0060.0084

13/1/16
0060.0084
  • PDF
    GoogleDocs

    :rose::rose::rose:

    Vua dụ : “Địa phương yên ổn, cũng hơi thư tâm. Nhưng phải bắt cho được kẻ phạm, đem nghiêm trị, làm cho ra án, mới là xong việc. Nếu chỉ nói hão cho tắc trách, cuối cùng vẫn không bắt được, đến nỗi bọn phỉ sau lại ló ra, thì bọn ngươi khó chối được lỗi”.


    Bọn giặc Thái Nguyên hơn 1.000 tên, đến sát tỉnh thành (ở bắc ngạn con sông Đồng Mỗ, mé sau thành). Tổng đốc Bắc Ninh - Thái Nguyên là Nguyễn Đình Phổ làm tờ phi tấu, xin phái những biền binh đắc lực đến hội tiễu.


    Vua phê bảo : “Trước đã phái Kinh binh đi rồi. Ngươi nên trổ sức đi tiễu, không được chỉ dựa vào người”.


    Nhân đó, vua sai truyền dụ bọn Bố chính Nguyễn Khắc Hài, án sát Trần Thế Nho và Lãnh binh Trần Đình Di ở Bắc Ninh rằng : “Thành Thái Nguyên kiên cố, địa hình cũng hiểm, mà quan, quân và voi trận đạo ấy đến hơn vài nghìn, dùng để phòng thủ, thật cũng dễ dàng. Chỉ vì Nguyễn Đình Phổ không có tài, cho nên chưa sớm dẹp tan được. Vả lại, bọn giặc ấy cũng không tài giỏi gì, từ trước đến nay, chỉ quen nương náu nơi rừng rú, ẩn nấp bụi rậm. Nay rời núi rừng, xuống đồng bằng, đóng mãi ở dưới thành kiên cố, thì đã mất cả ngón trội của chúng rồi. Trong thành, súng lớn bắn ra, đạn bay tới, thế tất không chống được. Bọn ấy, quyết không đáng lo. Các ngươi bất tất hoang mang đến cứu, chỉ cần nghiêm sức quan quân theo địa hạt mình phòng thủ ngăn chặn”.


    Lại truyền chỉ : “Biền binh các tỉnh Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, mà lần trước điều đi ; cùng với các vệ binh Thần sách, Cường võ do Nghệ An phái đi, đều không được hành động liều lĩnh và khinh suất tiến quân. Nhưng cứ ở giới hạt Bắc Ninh, chia quân đóng đồn, để trấn áp ở dân gian, khiến dân đều giữ được yên ổn thái hoà. ở Kinh, hiện đã phái thêm quân đội hùng mạnh, sai tướng chuyên đi đánh trận, mươi ngày sẽ đến lập tức tiến lên cứu viện, đánh dẹp. Tin rằng bọn giặc ấy, chẳng qua là tiểu yêu tanh hôi, một khi có thành kiên cố ngăn ở phía trước, quân hùng mạnh đánh úp ở phía sau, trong ngoài đánh khép lại, thì chúng tất bị tan vỡ ngay, ta lại được thắng trận”.


    Tổng đốc quân vụ đạo Tuyên Quang là Lê Văn Đức, Tham tán là Nguyễn Công Trứ, tiến đến đồn Ninh Biên, đem tình hình trong quân tâu lên : “Quãng đường đi qua Đại Man và Vị Xuyên, giặc sợ bóng gió, đều chạy trốn. Quân ta đuổi bắt sống và chém được hơn vài mươi đứa, thu được nhiều súng ống và khí giới. Có thổ ty huyện Vị Xuyên là Ma Tường Huy (trước đã can án, giáng làm lính), tự đem thủ hạ, thổ dõng, chém được tên đầu sỏ phỉ là Ma Tường Thường, và em nó là Ma Tường Ngân, đem đầu đến nộp. Lại có con và cháu thúc bá của thổ ty chết trận Hoàng Kim Thuận, là bọn Hoàng Kim Toan 5 người, tình nguyện đi tòng chinh, để báo thù cho cha. Còn các dân Thổ Man ở tổng, lý, trại, động sở tại phần nhiều đến thú và xin quy phục ở trước cửa quân. Bọn thần đã vỗ về, yên ủi rồi thả cho về. Duy bọn nguyên Thổ tri châu Vị Xuyên là Ma Trọng Đạt và Thổ ty Đại Man là Ma Doãn Dưỡng nhiều lần ra thú và nói rằng : “Trước kia tên nghịch Vân nổi loạn, ra oai chết chóc, vì sợ ngọn lửa tàn ngược của nó nên không theo không được ; nay tự biết hối, tội chết có thừa, xin trói mình ra thú và hàng phục. Nếu được khỏi tội chết, thì xin tập hợp thổ dân, đem đi gắng sức tòng chinh để chuộc tội”. Vả lại, bọn này đều là kẻ thứ yếu phạm trong bọn giặc, cố nhiên không được ở vào lệ chuẩn cho ra thú. Nhưng nay bọn thần đem quân đi sâu vào châu Bảo Lạc, đường núi vận lương, không khỏi nỗi lo về phía sau lưng. Tưởng nên nhân đó, dùng lối quyền nghi ngoài lệ thường, cho chúng tòng quân đánh giặc ; cũng là kế cũ dùng người Man đánh người Man. Mà con đường ở phía sau Đại Man và Vị Xuyên, ta cũng có thể yên tâm”.


