưởng ngày kỵ và tiết Thường tân ở các miếu ; về việc các địa phương cung tiến phẩm vật thổ ngơi, và về việc nuôi tằm đã thành tơ, đều đổi làm Tư văn.


    Sớ sách về việc hằng năm đề cử học sinh, chỉ làm tư sách, do bộ hội lại, chia từng đoạn tâu lên.


    Lại, quy định lại sổ sách về việc làm lễ tế Giao, tế Miếu hằng năm, sai quan đi nhiếp tế hoặc thừa tế, chuẩn cho Tôn nhân phủ hội đồng với bộ Lễ nghĩ phái các hoàng tử, các tước công văn võ đại thần, đều ghi rõ tước và tên trong danh sách. Còn các tiết như Nguyên đán, Đoan dương, Tuế trừ ((1) Tuế trừ : ngày 30 Tết.1) đều là những việc tầm thường theo thời tiết ; đến kỳ, cũng chuẩn cho hội đồng làm sớ tâu xin thi hành và nghĩ phái người làm việc, không nên làm danh sách xếp thứ loại, khai rõ chức tước và tên họ những viên được phái, để tiện việc đến khi ấy, hoặc có gì thay đổi.


    Việc nêu thưởng những người thọ 100 tuổi, và ngũ đại đồng đường đều chiếu theo lệ mà thi hành. Duy có việc nào không hợp lệ, hoặc được thưởng thêm ngoại lệ, thì sẽ bàn riêng.


    4 - Theo lời xin của bộ Binh : chức võ, viên nào phạm tội riêng, bị phân xử giáng hay phạt, mà dưới tên ghi cấp, kỷ, có nên khấu trừ cho tiêu án hay không, phải tâu lên đợi chỉ. Ngoài ra, các tội công, thì theo lệ được khấu trừ, còn thừa sẽ cấp trả. Quan ở Kinh, từ Quản vệ Chánh tứ phẩm, quan ở các tỉnh ngoài, từ Quản cơ Thành thủ uý, Phòng thủ uý, Tòng tứ phẩm trở lên, viên nào trước bị giáng lưu, sau nhân án khác, bị giáng điệu đều phải tâu rõ đợi chỉ. Ngoài ra, chiếu lệ, thông tính các cấp bị giáng, rồi theo cấp ấy, đổi đi bổ dụng nơi khác. Viên nào thăng thụ hoặc thực thụ, trước được Kinh thành công kỷ lục mà chưa được mang theo, thì chiếu lệ trước, cho mang theo một thứ. Còn các nghị tự, cấp kỷ và kỷ lục ân thưởng, theo lệ, tra thu cả. Còn gia cấp ân thưởng, thì đổi trả cấp kỷ lục, không phải tâu xin. Viên nào phụng mệnh đi công cán mà xuất sắc, do địa phương đệ tâu, có chỉ gia thưởng. Còn nếu viên nào chưa tường quan hàm và tội lỗi can phạm, có chỉ tra lấy quan chức và sự phân xử giáng phạt, thì khi tư đi điều tra được đúng sự thực rồi, lập tức theo chỉ làm ngay, không phải tâu lại nữa.


    5 - Theo lời xin của bộ Hình : tấu án và tấu sách của các địa phương, theo lệ còn có sớ riêng, trình bày sơ lược về số mục tấu án, tấu sách, thì đổi làm tờ tư văn.


    Về việc xử quyết tù phạm nếu có án nào tình tội nặng hơn, quyết không thể đợi kỳ để báo án, thì sau khi trị tội cho chính pháp rồi phải theo lệ làm sớ tâu. Ngoài ra, các tội phạm bị chém hay thắt cổ tầm thường đều cho gộp vào một quý((2) Một quý : gồm ba tháng.1) để tâu báo. Lại chuẩn định ở bộ, hiện duyệt các vụ án, những án phạm bị giam nào là tội phản nghịch mà có người bị bệnh chết đều phải cứ làm tờ sớ tâu như cũ. Còn thì làm trích lục, giao viện Đô sát để lưu chiểu.