    Vua dụ bọn Đức rằng : “Quan quân tiến đánh, đến đâu không ai địch nổi, xa gần đều phục. Ta xem lời tâu, rất khen ngợi, hả lòng. Nhưng về việc chém được và bắt sống được các phạm nhân không thấy nói đến khen thưởng, có lẽ vì trong quân không đem theo theo bạc lạng chăng ?


    “Vậy, truyền chỉ cho bọn Trần Ngọc Lâm và Hồ Sĩ Lâm : chỉ phát vài trăm lạng bạc kho, vài trăm đồng ngân tiền Phi long lớn và nhỏ đem đến quân thứ, lập tức thưởng cho ai có công trạng. Ma Tường Huy chém được những tên đầu sỏ phỉ là anh em Ma Tường Thường, thật là hăng hái cố gắng, tự biết đổi mới, chuẩn cho thưởng thêm chức làm Đội trưởng, và cho theo đi bắt giặc. Người con và cháu thúc bá của Hoàng Kim Thuận là bọn Hoàng Kim Toan, trước sau vì nước, nay lại thân hành đốc suất thổ dõng đi tòng chinh để báo thù cho cha. Vậy trước hết hãy truyền chỉ khen thưởng, lại thưởng cho người con làm Đội trưởng, đợi có công trạng, sẽ liệu bổ dụng. Bọn thổ ty Ma Trọng Đại, Ma Doãn Tường, trước bị cưỡng ép theo giặc. Nay biết quay đầu quy thuận, cũng chuẩn cho tòng chinh. Nhưng sai đi đầu, trổ sức giết giặc, đợi có công trạng, cứ thực tâu bày. Nếu chúng có bề ngoài quy thuận, bề trong phản bội thì lập tức chém đầu rao trong quân. Lại xét xem các viên biền trong quân có nhiều người đắc lực như bọn Trần Văn Lộc, Nguyễn Văn Quyền và Tống Văn Uyển. Các ngươi nên liệu phái Trần Văn Lộc đem 300 biền binh Thần sách hiện đang đi trận ấy chuyển về Tuyên Quang, hợp sức đánh dẹp bọn phỉ Thái Nguyên. Song việc hành quân, có sự khó ở xa mà liệu tính được. Khi tiếp được dụ này, nếu biền binh còn ở giới hạt Tuyên Quang, có thể tìm đường về tắt ngay thì hay đấy ; nếu đã đến Vân Trung, lại chuyển đi Cao Bằng, thì đường đất hơi xa, lập tức nên tiến đi cả một loạt, không cần trích một số quân, phái quay về, đến nỗi chậm trễ hàng tuần, trở thành vô ích !”


    án sát Quảng Yên là Doãn Văn Xuân tâu : “Do thám được tin bọn phỉ ước hơn 700 tên xâm lấn đồn An Châu, huyện An Bác tỉnh Lạng Sơn. Vả lại, nơi ấy giáp giới với huyện Hoành Bồ thuộc bản tỉnh, một bước là đến ; mà đội biền binh trước đây phái đi phòng ngự đã theo nguyên Tuần phủ Lê Đạo Quảng đi bắt giặc rồi thần đã lập tức phái Quản cơ cơ Tả kiên, tòng sự ở tỉnh là Lê Văn Triệu, đem quân đôn đốc viên huyện sở tại, vát nhiều dân tráng phòng thủ nghiêm cẩn hơn”.


    Vua dụ : “Thổ phỉ Lạng Sơn cách xa thổ ty hạt ngươi, khác nào thả trâu ngựa ra mà đực cái mỗi đằng một nơi, không thể gụ nhau được. Bọn phỉ, vì tình thế, tất không dám đi sâu vào quấy nhiễu đâu. Còn những kẻ xuẩn động, chẳng qua là bọn lau nhau thừa cơ lén lút nổi lên đó thôi. Ngươi cùng viên Hộ lý Tuần phủ Vũ Tuấn nên lập tức chuyển sức cho bọn thổ ty, thổ mục thúc giục tập hợp thổ dõng, lấy hơn nghìn người, do quan lượng cấp khẩu phần lương thực chiếu theo địa phận tấn sở, đóng quân án ngữ ngăn cản, không cho bọn giặc ấy được vượt bờ cõi tràn đến”.


    Lại truyền chỉ cho Lê Đạo Quảng gấp theo lời chỉ dụ sau, do đường Hải Dương chuyển về Bắc Ninh, chớ nên đi đường tắt khác, có lẽ bất tiện chăng.


    Điều 100 biền binh vệ Kinh tượng, 8 thớt voi trận, và vệ Võng thành do Kinh phái đi trú phòng ở Thanh Ba đều đi Bắc Ninh để đóng giữ. Lại sai tỉnh Bắc Ninh phát thóc kho, xay gạo, dự trữ gạo, muối ở phủ Lạng Giang, đợi khi đại binh tiến đến, tuỳ chỗ mà vận đến cấp cho.


    Bố chính Hải Dương Trần Văn Tuân tâu :


    “Chánh Phó quản cơ ở các cơ Tả quân thuộc tỉnh Hải Dương phần nhiều già yếu, khó kham sai khiến. Có Quản cơ cơ Quảng Bình là Nguyễn Lương Điển, là người mẫn cán, thần vốn biết rõ, xin phái điều đến sung làm việc binh”.


    Vua quở rằng : “Trước đây, nhiều lần đã từng răn bảo, sao đến ngày nay mới chịu tâu bày ? Thế chính gọi là “khát mới đào giếng” ! Vua bèn cho Nguyễn Lương Điển làm Phó vệ uý trật Tòng tam phẩm quyền sung Phó lãnh binh Hải Dương chuẩn cho tiện đường đi gấp, đem các biền binh tại ngũ do mình quản lĩnh phân phái đi. Còn Tả quân cơ Tiền nhuệ, Quản cơ Phạm Ngọc Cưu và Phó quản cơ cơ Hữu nhuệ, Nguyễn Văn Thọ hiện đang bị bệnh, chuẩn cho nghỉ việc để điều trị. Dùng Long võ Cai đội Tôn Thất Loan, Hổ oai Cai đội Thái Văn Hý thay vào. Phó quản cơ cơ Trung kiên là Phan Văn Quần và Phó quản cơ cơ Hữu kiên là Nguyễn Văn Liêm đều già yếu, bắt buộc hưu trí. Dùng Hổ oai Cai đội Lê Thành Biểu và Long võ Cai đội Nguyễn Thường Hứa thay vào.


    Cho Nguyễn Danh Văn làm Phó vệ uý vệ Tuyển phong hậu quân Thần sách.


    Giáo trưởng đạo Gia Tô Tây dương là Tây Hoài Anh và Phan Văn Kinh, trước đây, cám dỗ ngu dân theo tà giáo, đã bị địa phương bắt giải cùm giam ở ngục Thừa Thiên. Bọn Anh ở trong nhà giam, ngày đêm giảng đạo cầu kinh không ngừng. Bộ Hình đem việc tâu lên. Vua bèn phát vãng cho bọn ấy đi an trí ở nơi đồn thú Ai Lao, cấm không được đi lại với người ngoài.


    Lại có Tây Hoài Hoá lén lút ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Quảng Yên, ngầm giấu tranh ảnh và tượng [bên đạo], giảng đạo cho các tín đồ, bị sở tại bắt được.


    Vua ghét bọn đó cố ý phạm tội, sai giết đi. (Tây Hoài Anh vốn tên là Phương, Tây Hoài Hoá vốn tên là Liên, năm trước được ơn ban cho họ tên, bổ làm chức Hành nhân trong ty Hành nhân, do Thừa Thiên quản lĩnh, phiên dịch chữ Tây. Sau đều cáo bệnh, về điều dưỡng ở thành Gia Định).


    Cấm binh, có Tống Phước Bình, bị mê hoặc đạo ấy. Hạ lệnh cho bộ Hình khuyên bảo đến 2, 3 lần, nhưng cuối cùng hắn vẫn không tỉnh ngộ, nên cũng chém đem bêu để răn bảo mọi người.


    Tên giặc trốn ở Hưng Hoá là Xa Văn Chấn lại họp đồ đảng vây đánh đồn vạn bờ ở Đà Bắc. Thự Tuần phủ Ngô Huy Tuấn, phái bọn Suất đội Nguyễn Văn Ba đem hơn 100 biền binh đến cứu viện, đánh dẹp. Giặc thấy quan quân đến, lập tức giải vây, tản mát lẩn trốn vào rừng.