    6 - Theo lời xin của bộ Công : việc xây dựng ở các địa phương, nhất thiết công trình trù tính giá, khai sổ tiêu, làm tâu sách hai lần, không phải làm sớ riêng. Nếu công trình lớn, thì sau khi hoàn thành, phải làm tập tấu như cũ, còn việc nhỏ thì tư bộ lưu chiểu. Phái viên đến khám nghiệm, lấy giấy cam kết, sớ tâu đợi làm tờ tư. Các nhà cửa, xưởng dinh, kho tàng, thuyền bè, phàm cái nào nên dỡ hoặc nên rút đi, đã có tâu, được chuẩn cho tuân theo mà làm ; khi việc xong, tâu sách đổi làm tư sách.


    Thuyền công khi phái đi việc quan ; phàm đi qua địa phận các tấn sở mà đậu thuyền, gặp có việc gì quan trọng khẩn yếu, và được phái đi làm việc công ở nước ngoài, thì phải do sở tại làm tập tâu. Ngoài ra, đều phải báo với bộ để dự bị khi hỏi đến.


    Lệ lương của dân phu đến làm ở các cục tượng, hằng tháng một lần xếp thứ loại, làm sách tâu lên thì đổi làm hằng năm, cứ tháng giêng và tháng bảy làm hội tu.


    7 - Theo lời xin của Tào chính : thuyền vận tải ra biển đi qua các hạt, nếu là việc trọng yếu, thì phải làm sớ tâu lên. Ngoài ra, đều tư báo để lưu chiểu. Chủ thuyền các địa phương, đóng thuyền, mua thuyền, đều cho làm đơn trình ghi vào sổ, không phải làm tập tâu. Duy thuyền vận tải, gián hoặc có cớ sự gì, phải làm tờ tư để bằng cứ vào đó mà làm việc).


    Cho Quang lộc Tự khanh, Biện lý bộ Hộ là Dương Văn Phong làm Hữu thị lang bộ Binh.


    Cho Phó vệ uý vệ Cường võ quân Thần sách là Hồ Văn Lưu quyền thự Vệ uý ; Cai đội vệ Cẩm y là Hoàng Văn Hậu làm Quản cơ, lại thự Phó vệ uý vệ Cường võ ; Phó vệ uý ở Tiền phong Hậu vệ là Nguyễn Văn Lược quyền thự Vệ uý ; Cai đội Dực võ là Nguyễn Xuân Gián làm Quản cơ, lại thự Phó vệ uý ở Tiền phong Hậu vệ. Hoàng Văn Hậu và Nguyễn Xuân Gián đều chuẩn cho do đường trạm, đi quân thứ Thái Nguyên - Tuyên Quang. Cả hai đều theo bản vệ sai phái, làm việc bắt giặc.


    Cho viên bị cách là Lê Đại Cương được khai phục, làm Viên ngoại lang bộ Binh, quyền sung chức Phó lãnh binh An Giang, vẫn đốc suất đội hương dõng do mình cai quản, theo Tham tán Trần Văn Trí điều khiển. Lại ra lệnh cho Trần Văn Trí cấp bằng cho Thái Công Triều quyền lĩnh hương dõng tòng chinh.


    Gọi Phó vệ uý vệ Cẩm y Đoàn Dũ và Vệ uý vệ Kinh tượng, sung chức Lãnh binh Biên Hoà là Nguyễn Văn Thị về Kinh để lựa dùng.


    Sai quyền lĩnh Tổng đốc Nghệ An - Hà Tĩnh Nguyễn Văn Xuân, phái Quản vệ ở Hậu bảo Nhất vệ là Trần Ngọc Cẩn, đem vệ binh đi đóng giữ Hà Nội.


    Tuần phủ Thanh Ba là Nguyễn Khả Bằng tâu : “Ngày nọ, 2 huyện Vĩnh Lộc Nông Cống báo có bọn phỉ gọi nhau tụ họp. Thần đã chia người đi dò bắt ; chúng đều lẩn trốn, địa phương đã dần yên ổn”.
  • Chia sẻ trang này