    Nghe biết việc ấy, vua dụ sai nghiêm sức cho thủ bảo ((1) Thủ bảo : người có nhiệm vụ canh giữ đồn bảo.1) là bọn Xa Văn Quế lùng bắt.


    Cho Chưởng cơ Phạm Văn Điển thăng thự Thống chế ở Tiền dinh quân Thần sách, bổ làm Đề đốc tiễu bộ quân vụ; Vệ uý vệ Tiền nhất quân Vũ lâm là Lê Thuận Tĩnh làm Phó chưởng cơ, đem Kinh binh và voi chiến đi Thái Nguyên đánh dẹp. Phàm biền binh các vệ Hổ oai, Kinh tượng, Võng thành, Cường võ trước đã phái đi, đều lệ thuộc vào đấy.


    Một đạo quan quân của Tổng đốc cách lưu ((2) Cách lưu : bị cách chức nhưng được ở lại làm việc.2) là Nguyễn Đình Phổ trở xuống đều phải chịu sự điều khiển.


    Vua dụ bọn Phan Văn Điển rằng : “Các ngươi đi chuyến này, cần phải cổ võ khuyến khích quân đội thẳng tiến, đánh dẹp, cốt sao bắt chém hết sạch bọn giặc ở vùng Thái Nguyên, một trận thành công, tất được thưởng to. Nếu biền binh hoặc thổ dõng nào nhút nhát, lui bước, thì chuẩn cho lập tức chém đầu để nghiêm quân luật. Người nào có công lao chém được đầu giặc, bắt được trùm sỏ, chuẩn cho một mặt làm sớ tâu, một mặt thưởng cho phát bạc lạng và ngân tiền để khuyến khích”.


    Sai bộ Binh phái ra 1 Suất đội ở viện Thượng tứ, 50 biền binh, 20 ngựa khoẻ, theo Phạm Văn Điển và Lê Thuận Tĩnh đi đánh giặc. Lại dụ tỉnh Bắc Ninh phái Quản cơ Nguyễn Văn Anh đem 500 hoặc 300 lính cơ, đợi bọn Điển đến thì lệ thuộc vào, theo đi sai phái. Con Điển là Suất đội Phạm Văn Huy, lưu thú ở Bắc Ninh, cũng chuẩn cho theo đi làm việc quân. Sau đó, vì vệ Cường võ đã theo Phó lãnh binh Nguyễn Thọ Tuấn, tiến đi Lạng Sơn rồi, nên lại dụ bảo Tổng thống quân vụ Tạ Quang Cự, khi đến Bắc Ninh, lập tức liệu trích lấy 1 vệ biền binh Nghệ An hoặc Hà Tĩnh, hiện đang ở nơi hành quân, chuyển giao cho bọn Điển đem đi tòng chinh.


    Tuần phủ Lạng Sơn - Cao Bằng là Lê Đạo Quảng tiến đóng ở đầu hạt Tiên Yên, tâu rằng : “Do thám được tin bọn phỉ Lạng Sơn Lê Văn Khoa là em nghịch Khôi, đã chiêu mộ được hơn 3.000 phu mỏ đều là người nhà Thanh, thông đồng với thổ ty Lạng Sơn, khua lùa thổ dân nổi lên hưởng ứng. Nơi này nơi kia mang đồ binh khí, ngăn chẹn đường rừng. Chúng chia ra từng toán : một nửa ngăn chặn con đường từ Bắc Ninh đến, một nửa vây thành Lạng Sơn và cản trở con đường ở Quảng Yên sang.


    “Lại có người châu An Bác, tên là Thế Đường, đồ đảng ước 600 tên, ngầm dụ nhân dân ven rừng Quảng Yên, mưu đồ quấy nhiễu.


    “Vả lại, binh dõng đang đi chuyến này chỉ có hơn 400 người, nếu tiến đánh dẹp đường Na Dương, tưởng cũng có thể làm được. Chỉ nghĩ : nhân dân Quảng Yên tuy không có tình ý gì khác, song một khi họ nghe nói tỉnh bên có loạn, thì họ cũng vì thế mà nhốn nháo cả. Nếu phá được Na Dương, bọn phỉ tất chạy đến thành Lạng Sơn, họp đảng lại để chống cự. Với số quân ta ít ỏi này, nếu đánh không thắng thì những thổ dân theo phỉ tất lồng lộn lên, bao vây phía sau ; đồ đảng Thế Đường thừa cơ, cũng tất đến Quảng Yên sinh sự. Hiện nay quân của Hồ Văn Vân còn bị cản trở, binh của Hoàng Văn Quyền đã không còn nữa, mà thần cứ đem quân vào sâu nơi hiểm địa, tiến lên, không thể gỡ sự nguy cấp cho Lạng Sơn, mà trở về, không thể giữ được an ninh cho trong bản hạt ; thì lầm lỡ không phải là nhỏ ! Cho nên thà chịu tội chậm trễ, chứ không dám khinh suất tiến quân. Hiện đương phái thêm người đi thám thính tin tức Hồ Văn Vân và điều thêm dân tráng, từ từ tính kế tiến quân”.


    Vua mật dụ : “Ngày nọ, Lạng Sơn có động, phải gấp tiến quân đánh dẹp, nên mới có chỉ sai ngươi đem binh đi cứu. Lại đổi ngươi đi từ đường Hải Dương, chuyển sang Bắc Ninh, hội cùng Tổng thống đại viên, hiệp sức dẹp giặc.


    “Căn cứ vào lời tâu hiện nay, tình trạng bọn giặc còn đang lan tràn, mà binh dõng do ngươi cai quản, có vẻ cô đơn, thế mà đi riêng đến đánh, thật không thể kéo quân vào sâu được. Nếu lại đổi, theo Tạ Quang Cự họp binh một chỗ, thì một lộ Bắc Ninh, lần lượt đã phái Kinh binh tiến đến. Lại truyền hịch điều binh và gọi đi, cũng đã nhiều lần rồi. Dẫu có thêm ngươi và vài trăm quân nữa, cũng không đắc lực lắm đâu ! Chi bằng ngươi hẵng tạm đóng lại ở Tiên Yên : một là nói phao lên rằng do con đường ấy, sẽ tiến quân đến đánh, khiến giặc phải lo, ngoái lại ; hai là trấn áp thổ dân, không để họ đến nỗi lo sợ nhốn nháo ; ba là từ đằng xa, hộ vệ cho tỉnh thành, có thể giữ khỏi lo ngại. Làm được ba điều ấy thì càng đắc sách. Khi tờ dụ này đến, nếu ngươi còn ở Tiên Yên, thì lập tức theo dụ, thi hành ; nếu đã trước do đường Hải Dương, đi đến Bắc Ninh, dọc đường hễ tiếp được dụ này, thì cũng kịp rút quân về ngay Tiên Yên. Phải nên cẩn thận, kín đáo, theo lệnh, làm việc. Còn lời nói phao lên tiến đánh, chỉ là hư trương thanh thế, chớ được khinh suất động binh, và cũng không nên tiết lộ cho giặc biết rằng ta không thể tiến đến, sợ lỡ mất cơ nghi. Đợi đại binh của đạo quân Tạ Quang Cự ở Bắc Ninh đánh phá được bọn giặc, tiến lên giải vây cho Lạng Sơn, ngươi bèn có thể thừa thế thẳng đến tiễu trừ dư đảng giặc, lại càng đắc lực hơn. ấy là một cơ mưu quyết thắng, muôn phần hoàn toàn cả. Ngươi chớ xao lãng đấy !”.


    Điều 100 lính thuỷ và 3 chiếc thuyền ở Nam Định đi đánh giữ Quảng Yên.


    Sai Tư vụ bị cách, được khởi phục là Tào Quang Lệ và Hoàng Sĩ Quang đi quân thứ Lạng Sơn, Trương Hảo hợp và Lê Xuân Như đi quân thứ Thái Nguyên, theo các đại viên Tổng thống, Tham tán và Đề đốc, chuyên làm công việc từ hàn trong quân.


    Lúa vụ mùa ở tỉnh Nam Định được mùa to. Tỉnh thần đem việc ấy tâu báo.


    Vua hài lòng lắm, làm thơ để ghi nỗi mừng, nhân bảo thị thần rằng : “Dân Nam Định biết yên phận, theo lẽ phải, ơn trời ban Phước, được triều đình khen thưởng. Bài thơ này nên sao chép đưa đi các tỉnh từ Hà Tĩnh ra Bắc, cho biết mà bắt chước”.


    Cho Trương Đăng Quế làm Thượng thư bộ Binh, Nguyễn Kim Bảng làm Tả tham tri bộ Lại, Trần Danh Bưu làm Hữu tham tri bộ Lại, Hoàng Văn Diễn làm Tả tham tri bộ Công ; Đặng Chương làm Tả thị lang bộ Hộ, Vũ Đức Khuê làm Hữu thị lang bộ Hộ, Hà Thúc Lương làm Thị lang Vũ khố, Thân Văn Quyên và Hà Quyền làm Thị lang bộ Lễ, vẫn sung làm công việc nội các, Trần Tú Dĩnh làm Phủ doãn Thừa Thiên, Đào Trí Phú, Nguyễn Văn Nhiên và Nguyễn Quốc Cẩm làm Lang trung bộ Lại, Nguyễn Đắc Tứ và Phạm Thế Hiển làm Lang trung bộ Hộ, Vũ Xuân Diệu và Ngô Thế Vinh làm Lang trung bộ Lễ, Hà Đăng Khoa và Trần Nguyên Tưởng làm Lang trung bộ Binh, Nguyễn Văn Nhị, Trương Sĩ Hoản và Nguyễn Huy Chuẩn làm Lang trung bộ Hình, Bùi Quỹ và Trần Tuyên làm Lang trung bộ Công, Đặng Văn Thống làm Lang trung Vũ khố, Chu Văn Tường làm Lang trung Mộc thương, Cao Văn Quế làm Lang trung bộ Lễ, vẫn phụng mệnh trông coi lăng Thiên Thụ, Nguyễn Huy Hựu làm Quốc tử giám Tế tửu, Tôn Thất Diệu làm Hữu từ tế phó sứ. Ngoài ra, từ thự Viên ngoại lang và Khoa đạo cho đến tư vụ, lục sự, học chính và miếu lang, được thực thụ tất cả 38 người.


    Vua dụ bảo các bầy tôi : “Nay ở Kinh, các quan viên lớn, nhỏ, phàm đã được thự hàm, thì không kể niên hạn lâu hay mới, đều chuẩn cho thực thụ. ấy là ta gia ơn cất nhắc, vốn muốn các bầy tôi kịp thời nay được dùng. Ai có tài năng đều được tự trổ ra. Bọn ngươi nên cảm kích, dấy đức thiên lương, cố gắng bội phần, ngày đêm chớ lười biếng. Làm lớn hay nhỏ, ai nấy đều nên siêng năng, khiến cho mọi việc được nhanh chóng thành tựu, không đến nỗi chậm trễ. Ta thật hy vọng nhiều lắm.


    “Vả lại, ta từ khi làm vua đến nay, mỗi khi tiếp các bầy tôi thường giữ nét mặt hoà nhã, lời lẽ ôn tồn. Vua tôi coi nhau như một thể, phải cần lẫn nhau, không vì đường bệ mà xa cách. Bọn ngươi, các nha môn thuộc bộ, viện, các, tự, các viên chưởng ấn quan và tá lĩnh, được dự theo ban tâu việc, ai nấy đều nên thể theo ý ấy, mở hết đáy lòng, có nghe thấy sự gì, cứ thực trình bày rõ ràng, cẩn thận không giấu giếm một chút nào. Ta cũng chước lượng tiếp thu, rồi đem thi hành, may có thể trăm việc được chính đính, ngày tới thịnh trị, để cùng hưởng Phước tôn vinh”.


    Đổi bổ Đại lý Tự khanh Nguyễn Công Hoán, làm Hình bộ Tả thị lang vẫn kiêm làm công việc ở Đại lý tự.


    đổi chức Thư lại ty Văn hàn ở Quảng học đường làm Thư lại thuộc Quảng học đường. Phàm thuộc các phủ và các Quảng nhân đường, Quảng Phước đường, Quảng thiện, có chỗ nào gọi là Văn hàn ty thì chuẩn cho đều đổi lại cả.



























    Chính biên



    đệ nhị kỷ - quyển cx



    thực lục về thánh tổ nhân hoàng đế



    Quý Tỵ, năm Minh Mệnh thứ 14 [1833], mùa đông, tháng 10.


    Ban chiếu ra ơn cho các hạt từ Thừa Thiên trở vào Nam đến Bình Thuận, trở ra Bắc đến Quảng Bình.


    Chiếu rằng : “Cơ sở nước ta dựng lên ở phương Nam, Tổ tông truyền nối, ơn nghĩa sâu dày, chứa chất hơn 200 năm.


    “Nay Hoàng khảo, Thế tổ Cao hoàng đế ta, lập lại cơ đồ lớn, có cả nước Đại Việt. Võ công cả định, văn giáo thấm nhuần. Đưa cả nước vào cảnh thanh bình, tụ muôn dân đến chỗ yên ổn.


    “Ta kính nghĩ theo đức tốt đời trước, thực lòng tìm lẽ phải về việc trị nước. Từ lúc làm vua đến nay, phàm thi hành một chính lệnh nào cũng đều để lòng nghĩ đến việc nuôi dân như con. Dân ta được vỗ về an nhàn, đến nay hơn 10 năm rồi.


    “Năm nay, các tỉnh từ Hà Tĩnh ra Bắc, Biên Hoà vào Nam, có chỗ bị hạn lụt làm hại ; có chỗ gặp giặc giã lén lút nổi lên, việc làm ruộng không được thuận, dân gian chưa được ở yên. Tình hình cấp bách ấy, nghĩ rất đáng thương ! Ta từng đã lần lượt xá thuế, giảm thuế và khoan tha hình phạt cho những hạt nào đáng được, đầm đìa ơn rộng, để cứu dân. Hiện nay, mưa nắng thuận thời, mọi thứ trồng cấy đều được thành thục, tướng giặc Nam, Bắc lần lượt bị giết dần dần. Tên nghịch Khôi thì như thỏ giữ cô thành, có thể hẹn ngày bắt được ; tên nghịch Vân thì như con lang chạy vào rừng rậm, rồi đến không đường trốn thoát. Công việc lớn sắp tính ngày tuyên bố hoàn thành, trăm họ được cùng nhau bình an vô sự.


    “Nhân nghĩ : từ Thừa Thiên vào Nam đến Bình Thuận, ra Bắc đến Quảng Bình, phàm 9 hạt, trải hạ sang thu, cũng có chỗ vì đại hạn làm hại, lúa mạ hỏng nhiều. Thêm vào đó miền Nam có biến động, buôn bán không thông đồng, đến nỗi giá gạo ngày càng cao vọt, dân cùng, nhà nghèo không khỏi quẫn bách đôi chút. Ta chỉ nghĩ làm cho dân nhờ, nhiều phương cứu chữa : gia hạn cho hoãn thuế chính cung, lại thi hành thêm việc phát thóc kho cho dân vay. Hết thảy các cách làm thế nào cho dân được thừa ăn, đời sống được no đủ đều ứng dụng đến nơi đến chốn cả.


    “Duy nghĩ : đời sống của dân còn chưa được rộng rãi, nên phải rộng làm chính sách nhân đức, rảy nhiều móc mưa, khiến đều được thịnh vượng, hưởng mãi hạnh Phước thanh bình. Vậy ban ân điển gồm 6 điều” :


    (1 - Thuế thân năm nay, giảm cho 3 phần 10. Duy tỉnh Bình Thuận, trước dã giảm 3 phần 10, nay lại giảm thêm 2 phần nữa.


    2 - Từ năm Minh Mệnh thứ 13 [1832] trở về trước, số tiền thuế đinh, điền còn thiếu đọng lại đều được miễn. Thuế đóng thóc gạo giảm cho 5 phần 10, còn 5 phần để đến năm sau mang nộp.


    3 - Năm nay, những vụ án phát giác về điền thổ ẩn lậu, đều được miễn sự thoái thu.


    4 - Năm nay chỗ nào có lệ thuế tăng thu về đinh, điền đã tục khai để thu thì đều được miễn.


    5 - Con cháu các công thần, nếu ai tình nguyện xin bổ dụng, thì do sở tại cấp giấy dẫn đến Kinh, để tuỳ tài xét dùng.


    6 - Các địa hạt, như có người tài nghệ nào còn bị bỏ sót, thì do quan trên cấp giấy dẫn đến Kinh, rồi do bộ sát hạch làm sớ tâu, đợi chỉ bổ dụng).


    Sai bộ Binh lần lượt chở đi Nam Kỳ, các hạng súng đại bác, súng điểu sang và đạn lấy thêm ở kho (đạn theo súng đại bác, mỗi cỗ đại bác 50 viên, cộng 49.850 viên ; đạn theo súng điểu sang 150.000 viên), phái biền binh thuỷ quân cưỡi chiếc thuyền hiệu chữ “định” ©w chở đi quân thứ. Lại mang theo cả súng, đạn, chì (súng thạch cơ điểu sang 500 cây, và đạn chì dùng theo súng ấy 25.000 viên, chì 1.000 cân). Tuỳ tiện chuyển giao cho tỉnh Quảng Ngãi, cấp đủ cho các cơ.


    Vua nghĩ đến quan quân ở 2 đạo Lạng Sơn, Thái Nguyên : trèo núi, lội khe, hoặc bị cảm nhiễm lam chướng, bèn sai thị vệ mang thuốc của vua cấp cho. Lại dụ Tổng đốc Hà Nội - Ninh Bình là Đoàn Văn Trường tuyển lấy 2 danh y, mỗi người mang 100 cân thuốc chia đi các nơi điều trị.


    Định giá đồng kim tiền và ngân tiền Phi long.


    Bộ Hộ tâu : “Vàng, bạc là loại rất quý trong bảo hóa. Từ trước đến nay, chế làm 2 hàng tiền Phi long lớn và nhỏ, thật là cốt để cho bảo hoá được lưu thông và sự tiêu dùng của dân được tiện lợi. Vậy nên chước lượng định giá để làm chuẩn đích lưu hành. (Ngân tiền hạng lớn, 1 đồng nặng trên dưới 7 đồng cân đến 7 đồng cân 5 phân, trị giá là 2 quan tiền ; hạng nhỏ, 1 đồng nặng trên dưới 3 đồng cân đến 3 đồng cân 5 phân, trị giá 1 quan. Kim tiền hạng lớn, 1 đồng nặng trên dưới 7 đồng cân ăn 30 đồng ngân tiền hạng lớn, và ăn 60 đồng ngân tiền hạng nhỏ. Kim tiền hạng nhỏ, 1 đồng nặng trên dưới 3 đồng cân, ăn 15 đồng ngân tiền hạng lớn và ăn 30 đồng ngân tiền hạng nhỏ). Phàm dân gian mua bán đều y theo giá ấy. Hoặc giả thị giá có hơi tăng, cũng cho tuỳ tiện. Nếu ai dám giảm xuống, sẽ bị xử theo luật vi chế. Nếu muốn đem bán tiền ấy, thì Nhà nước sẽ tính trả theo giá đã định. Có ai đem nộp thuế bằng tiền ấy cũng chuẩn cho thu nhận chứ không được ruồng chê”.


    Vua cho lời tâu ấy là phải.


    Bọn ác man ở Quảng Ngãi họp đảng đến vài trăm người, sấn đến cướp trâu của dân. Binh và dân ở đồn bảo biên giới có người bị chúng bắn bị thương.


    Việc ấy đến tai vua. Vua bảo bộ Binh : “Ngày nọ, vì đồn sở và tấn sở phòng bị sơ hở, nên bọn Man ấy mới lẻn được xuống, quấy nhiễu cướp bóc. [Đối với quan võ can vào việc này, ta đã] chuẩn cho phân xử giáng cấp rồi ; nay còn không biết phòng bị đến nỗi để chúng lại kéo đến ! Đó thật là do các quan tỉnh, các Lãnh binh và các đồn tấn sở tại quen thói lười biếng, cho đến nỗi thế ! Nếu không một phen cảnh tỉnh, thì lấy gì răn bảo được ? Vậy thì nguyên Bố chính Lê Nguyên Trung, lập tức được giữ ở lại làm việc như cũ ; hiện thự Bố chính Nguyễn Đức Hội, giáng một cấp, lại lui về làm chức án sát ; Lãnh binh Trần Văn Hựu giáng 2 cấp, vẫn sai đi đến trường luỹ, chọn chỗ đóng đồn, để tuần phòng ; các viên đồn tấn sở tại đều giáng 4 cấp, và trách cứ phải đi bắt giặc”.


    Dời tỉnh lỵ Hà Tiên về trấn sở cũ.


    Tỉnh lỵ trước ở xã Mỹ Đức thuộc Hà Châu. Năm trước, thành thần cho rằng lỵ sở ấy chật hẹp tâu xin dời đến Giang Thành, được vua chuẩn y. Đến đây, Hộ lý Tuần phủ Trịnh Đường xem kỹ địa hình hai xứ ấy tâu nói : địa giới tỉnh hạt giáp Xiêm La, Chân Lạp, là nơi địa đầu rất xung yếu. Dựa vào thế hiểm phòng giữ bờ cõi, thật là việc làm cần kíp trước nhất. Nay tỉnh lỵ đặt ở Giang Thành, có 3 điều bất lợi : phía trước, phía sau tỉnh lỵ đều là đất nước Chân Lạp bao quanh : mọi rợ quen thói hoảng hốt bất thường, không thể tin cậy được. Trước đây, có lần nhân giặc nổi loạn, tỉnh thần là bọn Phạm Xuân Bích, Trần Văn Quán, thế cô, quân tiếp viện không có, đến nỗi phải quyên sinh : ấy là một việc đã qua chứng nghiệm rõ ràng. Binh pháp gọi là chỗ đất bị vây. ấy là một điều. Địa thế lệch lạc, rừng ở trước mặt, nước kề sau lưng, theo phép xem đất thì nơi ấy không phải là chỗ nên ở. ấy là 2 điều. Tỉnh lỵ ở đấy, thì pháo đài Kim Dữ, việc phòng thủ cửa biển không khỏi chỉ
  • Chia sẻ trang này